Tag Archives: bệnh nhi

Cách sơ cứu khi trẻ bị sặc bột, cháo

Bột hoặc cháo xay nhuyễn có độ quánh rất cao, khi trẻ bị sặc có thể nút lấy toàn bộ đường thở, làm trẻ khó thở, tím tái rồi tử vong ngay sau 5-10 phút. Vì vậy cần sơ cứu ngay khi trẻ bị sặc bột, cháo.

Khi phát hiện trẻ sặc, khó thở, tím tái, nhanh chóng đặt trẻ nằm sấp đầu thấp trên cánh tay.
Dùng lòng bàn tay vỗ mạnh 5 cái liên tiếp vào lưng trẻ, ở vị trí giữa hai xương bả vai.
Sau đó lật trẻ lại quan sát. Nếu trẻ khóc được, hết tím tái, chuyển đến bệnh viện hoặc cơ sở y tế gần nhất để bác sĩ tiếp tục theo dõi.

cach-so-cuu-khi-tre-bi-sac-bot-chao

Khi phát hiện trẻ sặc, khó thở, tím tái, nhanh chóng đặt trẻ nằm sấp đầu thấp trên cánh tay.

Nếu trẻ vẫn còn tím tái, ấn ngực trẻ bằng cách dùng ngón trỏ và ngón giữa ấn vào nửa dưới xương ức, cụ thể là trên xương ức và dưới đường nối hai vú. Ấn mạnh xuống 5 cái liên tiếp, sau đó quan sát, nếu còn khó thở thì làm lại động tác 2. Làm 6 lần liên tiếp, kinh nghiệm cho thấy nếu làm đúng kỹ thuật, chỉ cần làm 1 – 2 lần là dị vật bị tống ra ngoài. Nếu trẻ hồng hào, chuyển đến bệnh viện hoặc cơ sở y tế để bác sĩ tiếp tục theo dõi.

Trường hợp trẻ ngưng tim, ngưng thở, cần nhanh chóng tiến hành thổi ngạt và ấn tim. Thổi ngạt bằng cách để trẻ nằm ngửa, ngửa đầu trẻ ra nhằm làm cho đường thở thông thoáng.

cach-so-cuu-khi-tre-bi-sac-bot-chao1

Dùng lòng bàn tay vỗ mạnh 5 cái liên tiếp vào lưng trẻ, ở vị trí giữa hai xương bả vai.

Sau khi hít một hơi thật sâu, người cấp cứu áp miệng luôn qua mũi + miệng trẻ thổi mạnh vào. Trong lúc thổi, quan sát lồng ngực trẻ có lên xuống hay không, nếu có thì chứng tỏ đã làm đúng kỹ thuật, đường thở thông thoáng. Thổi liên tiếp hai cái.

Ấn tim: dùng 2 ngón cái đặt chồng lên nhau, các ngón khác ôm ngực bé, đặt dưới đường nối hai vú. Ấn 100 lần/phút. Nếu kết hợp thổi ngạt và ấn tim, thực hiện 5 lần ấn tim + 1 lần thổi ngạt (trước đó đã thổi 2 cái). Vừa tiến hành thao tác, vừa chuyển bé đến bệnh viện hoặc cơ sở y tế gần nhất để cấp cứu.

Lưu ý: Trên đường chuyển viện không được lúc nào ngưng ấn tim và thổi ngạt, bởi nếu không làm, não sẽ thiếu ôxy, không cấp cứu được.

Theo sức khỏe đời sống

Viêm phổi ở trẻ vẫn có thể xảy ra trong mùa hè

Viêm phổi là một bệnh đường hô hấp thường gặp ở trẻ nhỏ, nhiều người cho rằng, viêm phổi chỉ xảy ra trong mùa đông tuy nhiên trên thực tế đây là một suy nghĩ hết sức sai lầm. Viêm phổi ở trẻ vẫn có thể xảy ra trong mùa hè và dưới đây là một số lý giải cho kết luận đó.

Những nguyên nhân khiến trẻ bị viêm phổi trong mùa hè

Do thói quen trong ăn uống và vệ sinh trong mùa hè. Thời tiết nóng nực trong mùa hè khiến cho các đồ ăn lạnh được sử dụng nhiều hơn. Điển hình cho các đồ ăn lạnh đó là nước đá, kem, trái cây trong tủ lạnh mà những đồ ăn này cực kỳ hấp dẫn với trẻ nhỏ. Nếu cho trẻ dùng nhiều và liên tục dễ gây viêm họng, và việc điều trị không tốt có thể dẫn tới viêm đường hô hấp nặng hơn và cuối cùng dẫn tới viêm phổi.

Bên cạnh đó, mùa hè trẻ ra nhiều mồ hôi hơn, nếu không chú ý ăn mặc cho trẻ việc lưu giữ mồ hôi trên quần áo có thể khiến trẻ bị nhiễm lạnh. Trong các trường hợp khác, nếu trẻ đang nhiều mồ hôi mà đi tắm ngay dễ gây cảm lạnh và dẫn tới viêm phổi.

viem-phoi-o-tre-van-co-the-xay-ra-trong-mua-he

Vào những ngày nóng bức, nhiệt độ trong phòng cao, không khí nóng bức cũng là khi nhiều gia đình sử dụng tới mức tối đa điều hòa nhiệt độ cả ngày lẫn đêm. Không ai phủ nhận được sự dễ chịu do điều hòa nhiệt độ mang lại, nhưng chính sự lạm dụng đó cũng đã dẫn tới những tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe của trẻ em. Đó là vì sự chênh lệch nhiệt độ giữa phòng lạnh và ngoài trời quá lớn khiến trẻ em khó thích nghi, hơn nữa, việc ngồi trong phòng điều hòa quá lâu khiến da trẻ bị khô, họng khô khiến trẻ dễ bị viêm đường hô hấp trên. Nếu không được chăm sóc tốt cũng có thể làm trẻ bị viêm phổi vì biến chứng.

Mùa hè cũng là mùa gắn liền với những chuyến đi du lịch biển, trẻ em thường được cha mẹ cho đi cùng. Trong khi người lớn thỏa sức ngâm mình trong biển nước sảng khoái thì trẻ nhỏ đặc biệt là trẻ dưới 5 tuổi lai phải đối diện với nguy cơ lớn bị bệnh đường hô hấp. Nắng gió trên những bãi biến là điều kiện không mấy thích hợp nếu trẻ đi chơi nhiều giờ. Thời gian ăn uống ngủ nghỉ của trẻ cũng bị thay đổi trong những ngày nghỉ. Từ những yếu tố trên khiến trẻ bị viêm họng, sốt nóng, ho, chảy nước mũi và có thể dẫn tới viêm phổi. Chính vì vậy khi cho trẻ đi nghỉ cùng, các bậc cha mẹ nên chú ý đến những yếu tố bất lợi cho sức khỏe của trẻ.

Không thể nói rằng, cứ mùa hè thì trẻ bị viêm phổi nhưng nếu không biết cách chăm sóc hợp lý trẻ rất dễ có nguy cơ bị viêm phổi trong mùa hè. Hãy cảnh giác nếu trẻ có biểu hiện sốt nhẹ hoặc sốt cao liên tục, đau họng, ho húng hắng, chảy nước mắt, mũi, khò khè, ăn kém, bỏ bú, quấy khóc…. Nếu không được phát hiện sớm và hỗ trợ điều trị kịp thời thì bệnh sẽ diễn biến nặng hơn, trẻ sốt cao, li bì, ho tăng lên, có đờm, xuất hiện khó thở, thở nhanh, rút lõm lồng ngực, bỏ bú hoặc bú kém, tím môi, tím đầu chi. Ngoài ra có thể bị tiêu chảy, nôn, đau bụng. Nghe phổi có nhiều ran ẩm nhỏ hạt. Có thể có rối loạn tuần hoàn như sốc, trụy tim mạch… Nếu tình trạng này kéo dài sẽ gây thiếu ôxy não, trẻ sẽ li bì hoặc kích thích, co giật.

Đối với các trẻ lớn thì việc nhận biết viêm phổi có thể dễ dàng hơn vì trẻ đã biết kể tình trạng sức khỏe cho cha mẹ và thầy thuốc, còn ở trẻ nhỏ dưới 1 tuổi chỉ là quấy khóc, khó chịu nên dễ nhầm lẫn với tình trạng mọc răng, hay thói quen nhõng nhẽo của trẻ. Vì thế khi thấy trẻ có những dấu hiệu của viêm họng, ho, sổ mũi, quấy khóc, kém vui chơi phải cần chú ý chăm sóc trẻ tốt hơn, nếu các dấu hiệu bệnh qua một ngày mà không thuyên giảm cần phải đưa trẻ đến ngay các cơ sở y tế, tránh những diễn biến nặng của bệnh.

Chú ý chăm sóc và phòng ngừa bệnh cho trẻ

viem-phoi-o-tre-van-co-the-xay-ra-trong-mua-he1

Trong các trường hợp nhẹ, các mẹ có thể nhỏ mũi bằng dung dịch sát khuẩn cho trẻ, cho trẻ súc miệng bằng dung dịch súc họng hoặc nước muối loãng ấm hằng ngày. Có thể tham khảo một số loại kháng sinh theo chỉ định của bác sỹ, tốt nhất nên dùng đường uống, dạng sirô. Khi tình trạng bệnh của trẻ có hướng không thuyên giảm, trẻ cần được chuyển lên tuyến trên, các mẹ không nên tự cho trẻ uống thuốc đặc biệt là các loại thuốc giảm ho, hạ sốt, kháng sinh vì sẽ gây lu mờ triệu chứng của bệnh và rất khó khăn cho chẩn đoán và điều trị.

Trường hợp các triệu chứng viêm phổi nặng hơn, trẻ cần được nhanh chóng đưa đến cơ sở y tế, bác sĩ sẽ chỉ định các thuốc kháng sinh đặc hiệu và thuốc kháng virut (cho những trường hợp viêm phổi do virut). Các bác sỹ sẽ theo dõi chức năng gan, thận để điều chỉnh liều lượng cho phù hợp. Khi trẻ có biểu hiện suy thở thì có thể đặt ống nội khí quản, hô hấp hỗ trợ. Truyền dịch khi trẻ sốt cao kéo dài, biểu hiện mất nước… Cho trẻ ăn lỏng, dễ tiêu, đủ chất.

Để phòng ngừa viêm phổi cũng như các bệnh đường hô hấp cho trẻ, trước hết trẻ cần được vệ sinh sạch sẽ, tránh xa khói thuốc, và khói do đun nấu trong phòng có trẻ nhỏ. Chú ý loại bỏ một số nguyên nhân khiến trẻ bị viêm phổi như đã kể trên, nhỏ mũi cho trẻ hằng ngày bằng nước muối loãng. Cho trẻ cách ly với trẻ bị bệnh để tránh lây lan thành dịch. Nên tiêm chủng phòng bệnh đầy đủ các loại vaccin được sử dụng tại Việt Nam. Trẻ nhỏ cần được bú mẹ đầy đủ ít nhất đến 18 tháng.

Chăm sóc bé bị đau họng đúng cách

Có rất nhiều lý do khiến bé yêu của bạn bị đau họng như bé bị viêm họng, nhiệt miệng, bé mọc răng hoặc bé bị các bệnh tay chân miệng, nhiễm virus cảm cúm hay cảm lạnh, viêm amidan

….Chăm sóc sức khỏe cho trẻ nhỏ không hề đơn giản, đặc biệt với các mẹ mới sinh con lần đầu. Chỉ một chút thay đổi nhỏ trên cơ thể bé yêu thôi cũng đủ để cho các mẹ phải cuống cuồng lo lắng. Dưới đây là một số kiến thức các mẹ có thể tham khảo khi chăm sóc trẻ bị đau họng.

cham-soc-be-bi-dau-hong-dung-cach

Nguyên nhân khiến bé dễ bị đau họng

Như trên đã nói, có nhiều nguyên nhân khiến trẻ nhỏ dễ bị viêm họng. Bé có thể bị đau họng do viêm họng, bé mọc răng, bé bị bệnh tay chân miệng, bé bị cảm cúm, cảm lạnh, viêm amidan.

Bên cạnh đó, những kích thích từ không khí như lông chó, mèo, khói thuốc lá, không khí ô nhiễm, bụi từ cỏ, cây cũng có thể gây ngứa họng và khiến bé mắc những triệu chứng như bị dị ứng.

Cũng không thể loại trừ yếu tố thời tiết, vào dịp không khí quá khô cũng gây cho bé cảm giác khó khăn khi nuốt, đau họng. Còn trường hợp bé có thói quen ngủ há miệng, cổ họng bé sẽ bị khô khi ngủ dậy nhưng sẽ dễ chịu hơn nếu bé uống 1 chút nước ấm.

Dấu hiệu bé bị đau họng cần đi khám

Mẹ cần đưa bé đi khám sớm nếu bé có những dấu hiệu như sau:

Bé bị đau họng kèm theo đau cả khoang miệng, sốt cao.
Cổ họng có những dấu hiệu bất thường như sưng, đỏ, nghi ngờ bé nuốt phải dị vật, hơi thở khó, bé kém bú và quấy khóc nhiều.

Trường hợp khẩn cấp là tình huống bé bị nhiễm khuẩn cổ họng tới mức không thể ăn, uống được bất cứ thứ gì, bé khó thở, sốt cao và bị chảy dãi liên tục. Tuy nhiên, trường hợp này khá hiếm gặp.
Những trường hợp được coi là nguy hiểm khi khám họng của bé thấy có mủ trắng bẩn ở khe, hốc amidan hai bên, sờ thấy hạch dưới hàm cả ha bên, di động, ấn đau, xét nghiệm máu thấy bạch cầu đa nhân trung tính tăng cao.

Chăm sóc khi bé bị đau họng

Cho bé uống một số đồ uống ấm hoặc nước luộc có thể làm dịu cổ họng bị đau. Đồ uống giữ ở nhiệt độ vừa phải, không nên thêm mật ong vào đối với các bé dưới 1 tuổi. Có thể cho bé uống nước lọc hoặc nước táo ép mát.

Trường hợp bé bị đau họng nặng, gần gặp bác sỹ trao đổi về việc sử dụng thuốc điều trị hoặc các phương pháp điều trị phù hợp.

Có thể sử dụng một chiếc máy giữ độ ẩm không khí trong phòng của bé để phòng tránh bị khô, làm dịu cơn đau cho bé.

Cũng nên lưu ý thêm rằng, khi bé bị đau họng không nên cố ép bé ngồi xuống mở to miệng để kiểm tra, cũng không nên tránh ép bé phải ăn, uống vì những điều này có thể làm bé khó thở hơn. Tốt nhất nên đưa bé đi khám sớm.

Điều trị đau họng cho bé

Trường hợp nhẹ, bé nhà bạn có thể được chỉ định điều trị bằng thuốc hoặc không tùy theo từng trường hợp. Trong khoảng thời gian này, bé cần được nghỉ ngơi, chăm sóc bằng các loại thức ăn mềm dễ tiêu hóa (Xem thêm về các loại thức ăn khuyên dùng khi bị đau họng )

Nếu nghi ngờ là nhiễm khuẩn, các bác sỹ có thể chỉ định dùng kháng sinh cho bé. Tùy theo tình trạng từng bé, bác sỹ sẽ kê đơn thuốc cụ thể. Các mẹ nên tuân thủ nghiêm ngặt chỉ định dùng thuốc cho bé, không tự ý ngưng thuốc giữa chừng vì như vậy vi khuẩn có khả năng tấn công trở lại khiến họng của bé bị đau trầm trọng hơn.

Phòng tránh đau họng cho bé

Vệ sinh bàn tay cho bé thường xuyên giảm khả năng bé tiếp xúc với các vi khuẩn gây bệnh. Nếu bé đang ở độ tuổi ăn dặm nên sắm dụng cụ nấu ăn riêng cho bé không dùng chung đồ dùng nấu ăn với người thân trong nhà.

Ngoài ra, các mẹ cũng nên vệ sinh bàn tay của mình thường xuyên, nhất là mỗi lần thay tã cho bé.

Nguồn báo sức khỏe

Dịch sởi – căn bệnh muôn thuở

Sởi là một bệnh truyền nhiễm do virus gây ra và dễ bùng phát thành dịch, thường gặp ở trẻ em. Trẻ em dưới 6 tháng tuổi ít khi mắc sởi vì đang có kháng thể của mẹ truyền qua nhau thai. Sau đó kháng thể của mẹ ở trẻ sẽ giảm dần khi trẻ lớn. Đây là lý do tiêm chủng phòng sởi thường được thực hiện trước 12 tháng.

Các biểu hiện đặc trưng của sởi bao gồm viêm ở kết mạc mắt, niêm mạc đường hô hấp và tiêu hóa, sau đó phát ban đặc hiệu ngoài da, thường để lại nhiều biến chứng nặng cho trẻ em nếu không được điều trị kịp thời. Sau khi tiếp xúc với mầm bệnh, người bệnh thường trải qua giai đoạn ủ bệnh kéo dài từ 10-12 ngày mà không hề có biến chứng. Tiếp theo đó là giai đoạn đặc trưng bởi sốt mức độ nhẹ đến vừa, ho khan, chảy nước mũi, viêm kết mạc mắt.

Phát ban là giai đoạn điển hình nhất của bệnh sởi với triệu chứng phát ban tuần tự trên da. Ban thường xuất hiện đầu tiên ở vùng chân tóc phía sau tai, sau đó xuất hiện ở mặt và lan dần xuống phía dưới trong vòng 24 – 48 giờ. Ban sởi là những ban dạng dát – sẩn hơi nổi lên trên bề mặt da, sờ mịn như nhung và không đau, không hoặc ít ngứa, không sinh mủ.

dich-soi-can-benh-muon-thuo

Phòng bệnh sởi như thế nào

Các biến chứng thường gặp là viêm phổi, viêm tai giữa, viêm thanh quản, viêm não, cam tẩu mã, viêm ruột kéo dài dẫn đến tình trạng tiêu chảy liên tục, loét giác mạc, suy dinh dưỡng. Tiến sĩ Phạm Nhật An, Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết, năm nay sởi có diễn biến rất đặc biệt, biến chứng viêm phổi rất nặng nề. Dù đã điều trị tăng cường miễn dịch, dùng kháng sinh ngay từ đầu nhưng tình trạng bệnh của trẻ vẫn rất nặng.

Khi phát hiện có trẻ mắc sởi, cần cách ly trẻ bệnh với các trẻ lành. Hiện nay có vaccine sởi – quai bị – rubella tiêm phòng cho trẻ mũi đầu khi trẻ được 9 tháng tuổi, mũi thứ hai lúc trẻ lên 4 – 6 tuổi được coi là cách phòng bệnh hữu hiệu nhất.

Để phòng ngừa bệnh hiệu quả người dân cần thực hiện tốt:

– Vệ sinh cá nhân: Đeo khẩu trang khi tiếp xúc với người bệnh và người nghi bị bệnh; Rửa tay bằng xà phòng sau khi tiếp xúc với người bệnh và người nghi bị bệnh; Che miệng khi ho, hắt hơi.

– Vệ sinh môi trường: Tẩy trùng sàn nhà, đồ chơi trẻ em, dụng cụ, vật dụng của người bệnh bằng dung dịch cloramin B.

Theo các bác sĩ chuyên khoa, khi bị bệnh sởi bệnh nhân nên kiêng các loại thức ăn chứa protein gây dị ứng như kiêng dùng các loại thủy sản, cá rô, cá chép, cá hoa vàng, cua, tôm càng, tôm nõn, cá diếc, sò, nghêu, các loại thịt dê, thịt chó, thịt gà, vịt, ngựa, lừa, các loại côn trùng như chấu chấu, kén nhộng, các loại rau kích thích như ớt, rau thơm, các thứ gia vị thơm cay như hoa hồi, bột hạt cải… Ngoài ra, nên kiêng gió, kiêng bẩn, cách ly trẻ, cho trẻ ở phòng thoáng, sáng, tránh gió lùa. Lau người cho trẻ hàng ngày bằng khăn sạch, mềm. Thường xuyên rửa mặt, lau mồm cho bé, thay ga, đệm, quần áo để đảm bảo giữ vệ sinh cho trẻ.

Những trường hợp dễ dẫn đến trẻ bị còi xương

Trẻ em bị còi xương là do cơ thể bị thiếu hụt vitamin D làm ảnh hưởng đến quá trình hấp thu và chuyển hóa canxi và phốt pho (là những chất cần thiết cho sự phát triển của xương). Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 3 tuổi, nguyên nhân chủ yếu là do thiếu ánh sáng mặt trời, do kiêng khem quá mức và chế độ ăn nghèo can xi – phốt pho, những trẻ không được bú mẹ dễ bị còi xương hơn trẻ bú mẹ.

1. Những dấu hiệu chứng tỏ trẻ bị còi xương.

Trẻ hay quấy khóc, ngủ không yên giấc, hay giật mình, ra nhiều mồ hôi khi ngủ.
Xuất hiện rụng tóc vùng sau gáy tạo thành hình vành khăn.
Các biểu hiện ở xương: Thóp rộng, bờ thóp mềm, thóp lâu kín, có các bướu đỉnh, bướu trán (trán dô), đầu bẹp cá trê.
Các trường hợp còi xương nặng có di chứng: chuỗi hạt sườn, dô ức gà, vòng cổ chân, cổ tay, chân cong hình chữ X, chữ O.
Răng mọc chậm, trương lực cơ nhẽo, táo bón.
Chậm phát triển vận động: chậm biết lẫy, biết bò, đi, đứng…
Trong trường hợp còi xương cấp tính: trẻ có thể bị co giật do hạ can xi máu.

nhung-truong-hop-de-dan-den-tre-bi-coi-xuong

2. Những trẻ nào dễ có nguy cơ bị còi xương.

Trẻ đẻ non, đẻ sinh đôi.
Trẻ nuôi bằng sữa bò.
Trẻ quá bụ bẫm.
Trẻ sinh vào mùa đông.

3. Các bà mẹ cần phân biệt: Bệnh còi xương và bệnh còi cọc.

Trẻ còi cọc: Trẻ bị suy dinh dưỡng, có số đo về cân nặng và chiều cao đều thấp hơn trẻ bình thường, cũng có thể kèm còi xương hoặc không.
Bệnh còi xương: Có thể gặp ở cả những đứa trẻ rất bụ bẫm, do nhu cầu về can xi, phốt pho cao hơn trẻ bình thường.

4. Cần phải làm gì khi trẻ bị còi xương.

Cho trẻ tắm nắng hàng ngày: Để chân, tay, lưng, bụng trẻ lộ ra ngoài từ 10-15 phút lúc buổi sáng (trước 9 giờ). Về mùa đông không có ánh nắng cho trẻ đi tắm điện ở khoa lí liệu pháp tại các bệnh viện. Bởi vì dưới da có sẵn các tiền vitamin D là 7 dehydrocholesterol dưới tác dụng của tia tử ngoại của ánh nắng mặt trời các tiền vitamin sẽ bị hoạt hóa chuyển thành vitamin D. Vitamin D có tác dụng điều hòa chuyển hóa và hấp thu canxi, phốt pho, ánh nắng mặt trời phải được chiếu trực tiếp trên da mới có tác dụng, nếu qua lần vải thì sẽ còn rất ít tác dụng.

thieu-vitamin-d-anh-huong-toi-suc-khoe-nhu-the-nao1
Cho trẻ uống vitamin D 4000 UI/ngày trong 4-8 tuần, trong trường hợp trẻ bị viêm phổi, tiêu chảy cần tăng liều 5000 – 10.000 UI/ngày trong 1 tháng, hoặc cho trẻ tiêm Vitamin D 200.000 UI/uống, 3 tháng tiêm nhắc lại một lần trong năm đầu tiên.
Cho trẻ uống thêm các chế phẩm có canxi như: Canxi B1 – B2 – B6: 1-2 ống/ngày, trẻ lớn có thể ăn cốm canxi 1-2 thìa cà phê/ngày

Chế độ ăn uống:

+ Cho trẻ bú mẹ.

+ Ăn bổ sung các loại thực phẩm có chứa nhiều canxi: sữa, cua, tôm, cá trong các bữa ăn hàng ngày. Cần xóa bỏ quan niệm cho trẻ ăn xương ống, xương chân gà sẽ chống được còi xương.

+ Cho dầu mỡ vào bữa ăn hàng ngày của trẻ: vì Vitamin D là loại tan trong dầu, nếu chế độ ăn thiếu dầu mỡ thì dù có được uống vitamin D trẻ cũng không hấp thu được nên vẫn bị còi xương.

5. Muốn phòng bệnh còi xương các bà mẹ cần phải làm gì?

Khi có thai phải làm việc nghỉ ngơi hợp lý để tránh bị đẻ non, có thể uống Vitamin D khi thai được 7 tháng: 600.000UI/3 tuần, mỗi tuần 200.000UI.
Sau đẻ cả mẹ và con không nên ở trong phòng tối và kín, phòng ở thoáng mát và đầy đủ ánh sáng.
Sau khi sinh 2 tuần cho trẻ ra tắm nắng 15-20 phút/ngày vào buổi sáng (trước 9 giờ).
Cho trẻ uống Vitamin D 400UI/ngày trong suốt năm đầu tiên nhất là về mùa đông.
Khi trẻ ăn bổ sung: cho trẻ ăn các loại thực phẩm có chứa nhiều canxi như: sữa, trứng, tôm, cua, cá, rau xanh và dầu mỡ.

PGS.TS. Nguyễn Thị Lâm, ThS. BS. Lê Thị Hải

Phòng bệnh viêm đường hô hấp cho trẻ

Thời tiết thay đổi thất thường, giai đoạn chuyển giữa mùa nóng và lạnh và ngược lại, đặc biệt là nắng nóng oi bức của mùa hè làm cho nhiều loại bệnh xuất hiện ở mọi lứa tuổi nhưng đáng lo ngại nhất là trẻ em; Bởi đây là nhóm đối tượng có hệ miễn dịch còn non nớt, sức đề kháng của trẻ chưa cao. Bệnh viêm đường hô hấp cấp tính, đặc biệt là đường hô hấp dưới là một bệnh đang có xu hướng gia tăng làm cho số trẻ mắc bệnh ngày càng nhiều.

Nguyên nhân viêm đường hô hấp cấp tính do virus thường chiếm tỷ lệ cao. Đặc điểm của viêm đường hô hấp cấp tính do virut thường khởi phát rất rầm rộ như sốt cao, trẻ vật vã, có thể có rối loạn tiêu ho. Hơn nữa viêm đường hô hấp cấp tính do virut dễ gây biến chứng nguy hiểm, nếu không có phương án điều trị kịp thời dễ để lại những biết chứng ảnh hưởng đến sức khỏe, cuộc sống của trẻ sau này.

phong-benh-viem-duong-ho-hap-cho-tre

Khi trẻ mắc bệnh viêm đường hô hấp cấp tính còn liên quan đến thời tiết, đặc biệt là thời tiết thay đổi đột ngột hoặc nắng nóng kéo dài. Chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ, tình trạng sức khỏe của trẻ như trẻ bị còi xương suy dinh dưỡng cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng làm trẻ dễ bị mắc bệnh.

Làm gì để phòng bệnh viêm đường hô hấp cho trẻ?

Khi thời tiết thay đổi đột ngột, nắng nóng, các bậc phụ huynh cần quan tâm chăm sóc trẻ, không cho trẻ ra ngoài khi trời nắng, nhất là lúc nắng gay gắt.

Đối với trẻ lớn, không cho trẻ chơi hoặc không cho trẻ đá bóng ngoài trời lúc còn nắng nóng. Không cho quạt xoáy thẳng vào trẻ khi trẻ chơi hoặc đang nằm ngủ. Không cho trẻ ở trong phòng máy lạnh có nhiệt độ chênh lệch vượt quá xa nhiệt độ trong nhà và ngoài trời (ngay cả trẻ lớn) và cần có chế độ dinh dưỡng tốt cho trẻ. Hạn chế cho trẻ ăn kem hoặc uống nước có đá. Khi nghi trẻ bị sốt cần cặp nhiệt độ cho trẻ, không nên dùng tay của người lớn sờ vào trán của trẻ rồi dự đoán trẻ sốt hay không. Tốt nhất là cặp nhiệt độ ở khoé miệng của trẻ (cần cẩn thận không để trẻ làm vỡ cặp nhiệt độ rất nguy hiểm vì có thủy ngân là một chất rất độc hại) hoặc cặp nhiệt ở hậu môn. Hiện nay cố một số loại nhiệt kế điện tử rất phù hợp với trẻ, cho kết quả nhanh, các bậc phụ huynh có thể lựa chọn dòng sản phẩm này cho gia đình.

Xử lý khi trẻ bị viêm đường hô hấp?

Khi nhiệt độ vượt quá 37,5 độ C cần làm giảm thân nhiệt cho trẻ bằng cách lau nước ấm (nhiệt độ của nước thấp hơn nhiệt độ của trẻ khoảng 2 độ) ở trán, nách, bẹn và cần cho trẻ uống nhiều nước. Nước uống tốt nhất là nước cam, chanh tươi, dung dịch orezol, tùy theo độ tuổi mà cho uống liều lượng thích hợp.

Nếu thấy nhiệt độ của trẻ không thuyên giảm nhưng chưa thể đưa trẻ đi khám bệnh ngay được thì có thể cho trẻ uống thuốc hạ nhiệt loại paracetamol theo liều dùng trung bình là 10 – 15mg/1kg cân nặng của trẻ/lần, cứ sau 4 giờ cho uống 1 lần. Tốt nhất là dùng thuốc paracetamol loại đầu đạn đặt vào hậu môn cho trẻ theo liều lượng: trẻ từ 1 – 4 tháng/tuổi dùng 80mg/lần, trẻ từ 5-24 tháng/tuổi dùng 150mg/lần và cũng sau 4 giờ đặt lại nếu thân nhiệt của trẻ chưa giảm xuống.

Cần theo dõi nhiệt độ của trẻ bằng cách cặp nhiệt độ, nếu nhiệt độ vẫn không thuyên giảm, thậm chí còn tăng lên; trẻ mệt mỏi, quấy khóc nhiều thậm chí có khó thở, môi tím tái và có thể có rối loạn tiêu hoá như nôn, buồn nôn, tiêu chảy thì nguy cơ trẻ có thể mắc bệnh viêm đường hô hấp cấp tính, cần khẩn trương cho trẻ đi khám bệnh ở cơ sở y tế gần nhất càng nhanh càng tốt và không nên tự mua thuốc kháng sinh cho trẻ uống.

Làm gì để trẻ tăng cường sức đề kháng – phòng tránh tái phát?
1. Súc miệng nước muối loãng: Nếu bé nhà bạn khoảng 1-3 tuổi, bạn có thể pha nước muối loãng, lấy khăn xô nhúng vào nước rồi lau răng, kẽ răng, lưỡi, lợi cho bé. Nếu bé khoảng 3-5 tuổi, bạn có thể pha nước muối loãng cho bé súc miệng để diệt khuẩn, virut gây bệnh cúm, viêm đường hô hấp và các bệnh răng miệng….vào buổi sáng sau khi ngủ dậy và buổi tối sau khi ngủ.
2. Uống nước ấm: Cho trẻ uống nước ấm vào buổi sáng sớm sau khi ngủ dậy để cổ họng bé không bị khô rát.
3. Không nên mở rộng ngay cửa sổ, cửa phòng lúc sáng sớm vì gió sáng rất lạnh và vẫn còn độc, có thể thổi vào người bé khiến bé bị ho, viêm họng.
4. Mặc ấm cho bé vào buổi sáng và tối, cần thiết có thể quàng khăn mỏng cho bé.
5. Bổ sung vào chế độ dinh dưỡng của trẻ thêm rau xanh chứa nhiều vitamin A, C, chất khoáng. Cho trẻ ăn thêm cá, thịt và đặc biệt không thể thiếu sữa mẹ. Bạn có thể cho trẻ uống nhiều nước một ngày để bù nước.
6. Hạn chế cho trẻ ra ngoài khi trời nắng gắt. Nếu có cho trẻ ra ngoài, bạn phải đội mũ kín mặt, kín đầu cho trẻ, mặc áo dài tay trùm cả người bằng chất liệu mát để nắng không chiếu được vào người trẻ. Bạn có thể cởi bớt áo chống nắng khi bé đã vào chỗ râm mát nhưng không cởi quá nhiều, tránh bé bị lạnh đột ngột.
7. Không cho quạt quay trực tiếp vào người, mặt trẻ cả ban ngày lẫn ban đêm.
8. Không cho trẻ uống nước đá, ăn kem vì đó là những thứ dễ gây viêm hong nhất.
9. Không nên cho trẻ đến những chỗ đông người ngột ngạt, có khói thuốc lá.
10. Tiêm phòng vacxin để phòng chống các loại bệnh cho trẻ.
11. Bổ xung Thymomodulin cho bé với lượng 5ml/ngày giúp bé có hệ miễn dịch khỏe mạnh, tăng cường sức đề kháng!

Nguồn sức khỏe

Rửa tay sạch sẽ giúp loại bỏ những vi khuẩn gây hại cho trẻ

Bàn tay không sạch sẽ là nguy cơ của các ổ bệnh, cụ thể cứ mỗi 1cm2 trên bàn tay “không sạch” có thể chứa hàng triệu vi khuẩn và rất nhiều tác nhân gây bệnh khác. Vì vậy nếu phụ huynh không chú ý giúp trẻ luôn giữ sạch đôi tay thì khả năng trẻ thường xuyên bị mắc bệnh là điều khó tránh.

Theo thống kê của tổ chức UNICEF, tại Việt nam chỉ có 12% số người dân có thói quen rửa tay bằng xà phòng và nước sạch trước khi ăn, và chỉ có 16% rửa tay bằng xà phòng sau khi đi nhà vệ sinh. Đây chính là nguyên nhân khiến người dân, đặc biệt là trẻ em dễ bị mắc các bệnh nhiễm khuẩn qua đường hô hấp và tiêu hóa như tiêu chảy, tả, lỵ, nhiễm giun sán, nhiễm cúm… đặc biệt là bệnh tay chân miệng đang gây nhiều lo lắng và hoang mang cho các bậc làm cha, mẹ.

Bàn tay không sạch sẽ là nguy cơ của các ổ bệnh, cụ thể cứ mỗi 1cm2 trên bàn tay “không sạch” có thể chứa hàng triệu vi khuẩn và rất nhiều tác nhân gây bệnh khác. Một thực tế đáng báo động là có tới 74% số bà mẹ có con dưới 5 tuổi không rửa tay sạch bằng xà phòng trước khi cho trẻ ăn hoặc cho trẻ bú.

phong-benh-rua-tay

Lợi ích thiết thực của thói quen rửa tay sạch sẽ

Trong thời gian qua, rất nhiều căn bệnh nguy hiểm vẫn chưa có vắc-xin phòng bệnh, do đó việc tạo thói quen rửa tay sạch sẽ đúng cách được xem là việc làm cần thiết của tất cả mọi người. Trong đó, trẻ nhỏ được xem là đối tượng nguy cơ cao bởi hệ miễn dịch của trẻ còn rất non yếu nên dễ bị vi khuẩn và các tác nhân gây bệnh khác tấn công. Nhận thức đúng đắn về việc giữ sạch đôi tay của trẻ là điều thiết thực nhất vì một cuộc sống tốt đẹp hơn cho trẻ trong tương lai.

Theo nhiều báo cáo về kiểm soát nhiễm khuẩn trong và ngoài nước các bệnh truyền nhiễm đã và đang diễn ra trong cộng đồng hoàn toàn có thể phòng ngừa được bằng cách giữ gìn vệ sinh cá nhân tốt, trong đó có việc rửa tay sạch sẽ đúng cách bằng xà phòng với nước sạch.

Kết quả nghiên cứu cho thấy với một thói quen “rất đời thường” là rửa tay thường xuyên sạch sẽ đã làm giảm tới 35% khả năng lây truyền vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy, chính là nguyên nhân gây tử vong cho hàng triệu người mỗi năm trên toàn thế giới. Việc rửa tay cũng có thể làm giảm rủi ro nhiễm khuẩn tiêu chảy tới 47%, giảm đáng kể tình trạng nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp từ 19 – 45% và phòng ngừa rất hiệu quả căn bệnh tay chân miệng ở trẻ em.

Các nghiên cứu gần đây cho thấy, bàn tay của một người có thể mang tới 4,6 triệu mầm bệnh. Ngày 12/10/2007, Vụ Điều trị Bộ Y tế đã ban hành công văn số 7517/BYT-ĐTr hướng dẫn về Quy trình rửa tay thường quy.
Thời điểm cần thiết rửa sạch đôi bàn tay cho trẻ

Trẻ cần được phụ huynh nhắc nhở rửa tay sạch sẽ vào 5 thời điểm quan trọng sau đây:
Sau khi trẻ sử dụng nhà vệ sinh.
Sau khi trẻ chơi đùa, nghịch ngợm trên đất, cát.
Sau khi trẻ tiếp xúc với bất kỳ đối tượng nào nghi ngờ đang bị nhiễm bệnh.
Sau khi trẻ ho, hắt hơi hoặc sổ mũi làm dính các chất dịch tiết trên đôi bàn tay.
Trước khi vào bữa ăn.

Rửa tay sạch sẽ đúng cách

Quy trình rửa tay thường quy đã được Bộ Y tế khuyến cáo áp dụng, gồm 6 bước cơ bản sau đây:

Bước 1:làm ướt 2 lòng bàn tay bằng nước. Lấy xà phòng và chà 2 lòng bàn tay vào nhau.

Bước 2: chà lòng bàn tay này lên mu và kẽ ngoài các ngón tay của bàn tay kia và ngượclại.

Bước 3: chà 2 lòng bàn tay vào nhau, miết mạnh các kẽ trong ngón tay.

Bước 4: chà mặt ngoài các ngón tay của bàn tay này vào lòng bàn tay kia.

Bước 5: dùng bàn tay này xoay ngón cái của bàn tay kia và ngược lại.

Bước 6: xoay các đầu ngón tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại. Rửa sạch tay dưới vòi nước chảy đến cổ tay và làm khô tay.

Chú ý: mỗi bước “chà” 5 lần. Thời gian rửa tay tối thiểu 30 giây.

Theo sức khỏe

Phát hiện tự kỷ từ 6 tháng tuổi

Những sự thay đổi ở não trẻ từ 6 tháng tuổi có thể là dấu hiệu cảnh báo sớm cho chứng tự kỷ, cho phép can thiệp sớm nhất để giảm thiểu ảnh hưởng ở trẻ.

Trong quá trình nghiên cứu cách não phát triển trong giai đoạn đầu đời của trẻ, các chuyên gia của Đại học North Carolina (Mỹ) phát hiện các vùng chất trắng đảm trách nhiệm vụ liên kết các khu vực khác nhau của não đã không hình thành sớm ở trẻ sau này bị chứng tự kỷ so với trẻ phát triển bình thường. Sự thay đổi này trầm trọng hơn ở trẻ sau này phát bệnh tự kỷ, theo chuyên gia Jason Wolff đang nghiên cứu về những bất thường trong quá trình phát triển. Ngược lại, ở não của trẻ bình thường, các vùng chất trắng hình thành một cách nhanh chóng. Theo đó, bộ não tự tổ chức với tốc độ khá nhanh.

tu-ky

Kết quả nghiên cứu đăng trên chuyên san American Journal of Psychiatry cho thấy trong năm đầu đời của trẻ, có khả năng can thiệp hoặc thậm chí phá vỡ tiến trình phát triển của chứng tự kỷ trước khi nó mọc rễ bên trong não. “Rất có khả năng cải thiện hậu quả cho những trẻ không may”, theo chuyên gia Wolff. Ông khẳng định năm đầu tiên là giai đoạn quan trọng trong quá trình phát triển của não bộ, và cũng là lúc các triệu chứng đầu tiên của chứng tự kỷ bắt đầu xuất hiện. Trong cuộc nghiên cứu, các chuyên gia theo dõi sự phát triển não của 92 trẻ sơ sinh khi chúng mới được 6 tháng, và khi 1 – 2 tuổi. Tất cả đối tượng đều có anh chị bị tự kỷ và kết quả cho thấy chúng đối mặt với nguy cơ bị chứng rối loạn này cao hơn.

Các chuyên gia đã sử dụng phương pháp quét não tân tiến gọi là DTI, một dạng quét MRI nhưng cho phép theo dõi những sự thay đổi trong tổ chức não của đối tượng theo thời gian. Khi đối tượng được 2 tuổi, có đến 28 trẻ bị tự kỷ trong khi 64 em may mắn thoát khỏi số phận giống như anh chị. Từ đó nhóm của ông Wolff xác định được những dấu hiệu ban đầu của chứng rối loạn nguy hiểm trên. Các nghiên cứu trước đó xác định được những sự khác biệt về thể tích não ở trẻ 2 tuổi, và những nhà nghiên cứu khác cũng đã theo dõi các vùng chất trắng ở trẻ lớn hơn đã phát chứng tự kỷ, nhưng chưa có nhóm nào kiểm tra cấu trúc trên ở trẻ mới 6 tháng tuổi như đội của chuyên gia Wolff. Thực tế có quá nhiều vùng chất trắng bị ảnh hưởng cho thấy tự kỷ là hiện tượng của toàn bộ não chứ không ảnh hưởng riêng lẻ một hay hai khu vực nào.

Về câu hỏi điều gì đã gây nên tình trạng khác biệt trong phát triển não, chuyên gia Wolff cho rằng còn quá sớm để có thể xác định được. Tuy nhiên, nhiều cuộc nghiên cứu đã đưa ra cùng một kết luận về sự tương tác phức tạp giữa các gien, cũng như cảm nhận và kinh nghiệm của đứa trẻ đối với thế giới. Và trong khi việc quét não đã giúp phơi bày sự khác nhau giữa trẻ sẽ bị tự kỷ và trẻ khỏe mạnh, chuyên gia Wolff cho biết nhóm của ông không đề nghị sử dụng biện pháp này trong việc chẩn đoán rối loạn ở trẻ mới 6 tháng tuổi. Thay vào đó, phát hiện trên cho phép giới chuyên gia hiểu rõ hơn về sự phát triển của chứng tự kỷ. Theo ông Wolff, trẻ con không đột ngột rơi vào tình trạng tự kỷ mà nó có hẳn một quá trình giống như ủ bệnh trước khi đối tượng thực sự rơi vào vòng xoáy không lối thoát của chứng rối loạn này.

Theo TNO

Điều trị đau mắt đỏ cho bé

Để ngừa đau mắt đỏ do nhiễm khuẩn, cần giúp bé rửa tay với xà bông và nước ấm thường xuyên. Không để bé dùng chung thuốc nhỏ mắt, khăn mặt, tăm bông vệ sinh mắt, khăn giấy, gối đầu với người khác.

Đảm bảo rửa tay của bạn thật sạch sau khi chạm vào mắt bị bệnh của bé. Vứt bỏ tăm bông, gạc y tế khi chúng đã được sử dụng. Khăn mặt và khăn xô bé từng dùng phải được ngâm nước nóng và để riêng để tránh truyền bệnh.

dau-mat-do

Để tránh đau mắt đỏ do dị ứng, hãy đóng cửa sổ và cửa chính khi không khí ô nhiễm. Lau chùi và dùng máy hút bụi thường xuyên để giảm thiểu yếu tố gây dị ứng trong nhà.

Đau mắt đỏ do dị ứng được ngăn ngừa bằng cách tránh các yếu tố gây kích thích.

Nhiều trường hợp, đau mắt đỏ ở bé được phòng tránh bằng khám và điều trị bệnh lây truyền qua đường tình dục cho mẹ trong thai kỳ.

Điều trị

Nhóm người mẹ mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục; nhiễm vi khuẩn hoặc virus trong quá trình sinh nở thì bé có thể mắc chứng đau mắt đỏ.

Để phòng tránh hiện tượng này, bác sĩ thường dùng thuốc nhỏ mắt kháng sinh, vệ sinh mắt bé ngay sau khi chào đời. Tuy nhiên, một số trường hợp, thuốc nhỏ mắt chứa kháng sinh có thể gây viêm màng kết cho bé.

Bác sĩ khuyến cáo, phụ nữ trước khi có ý định mang thai nên khám và điều trị dứt điểm các bệnh phụ khoa (nếu có) để tránh lây nhiễm cho bé.

Đau mắt đỏ do virus thường tự khỏi mà không cần điều trị. Nếu nghi ngờ đau mắt đỏ do nhiễm khuẩn, bác sĩ sẽ chỉ định cho bé dùng thuốc mỡ (thuốc nhỏ mắt) chứa kháng sinh.

Đôi khi, việc đếm số giọt thuốc nhỏ mắt cho bé đúng theo chỉ định của bác sĩ là khó khăn. Vì thế, bạn hãy đặt đầu lọ thuốc vào góc trong của mắt bé (khi bé đã nhắm mắt); sau đó, khi bé mở mắt, thuốc sẽ từ từ chảy vào trong.

Nếu vẫn khó khăn, bạn nên yêu cầu bác sĩ cho thuốc mỡ nhỏ mắt cho bé. Thuốc mỡ được quết trên mí mắt (mắt đã nhắm) rồi khi thuốc tan, nó sẽ chảy vào trong mắt. Nếu bé bị đau mắt đỏ do dị ứng, bác sĩ sẽ kê thuốc chống dị ứng cho bé, gồm thuốc uống và thuốc nhỏ mắt.

Một chiếc gạc mát (hoặc ấm) sẽ khiến đôi mắt bị đau của bé dễ chịu. Bạn có thể vệ sinh góc mắt bị bệnh cho con cẩn thận với nước ấm và đầu tăm bông. Cách này cũng loại bỏ nhử ướt và nhử khô khiến mắt bị dính chặt vào buổi sáng.

Thời điểm nên đưa bé đi khám

Nếu bạn nghi bé bị đau mắt đỏ, cần đưa bé đi khám ngay. Bác sĩ sẽ quyết định nguyên nhân và cách điều trị. Nếu bé kêu bị đau mắt, thay đổi thị giác, nhạy cảm với ánh sáng, bạn cũng cần đưa con đi khám sớm. Nếu đau mắt đỏ không cải thiện sau 2-3 ngày điều trị thì cũng cần đưa con đi khám.

Nếu đôi mắt bị đau ở bé bắt đầu sưng, đỏ và mềm ở mí mắt và khu vực quanh mắt, kèm sốt, hãy đưa bé đi khám. Những triệu chứng này cho thấy nhiễm khuẩn đã đi xa hơn bệnh đau mắt đỏ và cần điều trị thêm.

Bệnh vẹo cột sống ở trẻ em

Trẻ em bị vẹo cột sống thường do mang vác nặng lệch về một phía, trẻ phải lao động quá sức sớm, trẻ ngồi học hay sinh hoạt không đúng tư thế… Khi trẻ bị vẹo cột sống thì khả năng phục hồi khó, việc điều trị cần phải kiên trì, khoa học và cần có thời gian dài.

Bệnh tật lứa tuổi học sinh phổ thông đang có chiều hướng gia tăng gây lo lắng cho các bậc phụ huynh. Đáng ngại hơn khi biết rằng, nguyên nhân chính gây bệnh cho các em bắt nguồn từ việc học tập tại nhà trường. Trong đó, bệnh cận thị đã ngày càng tăng đến mức có thể nói “vào trường gặp… đít chai”. Tuy nhiên, nghiên cứu mới đây còn phát hiện thêm những căn bệnh khác như lệch vai, vẹo cột sống.

veo-cot-song

Kết quả điều tra ở Việt Nam cho thấy : Tỷ lệ học sinh bị vẹo cột sống ở nội thành tăng dần theo cấp học; số trẻ bị vẹo cột sống ở ngoại thành và hải đảo bao giờ cũng cao hơn khu vực nội thành trên tất cả các tiêu chí so sánh.

Theo các bác sỹ chuyên khoa, các nhà khoa học giáo dục thì những yếu tố sau đây chính là lý do phát sinh gây bệnh vẹo cột sống: do trẻ bị mang vác nặng lệch về một phía, trẻ phải lao động quá sức sớm, trẻ ngồi học hay sinh hoạt không đúng tư thế, bàn, ghế và ánh sáng không đảm bảo đúng tiêu chuẩn cho trẻ khi học bài tại trường cũng như tại gia đình.

Đáng tiếc là từ nhiều năm qua, ngành Giáo dục trên phạm vi cả nước, hầu như chưa có nơi nào thực sự quan tâm đến những khả năng gây tác hại xấu đến sức khoẻ của học sinh. Nhiều áp lực về học hành, lao động với cường độ cao đè nặng lên đôi vai trẻ nhỏ nhưng lại chưa được nhìn nhận, đánh giá, phân tích bằng nhãn quan khoa học, tâm, sinh lý lứa tuổi.

Đến nay, khi mà đất nước đã không ngừng phát triển, công tác giáo dục tại các nhà trường đã bắt đầu tiếp cận bằng nhãn quan khoa học thì chúng ta vẫn chưa xây dựng được cái tạm gọi là “tác phong học đường” cho các em. Vì vậy, những thói quen tệ hại trong quá trình học tập ở trường cũng như tại nhà đã không được ai uốn nắn, hoặc không biết gì để điều chỉnh.

Căn bệnh đi từ không đến có, từ ít đến nhiều. Và chỉ khảo sát sơ bộ thôi đã có tới gần 5% số học sinh mắc bệnh vẹo cốt sống. Nếu không có các giải pháp điều chỉnh kịp thời, con số này sẽ gia tăng nhanh chóng.

Thật đáng lo lắng khi biết rằng, cong vẹo cột sống làm trục của hệ xương thay đổi, ảnh hưởng đến sức khỏe, khả năng học tập, lao động và đối với các bé gái còn bị lệch xương chậu, ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản sau này.

Về mặt lâu dài là di truyền, ảnh hưởng xấu đến… giống nòi. Mặt khác, bệnh vẹo cột sống tiến triển âm thầm, kéo dài nhiều năm và bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố, nguy cơ. Khi đã mắc thì khả năng phục hồi khó, việc điều trị lại cần phải kiên trì, khoa học và cần có thời gian dài. Nhất là sự điều chỉnh những thói quen đã nhiễm sâu thành hành vi thường ngày của từng học sinh.

Thay đổi hành vi khi còn chưa muộn

Từ phát hiện mang tính khảo nghiệm này, cần phải tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng, yếu tố nguy cơ gây vẹo cột sống – giải pháp phòng ngừa phục hồi chức năng cột sống cho học sinh”.

Xét từ những giải pháp mà đề tài đưa ra, thì việc khắc phục mới chỉ dừng lại ở khoa học thực nghiệm, lấy hành vi điều chỉnh hành vi, lấy những quy định mang tính bắt buộc để thay đổi thói quen. Ví dụ: bàn, ghế đúng quy cách, chỗ ngồi học đủ ánh sáng, không mang vác nặng, luyện tập thể dục vừa sức thường xuyên…

Tuy vậy, như đã nói, đây là việc không dễ vì thói quen là thứ khó thay đổi nhất nếu chỉ thực hiện theo kiểu minh họa cho đề tài và đề tài chỉ là một công trình nghiên cứu khoa học xa rời cuộc sống. Vì vậy, quá trình thực hiện đề tài, đề nghị các tác giả cần tiếp tục chứng minh bằng lý luận khoa học vì sao việc thay đổi hành vi học đường phải làm như thế này mà không làm thế khác.

Bên cạnh đó, ngành Giáo dục, các nhà trường, các bậc phụ huynh cũng cần thay đổi ngay nhận thức, tập trung thành mối quan tâm hơn về đầu tư cơ sở vật chất đủ tiêu chuẩn tại các nhà trường, trong gia đình nhằm cung cấp cho các em những điều kiện học tập tốt nhất, khoa học nhất mà không hề ảnh hưởng đến sức khỏe nói chung và cột sống nói riêng. Đừng để trẻ em hôm nay… “ông cụ” ngày mai.

Trẻ bị vẹo cột sống sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển cơ thể, chậm phát triển về chiều cao, về lâu dài có thể gây biến dạng khung ngực, khung chậu, ảnh hưởng đến tim – phổi.

Cách phát hiện trẻ bị vẹo cột sống: Cho trẻ cởi trần, cúi lưng, ngón tay trỏ chạm đầu ngón chân. Người quan sát đứng ở phía sau thấy gù ở một bên lưng thì đưa trẻ đến cơ sở y tế khám. Sau đó trẻ được tái khám 3 – 6 tháng một lần và theo dõi tiếp tục cho đến tuổi dậy thì.

Việc điều trị vẹo cột sống cho trẻ cần nhiều thời gian và phối hợp nhiều phương pháp: vật lý trị liệu kết hợp thể dục liệu pháp (bơi lội, đu xà) và tùy theo mức độ nặng nhẹ của độ cong vẹo cột sống mà có thể dùng áo nẹp cột sống để hỗ trợ hay phải can thiệp phẫu thuật chỉnh hình. Để phòng ngừa vẹo cột sống, nên hướng dẫn trẻ ngồi học ngay ngắn, đúng tư thế (ngồi thẳng lưng, 2 bàn chân đặt xuống sàn, hai khuỷu tay đặt thoải mái trên mặt bàn, không rụt cổ, không để vở chéo 25 độ khi viết). Không cho trẻ mang cặp quá nặng.

Chăm sóc trẻ và cách ngăn chặn bệnh tay chân miệng

Trong những ngày gần đây, tại khoa nhi của các bệnh viện Nhi Trung ương, Bệnh viện Bạch Mai,…liên tục tiếp nhận trẻ mắc bệnh tay châm miệng. Theo các bác sĩ, bệnh tay chân miệng đang có xu hướng gia tăng. Tuy nhiên, nhiều bậc phụ huynh vẫn chưa biết cách chăm sóc khiến trẻ bị bệnh nặng thêm.

Bệnh tay chân miệng tại Việt Nam được ghi nhận từ năm 2003 với ca bệnh đầu tiên là ở TP HCM. Từ năm 2011 đến nay, số người mắc bệnh này không ngừng gia tăng và có tỷ lệ tử vong cao. Căn bệnh này đứng thứ 2 về số người nhiễm mắc cao trong số 10 bệnh truyền nhiễm và có tỷ lệ tử vong thứ 3 sau bệnh dại và sốt xuất huyết. Hiện chưa có văcxin phòng bệnh cũng như thuốc điều trị đặc hiệu và Bộ Y tế đang đề xuất nghiên cứu sản xuất và thử nghiệm vắc xin phòng chống bệnh tay chân miệng tại Việt Nam.

tay-chan-mieng

Bệnh xảy ra quanh năm, tăng cao từ tháng 2 – tháng 4 và từ tháng 9 đến tháng 12 trong năm. Bệnh lây nhanh từ trẻ này sang trẻ khác từ các chất tiết mũi, miệng, phân, nước bọt.

Phát hiện sớm bệnh tay chân miệng

Triệu chứng bắt đầu xuất hiện sau khi nhiễm virus từ 3 – 6 ngày. Biểu hiện sớm nhất của bệnh là mệt mỏi, sốt nhẹ (38 – 38,5 độ C), đau họng, sổ mũi diễn ra trong vài ngày.

Tiếp theo bệnh chuyển sang giai đoạn toàn phát. Đầu tiên là sự xuất hiện các mụn nước ở niêm mạc miệng, thường là ở mặt trong má, lợi, mặt bên của lưỡi; các mụn nước có kích thước nhỏ (2 – 3mm) nằm trên một nền niêm mạc viêm đỏ. Các mụn nước trong miệng thường dập vỡ rất nhanh tạo ra các vết trợt loét rất đau rát làm bệnh nhân khó ăn uống.

Sau đó, xuất hiện các mụn nước, bọng nước ở bàn chân, bàn tay, đôi khi gặp cả mụn nước, bọng nước ở mông. Các mụn nước, bọng nước này thường không gây đau rát; chúng tồn tại trong vòng 7 đến 10 ngày rồi xẹp xuống và tự mất đi kể cả khi không được điều trị. Bệnh nhân có khả năng lây bệnh cho người khác qua đường hô hấp trong 1 tuần đầu bị bệnh. Bệnh nhân còn có khả năng đào thải virus qua phân trong vòng vài tuần sau.

Khi khỏi bệnh, cơ thể trẻ có miễn dịch với chủng virus gây bệnh, nhưng một người có thể bị bệnh tay chân miệng nhiều lần nếu lần sau bị nhiễm các chủng virus khác với những lần trước. Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 10 tuổi, tuy nhiên người lớn chưa có miễn dịch với bệnh cũng có thể mắc bệnh.

Biểu hiện của bệnh

Thời gian ủ bệnh: Từ 3 – 6 ngày.
– Sốt: Có thể sốt nhẹ thoáng qua, cũng có thể sốt cao tới 39 – 40 độ C.
– Đau họng, chảy nước bọt liên tục.
– Biếng ăn hoặc bỏ ăn.
– Khó ngủ, quấy khóc, run chi, giật mình nhiều một cách bất thường.
– Tổn thương da, niêm chủ yếu nằm ở miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối mông.
– Tổn thương ở miệng, đa số là những vết loét đỏ (do các bóng nước vỡ ra), đường kính 2 – 3 mm ở vòm họng, niêm mạc má, nướu răng, lưỡi.

Tổn thương ở da, thường là bóng nước, có đường kính 2 – 10 mm, hình bầu dục hoặc hơi tròn, nổi cộm hay ẩn dưới da trên nền hồng ban, không đau, khi bóng nước khô để lại vết thâm trên da.

Để phòng ngừa bệnh tay chân miệng, khuyến cáo mới nhất của Bộ Y tế nhấn mạnh đến việc tăng cường sức đề kháng để cơ thể luôn duy trì một hệ miễn dịch tốt, chủ động phòng bệnh tốt hơn. Chúng ta có thể tuân thủ chế độ sinh hoạt và dinh dưỡng, tăng cường đề kháng mỗi ngày theo các phương pháp như sau:

– Vệ sinh cá nhân: Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng
– Vệ sinh ăn uống: Cần đảm bảo đủ chất dinh dưỡng; ăn chín, uống sôi; vật dụng ăn uống phải đảm bảo được rửa sạch sẽ trước khi sử dụng
– Tăng cường sức đề kháng cho cả gia đình (gồm người lớn và trẻ nhỏ) bằng cách ăn uống đủ chất, bổ sung vitamin C hàng ngày (thông qua thực phẩm và dược phẩm an toàn).
– Vệ sinh sạch sẽ nơi sinh hoạt và đồ vật gia đình: Thường xuyên lau sạch bề mặt vật dụng thường ngày bằng xà phòng hoặc các chất tẩy rửa thông thường.
– Quản lý phân: Sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh, phân, chất thải của trẻ phải được thu gom, xử lý và đổ vào nhà tiêu hợp vệ sinh.
– Theo dõi phát hiện sớm, đưa ngay đến các cơ sở y tế để điều trị kịp thời và tổ chức cách ly, điều trị các trường hợp mắc bệnh, hạn chế sự lây lan.

Tăng cường giám sát dịch tay chân miệng đầu năm học

Ngày 30/8, Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế) cho biết đã chỉ đạo ngành y tế các địa phương phối hợp với ngành giáo dục tăng cường kiểm tra, giám sát công tác phòng chống dịch bệnh trường học nhân dịp khai giảng năm học mới. Trong đó chú trọng phòng ngừa dịch bệnh tay chân miệng, vốn rất dễ bùng phát với các chùm ca bệnh.

Theo Cục Y tế dự phòng, từ đầu năm đến nay đã ghi nhận 37.788 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng, trong đó có 13 trường hợp tử vong tại 9 tỉnh, thành phố. Tại TP HCM, từ đầu năm đến nay cũng đã ghi nhận một ca tử vong do mắc tay chân miệng. Hiện Trung tâm Y tế dự phòng TP HCM đã triển khai công tác dự phòng đến các địa bàn quận huyện, giám sát chặt chẽ công tác y tế học đường để chính thức bước vào năm học mới.

Theo Vnmedia

Tìm hiểu kỹ hơn về những bệnh hô hấp

Phòng bệnh các khoa hô hấp tại các bệnh viện (BV) nhi ở TP.HCM chật cứng với 3, 4 bé nằm chung giường, nhiều phụ huynh phải tìm chỗ nằm cho con ở lối đi hai hành lang.

Tận dụng chút diện tích ít ỏi ở hành lang khoa Hô hấp, BV Nhi đồng 1 TP.HCM, anh Quân (45 tuổi, ở Long An) phải vừa quạt vừa dỗ con là bé Minh Khôi (31 tháng tuổi) nín khóc. Nhập viện hai ngày trước để điều trị suyễn nhưng vì phòng bệnh đã quá tải nên anh phải kiếm một chỗ ngoài hành lang để cho con nằm.
Ngày 12.8, khoa Hô hấp, BV Nhi đồng 1 vẫn “nghẹt thở” với số bệnh nhi đang nằm điều trị lên đến 355 trẻ trên tổng số 100 giường. Trung bình một ngày có 40 – 50 bệnh nhi nhập viện, tăng gấp đôi so với những ngày thường.

truyen-nhiem-ho-hap-cap

Các bệnh hô hấp nhập viện điều trị chủ yếu là viêm tiểu phế quản và viêm phổi. Ngoài ra, trẻ bị suyễn nhập viện gia tăng, có nhiều trường hợp bị suyễn nặng. Trong khi đó, BV Nhi đồng 2 cũng trong tình trạng quá tải. Bác sĩ (BS) Trần Thị Thu Loan, Trưởng khoa Hô hấp, BV Nhi đồng 2 cho biết, bệnh hô hấp đang vào mùa, số lượng trẻ nhập viện tại khoa đang gia tăng mạnh. Tính chung trẻ điều trị thường và nằm dịch vụ thì khoa Hô hấp hiện có khoảng 400 trẻ đang nằm viện nhưng chỉ có 150 giường bệnh, tăng gấp đôi so với những ngày bình thường.
Cũng theo các BS, từ tháng 8, bệnh hô hấp vào đợt cao điểm, đến tháng 10 bệnh sẽ tăng lên đỉnh điểm nên tình trạng quá tải sẽ còn kéo dài.
BS Trần Anh Tuấn, Trưởng khoa Hô hấp, BV Nhi đồng 1 cho biết, để giảm sức ép quá tải, BV tăng cường điều trị ngoại trú và lọc bệnh phòng khám để sàng lọc các trường hợp nhập viện, giảm quá tải cho một số khoa như khoa hô hấp. Toàn BV, chỉ có khoảng 5% bệnh nhi được sàng lọc để nhập viện trong tổng số khám tại phòng khám. Hiện, BV lên phương án chuyển bớt bệnh nhi hô hấp thể nhẹ qua các khoa khác hỗ trợ thêm.
Để ý dấu hiệu nguy hiểm
Theo BS Loan, thời tiết chuyển từ nắng qua mưa nhiều là điều kiện thuận lợi để vi rút, vi trùng sinh sôi nhiều, ảnh hưởng đến sức đề kháng của trẻ làm bé khó thích nghi, dễ mắc các bệnh về đường hô hấp. Ngoài ra, mùa này trẻ nhập học trở lại nên khả năng lây lan bệnh cao hơn.

BS Tuấn lưu ý, với trẻ dưới 2 tháng tuổi, khi thấy trẻ có biểu hiện bỏ bú, bú kém (bú ½ lượng sữa bình thường trẻ bú), ở trẻ lớn hơn 2 tháng tuổi nếu không uống được, nôn tất cả mọi thứ trẻ ăn, ngủ li bì khó đánh thức thì cần nhanh chóng đưa trẻ nhập viện. Nếu trẻ ho kéo dài hơn 1 tuần, khó thở, thở nhanh hơn bình thường hoặc thở co lõm lồng ngực thì nên đưa trẻ đi khám ngay. BS Tuấn khuyên, phải giữ ấm trẻ đúng mức và linh hoạt, giữ ấm khi trời lạnh và tạo cảm giác thoáng mát khi trời nắng trở lại. Phụ huynh cần sử dụng quạt máy đúng cách, vệ sinh nhà cửa sạch sẽ, vệ sinh tay sạch sẽ khi chăm sóc trẻ.
Mặt khác, không nên cho trẻ nhỏ, đặc biệt trẻ dưới 2 tháng tuổi tiếp xúc với người bị cảm ho, dù là cảm ho thông thường. Nếu vi rút lây cho trẻ dưới 2 tuổi thì nguy cơ trẻ bị viêm tiểu phế quản là rất lớn, nếu trẻ sơ sinh bị viêm tiểu phế quản thì có đến 50% trẻ phải nhập viện.
Bài, ảnh: Hà Minh
Theo TNO

Viêm thanh quản ở trẻ em

Khi dây thanh âm bị kích thích dẫn đến sưng phồng, giọng nói của trẻ trở nên khàn khàn và khó nghe hơn thường lệ, đó là bệnh viêm thanh quản. Dây thanh quản của trẻ bị viêm gây ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe trẻ em, cha mẹ cần hêt sức chú ý.

Nguyên nhân do trẻ la hét quá nhiều làm cho dây thanh âm bị kích thích. Đôi khi, trẻ hát quá lớn cũng dễ mắc bệnh. Không loại trừ khả năng mắc viêm thanh quản đối với các chứng ho trẻ em lâu ngày không chữa kịp.

Triệu chứng thông thường là giọng nói trở nên khàn đặc hoặc khô khốc, có khi bị tắt tiếng hoặc cố gắng nói nhưng không nói được mà chỉ phát ra những âm thanh the thé, khó nghe.
viêm-thanh-quản
Cũng có trường hợp bệnh do bao tử gây nên, nguyên nhân vì thỉnh thoảng lượng acid có trong bao tử có tác dụng làm tiêu hóa thức ăn bị trào ngược lên ống dẫn thức ăn, làm cho dây thanh âm bị kích thích. Sự dị ứng hoặc khói thuốc lá cũng gây kích thích dây thanh âm.

Nói chung, nhiễm trùng từ vi khuẩn chính là nguyên nhân chính gây viêm phế quản ở trẻ, lẫn người lớn. Đôi khi, dây thanh âm bị nhiễm trùng cùng loại vi khuẩn thường gây bệnh sổ mũi và cảm cúm ở trẻ. Đó cũng là lý do khi trẻ bị cúm hoặc ho nhiều giọng nói cũng trở nên khó nghe hơn.

Để bảo vệ thanh quản:

Không cho trẻ la hét quá lớn trong khi vui chơi để tránh làm trẻ khàn giọng.
Không cho trẻ tiếp xúc nhiều với hệ thống máy giữ độ ẩm không khí, vì dễ làm cho cuống họng bị khô.
Tránh để trẻ tiếp xúc với môi trường có khói, bụi, thuốc lá…
Cách ly trẻ với người bệnh để tránh lây lan.
Dạy trẻ che miệng khi ho, hắt hơi, nhảy mũi và không khạc nhổ bừa bãi.

Nếu viêm phế quản do virút gây nên, cần cho trẻ đến khám bác sĩ để được nhỏ thuốc. Trường hợp này, trẻ cần hạn chế nói chuyện để tránh làm đau rát cuống họng, thay vào đó hãy hướng dẫn cho trẻ cách ra dấu để diễn đạt khi muốn nói chuyện hoặc viết, vẽ ra giấy.

Nếu do bao tử, bác sĩ sẽ kê thuốc, khuyến khích thay đổi cách ăn uống để loại trừ một thức ăn có thể làm bệnh trở nên trầm trọng hơn.

(Theo dantri.com)

Nguyên nhân và chữa trị bệnh bạch cầu ở trẻ

Bệnh bạch cầu ở trẻ là bệnh ung thư của các tế bào bạch cầu trong máu. Khi trẻ mắc bệnh bạch cầu, một số lượng lớn các tế bào bạch cầu bất thường sẽ được sản sinh ở tủy xương tác động xấu đến sức khoẻ trẻ em.

Các tế bào bạch cầu bất thường này bám quanh tủy xương và chảy vào dòng máu nhưng chúng không thể thực hiện chức năng của mình là bảo vệ cơ thể khỏi bệnh tật do chúng đã có khiếm khuyết.

Do là dạng bệnh trong máu nên bệnh bạch cầu là một bệnh ung thư đặc biệt vì không có khái niệm “khối u“ trong đó. Mặc dù tế bào của các loại ung thư có thể lưu hành trong máu nhưng không có nghĩa là những bệnh nhân ung thư này lây sang người khác qua truyền máu.

Bệnh-bạch-cầu

Khi bệnh bạch cầu tiến triển, bệnh sẽ cản trở khả năng sản xuất các dạng khác của tế bào máu của cơ thể, bao gồm các tế bào hồng cầu và các tiểu huyết cầu (chất nhỏ hình đĩa ở trong máu giúp máu đóng cục). Hậu quả là gây ra thiếu máu và các vấn đề xuất huyết, làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh.

Bệnh bạch cầu chiếm khoảng 25% trong tất cả các dạng ung thư ở trẻ và ảnh hưởng đến khoảng 2.200 trẻ Mỹ mỗi năm. Điều may mắn là cơ hội chữa trị căn bệnh này hiện nay khá cao. Khi được điều trị, hầu hết trẻ mắc bệnh đều khỏi mà không bị tái phát.

Các dạng bệnh bạch cầu ở trẻ

Nhìn chung, bệnh bạch cầu được chia thành 2 loại: cấp tính (phát triển nhanh) và mạn tính (phát triển nhanh). Ở trẻ, khoảng 98% trường hợp bệnh bạch cầu là cấp tính.

Bệnh bạch cầu cấp tính ở trẻ được chia thành 2 dạng: bệnh bạch cầu lymphocytic cấp tính (ALL) và bệnh bạch cầu myelogenous cấp tính (AML), tùy thuộc vào các tế bào bạch cầu riêng biệt được gọi là lymphyocytes, có liên quan đến khả năng miễn dịch. Khoảng 60% trẻ mắc bệnh bạch cầu là ALL và khoảng 38% là AML. Bệnh bạch cầu myelogenous mạn tính (CML) cũng có thể xuất hiện ở trẻ, nhưng rất hiếm.

Nguy cơ của bệnh bạch cầu ở trẻ

Dạng bệnh ALL thường xảy ra nhiều nhất ở trẻ trong độ tuổi 2-8 tuổi, với độ tuổi dễ bị tác động nhất là 4 tuổi. Tuy nhiên nó cũng có thể ảnh hưởng đến tất cả các nhóm tuổi.

Trẻ có 20-25% nguy cơ mắc bệnh ALL và AML nếu chúng sinh đôi giống hệt nhau, và được chẩn đoán mắc bệnh trước khi lên 6 tuổi. Ở trẻ sinh đôi nhưng không giống hệt nhau và ở trẻ có anh chị em ruột mắc bệnh bạch cầu, nguy cơ mắc bệnh này cao hơn 2-4 lần so với các trẻ bình thường khác.

Trẻ có các vấn đề di truyền như hội chứng Down, hội chứng Li-Fraumeni, hội chứng Kleinfelter, neurofibromatosis, ataxia telangectasia hay bệnh thiếu máu Fanconi cũng có nguy cơ mắc bệnh bạch cầu cao hơn.

Trẻ đã từng được trị bệnh bằng hóa trị liệu hay xạ trị do mắc các dạng bệnh ung thư khác cũng có nguy cơ mắc bệnh bạch cầu cao hơn, thường trong vòng 8 năm đầu sau khi điều trị.

Các nghiên cứu hiện nay cũng cho thấy nhân tố môi trường cũng có thể khiến trẻ mắc bệnh này.

Để hạn chế nguy cơ trẻ chịu ảnh hưởng của tia phóng xạ trong thời gian thai kỳ, hiện nay các thai phụ thường hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tiến hành các kiểm tra hay điều trị bệnh có liên quan đến phóng xạ, chẳng hạn như chụp X quang.

Việc kiểm tra thường xuyên có thể phát hiện sớm các dấu hiệu của bệnh bạch cầu ở các trường hợp: bố mẹ trẻ có các vấn đề gen di truyền, có tiền sử điều trị ung thư hay sử dụng các loại thuốc đặc biệt dành cho cấy ghép nội tạng.

Các triệu chứng của bệnh bạch cầu

Do các tế bào bạch cầu chống lại bệnh bị khiếm khuyết, trẻ bị bệnh bạch cầu có thể tăng nguy cơ mắc bệnh nhiễm trùng và sốt. Chúng cũng có thể bị thiếu máu dẫn đến xanh xao, mệt mỏi bất thường và thở dốc khi chơi đùa.

Trẻ bị bệnh bạch cầu cũng có thể bị thâm tím và rất dễ bị xuất huyết, thường xuyên bị chảy máu mũi, xuất huyết khác thường trong thời gian dài sau khi bị thương dù rất nhỏ.

Các triệu chứng khác của bệnh bạch cầu có thể gồm:

Đau nhức xương hay khớp, đôi khi khiến trẻ đi khập khiễng.
Sưng bướu bạch huyết ở cổ, háng hay các nơi khác.
Cảm thấy mệt mỏi bất thường.
Kén ăn

Khoảng 12% trẻ mắc bệnh AML và 6% trẻ mắc bệnh ALL lây lan bệnh bạch cầu đến não và gây nhức đầu, tai biến ngập máu, các vấn đề về thăng bằng và thị giác bất thường. Nếu ALL lây đến các bướu bạch huyết ở ngực, nó có thể bao quanh khí quản và các mạch máu quan trọng dẫn tới các vấn đề hô hấp và ảnh hưởng đến sự lưu thông máu đi và đến tim.

Do đó, khi phát hiện trẻ có các triệu chứng bất thường trên, bố mẹ nên nhanh chóng đưa con đến bác sĩ để được kiểm tra bệnh và sớm có liệu pháp điều trị thích hợp.

(Theo ykhoa.net)

Đi tìm nguyên nhân bệnh vàng da ở trẻ em

Khi trẻ sinh ra được 2 ngày, trẻ được chuẩn đoán vàng da sinh lý, và bình thường chỉ sau 1 đến 2 tuần sẽ hết, nhưng thực tế nếu trẻ vẫn bị vàng da. Vậy trẻ có bị vàng da bệnh lý không? Cách điều trị chăm sóc vàng da ở trẻ sơ sinh thế nào?

Có nhiều nguyên nhân có thể gây vàng da, nhưng thông thường trẻ sơ sinh hay bị vàng da sinh lý sẽ hết trong vài tuần tuổi, song không loại trừ vàng da do bệnh lý, vì con bạn đã hơn 1 tháng tuổi. Để biết chắc chắn, bạn nên cho con đi xét nghiệm máu ở các cơ sở y tế có đủ điều kiện.

Nguyên nhân vàng da ở trẻ sơ sinh

Vàng da bệnh lý thường do tăng bilirubin gián tiếp: do tán huyết, thiếu men G6PD, suy giáp, bệnh nhiễm trùng mà hay gặp nhất là nhiêm trùng tiểu…

Sau khi loại trừ các nguyên nhân bệnh lý, thì có thể cháu bị vàng da lành tính do sữa mẹ. Trong trường hợp này, bé bú mẹ hoàn toàn, bú tốt, tăng cân bình thường, không có bằng chứng tán huyết.

Vàng da do sữa mẹ không đáng lo, sẽ tự hết sau 6 tuần đến 3 tháng tuổi. Nếu thử ngừng sữa mẹ 1 – 3 ngày, cho uống tạm sưa bột công thức bằng cách bón thìa thì cũng làm giảm vàng da.

Đây cũng là một cách để thử xem có phải bé bị vàng da do sưua mẹ hay không. Phơi nắng cũng làm giảm bớt bilirubin, giảm bớt vàng da.

Bạn không nói rõ về tình trạng dinh dưỡng, sự phát triển của cháu, đồng thời chưa có đầy đủ các xét nghiệm cần thiết nên chưa thể xác định nguyên nhân vàng da của con bạn. Bạn nên đưa cháu đi khám sớm để có hướng chẩn đoán và điều trị thích hợp.

(Theo dantri)

Tiêm phòng vaccine để phòng tránh bệnh quai bị, rubella

Quai bị và Rubella là 2 bệnh hay xuất hiện cùng thời điểm với bệnh sởi. Biện pháp tốt nhất để phòng bệnh quai bị, rubella là tiêm phòng vaccine.

1. Bệnh quai bị

Bệnh quai bị là bệnh truyền nhiễm do virut. Đôi khi bệnh còn gọi là viêm tuyến nước bọt mang tai.

Bệnh quai bị thường gặp ở trẻ mới lớn, từ 5 – 9 tuổi. Nhưng cũng có thể gặp ở người lớn. Khi đó nhiều biến chứng nguy hiểm sẽ xảy ra. Ở vùng có tiêm vaccine thì bệnh thường gặp ở trẻ lớn hơn là trẻ nhỏ.

Virut quai bị có ở mọi nơi. Bệnh quai bị lây qua những giọt nhỏ không khí khi người mang mầm bệnh hắt hơi hoặc ho và do tiếp xúc trực tiếp người mang mầm bệnh.

bệnh quai bị, rubella

* Nhận diện bệnh quai bị:

Khoảng 1/3 trẻ nhiễm virut quai bị không có triệu chứng. Triệu chứng thường xuất hiện bắt đầu từ ngày thứ 14 đến ngày thứ 21 sau khi nhiễm trùng. Sưng tuyến nước bọt phía dưới và trước tai là triệu chứng khác gồm đau khi nhai hoặc nuốt, sốt, mệt mỏi, tinh hoàn sưng và đau.

Người bệnh quai bị có thể lây nhiễm cho người khác kể từ 6 ngày trước và 9 ngày sau khi có dấu hiệu sưng tuyến mang tai.

Biến chứng của bệnh quai bị ít gặp nhưng có thể nghiêm trọng: Ở nam giới, thanh niên viêm tinh hoàn có thể 1 hoặc 2 bên, có thể gây vô sinh. Viêm não, viêm màng não và điếc là những biến chứng hiếm gặp nhưng có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi.

Không có điều trị đặc hiệu bệnh quai bị. Sau khi khỏi, người bệnh có miễn dịch đặc hiệu suốt đời.

Phòng bệnh quai bị: Tiêm chủng vaccine quai bị an toàn và hiệu quả cao.

2. Bệnh Rubella

Bệnh Rubella là bệnh truyền nhiễm do virut gây ra. Hội chứng Rubella bẩm sinh là nguyên nhân quan trọng gây ra các khuyết tật trầm trọng cho trẻ sơ sinh.

Khi người phụ nư bị nhiễm virut Rubella ở giai đoạn đầu trong 3 tháng đầu của quá trình mang thai,có tới90% số trường hợp người mẹ có thể truyền virut sang thai nhi. Hậu quả thainhi bị chết hoặc có thể gây hội chứng Rubella bẩm sinh.

Nếu như ở trẻ nhỏ nhiễm Rubella chỉ biểu hiện nhẹ, thì ở trẻ sơ sinh mắc hội chứng Rubella bẩm sinh sẽ phải chịu những dị tật nặng nề.

Ngoài điếc là dị tật thường gặp, hội chứng Rubella bẩm sinh còn có dị tật ở mắt, tim và não. Ước tính hàng năm trên thế giới có 700.000 trẻ em bị chết vì hội chứng Rubella bẩm sinh.

Bệnh Rubella lây truyền bởi các giọt nước bọt trong không khí khi người mang mầm bệnh hắt hơi hoặc ho. Người bệnh trở thành nguồn lây sau 5 – 7 ngày kể từ khi virut xâm nhập vào cơ thể người mẹ, nếu người bệnh là phụ nữ có thai trong thời gian này có thể truyền virut sang thai nhi.

Người bị nhiễm virut có khả năng lây truyền cao nhất trong thời kỳ phát ban. Tuy nhiên, virut có thể lây truyền trước và sau phát ban7 ngày.

Trẻ bị hội chứng Rubella bẩm sinh có thể lây truyền virut trong khoảng thời gian một năm hoặc hơn.

* Nhận diện bệnh Rubella:

Thời gian ủ bệnh ban đầu khoảng 14 ngày. Triệu chứng thường nhẹ nên khoảng 20 – 50% số người mắc bệnh thường không chú ý cho tới khi phát ban.

Ở trẻ em, ban thường là dấu hiệu đầu tiên, các dấu hiệu khác gồm sốt nhẹ và sưng hạch ở cổ. Ban thường xuất hiện ở mặt và lan dần xuống chân. Thời gian phát ban thường kéo dài khoảng 3 ngày. Ban do Rubella thường dày hơn và có màu nhạt hơn ban sởi. Nhiều bệnh khác có phát ban tương tự như Rubella cho nên không được xem là dấu hiệu chắc chắn của nhiễm virut Rubella.

Trẻ có hội chứng Rubella bẩm sinh thường có những dấu hiệu như đục thủy tinh thể và giảm thính giác nhưng chỉ có thể nhận thấy từ 2 – 4 năm sau.

Biến chứng có xu hướng xảy ra ở người lớn hơn là trẻ em. Khoảng 70% phụ nữ bị nhiễm trùng có thể đau hoặc viêm khớp đặc biệt ở ngón tay, cổ tay và đầu gối. Viêm não xảy ra khoảng 1/5000 trường hợp và thường gặp nhất ở phụ nữ. Xuất huyết xảy ra khoảng 1/3000 trường hợp ở trẻ em.

Biến chứng của hội chứng Rubella bẩm sinh gồm điếc, đục thủy tinh thể, bệnh tim và chậm phát triển trí tuệ.

* Điều trị bệnh Rubella:

Không có thuốc điều trị đặc hiệu đối với Rubella và hội chứng Rubella bẩm sinh. Bệnh nhân cần uống nhiều dịch và thuốc hạ sốt. Trẻ nhỏ bị hội chứng Rubella bẩm sinh cần được điều trị những biến chứng do bệnh gây ra.

* Phòng bệnh Rubella:

Vaccine Rubella an toàn hiệu quả, khi được dùng cho trẻ em thường phối hợp với vaccine sởi và quai bị. Ở một số nước phát triển bệnh Rubella gần như đã được loại trừ nhờ chương trình tiêm chủng cho trẻ em.

Tuy nhiên, điều quan trọng là phải bảo đảm đạt được và duy trì tỷ lệ tiêm chủng cho trẻ trên 80% nhằm tránh sự lây truyền của Rubella sang tuổi lớn hơn.

Để phòng hội chứng Rubella bẩm sinh, nữ tuổi sinh đẻ là những đối tượng đầu tiên đối với tiêm vaccine Rubella. Tiêm chủng cho nữ 15 – 40 tuổi sẽ làm giảm nhanh tỷ lệ mắc hội chứng Rubella bẩm sinh, không có sự lây truyền của virut Rubella sang trẻ lớn.

3. Tiêm chủng vaccine phòng bệnh Sởi – Rubella – Quai bị

Vaccine Sởi – Rubella (MR) và vaccine Sởi – Rubella (MMR) – Quai bị. Đây là các vaccine phối hợp giữa sởi với Rubella (MR) phòng bệnh sởi và Rubella; vaccine MMR phòng bệnh sởi, quai bị và Rubella.

Vaccine MR và MMR được đóng gói dưới dạng đông khô với dung môi pha hồi chỉnh kèm theo và bắt buộc phải thực hiện pha hồi chỉnh v accin trước khi sử dụng. Chỉ sử dụng lọ dung môi đi kèm với vaccine.

Saukhi pha hồi chỉnh, vaccine MR và MMR vẫn phải được bảo quản ở nhiệt độ từ 2 – 8oC và huỷ bỏ những liều còn thừa trong lọ sau 6 giờ hoặc kết thúc buổi tiêm chủng.

Tính an toàn và những phản ứng sau tiêm vaccine

Những phản ứng nhẹ có thể gặp:

– Sốt: Đối với riêng vaccine sởi, khoảng 5 – 15% trẻ bị sốt nhẹ trong vòng 5 – 12 ngày sau tiêm.

– Ban: Khoảng 1/20 trẻ có biểu hiện ban nhẹ xuất hiện từ 5 – 12 ngày sau khi tiêm.

Những phản ứng nặng hiếm gặp:

Khi tiêm vaccine Rubella có thể dẫn tới tình trạng viêm khớp tạm thời sau khi tiêm 1 – 3 tuần với tỷ lệ lên đến ¼ nữ tuổi dậythì. Những phản ứng này rất hiếm gặp ở trẻ nhỏ.

Tiêm vaccine quai bị có thể dẫn tới tình trạng viêm tuyến nước bọt mang tai và viêm não nước trong (viêm não vô khuẩn) nhưng hiếm gặp. Một vài trường hợp có thể phải đến bệnh viện nhưng đa số có thể tự hồi phục. Những nguy cơ này khác nhau tuỳ thuộc vào chủng được sử dụng để sản xuất vaccine.

(Theo ykhoa.net)

Phình đại tràng bẩm sinh ở trẻ em

Phình đại tràng bẩm sinh còn có các tên gọi khác như bệnh Hirschsprung, bệnh vô hạch đại tràng bẩm sinh. Có ảnh hướng nguy hiểm đến sức khoẻ trẻ em.

Ðây là một bệnh bẩm sinh gặp ở tỷ lệ khoảng từ 1/4.000 – 1/5.000 trẻ sơ sinh. Trẻ trai mắc bệnh nhiều hơn trẻ gái, với tỷ lệ nam/nữ từ 4/1 – 9/1. Bệnh cần được phát hiện sớm để săn sóc, theo dõi và điều trị đúng lúc.

Khi bị phình đại tràng bẩm sinh, trẻ có thể bị thêm các dị tật phối hợp như hội chứng down, hội chứng tim mạch, dị tật thần kinh, dị tật đường tiêu hóa, hậu môn… Tùy theo mức độ nặng nhẹ mà bệnh có biểu hiện ở các lứa tuổi khác nhau.

Dấu hiệu sớm phình đại tràng bẩm sinh

Tất cả những trường hợp trẻ được xác định mắc bệnh đều có chỉ định phẫu thuật. Những năm gần đây, nhờ chẩn đoán sớm được bệnh và theo dõi điều trị tốt bằng thụt tháo phân hằng ngày nên có thể mổ một lần để điều trị hiệu quả.

Bệnh phình đại tràng bẩm sinh là một dị tật bẩm sinh cần phải mổ càng sớm càng tốt, nếu không sẽ gây nên các di chứng như trẻ chậm lớn, chậm phát triển tâm thần và cả những biến chứng nguy hiểm như viêm ruột nặng và tắc ruột. Sau khi phẫu thuật, bệnh sẽ khỏi hoàn toàn.

Có nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra bệnh phình đại tràng bẩm sinh và bệnh có tính chất di truyền. Biểu hiện của bệnh rất dễ nhận biết: Trẻ mới sinh bụng trướng căng, không đi phân su sau hơn 24 giờ, hoặc chỉ đại tiện khi dùng ống thông đưa vào hậu môn kích thích.

Khi được kích thích hậu môn, trẻ ra rất nhiều phân, dạng như tháo nút tắc ở cống nước và được gọi là dấu hiệu “tháo cống”. Ngoài ra, do bụng trướng căng nên trẻ nôn nhiều.

Ở trẻ lớn, bệnh thường được biểu hiện bởi tình trạng táo bón kéo dài nhiều năm xen kẽ những đợt tiêu chảy với tính chất đặc trưng là phân rất thối và có màu đen (do phân ứ đọng lâu ngày) và bụng trướng. Kèm theo, trẻ luôn trong tình trạng suy dinh dưỡng, chậm phát triển thể chất và tâm thần.

Tuy nhiên, cần phải lưu ý, không phải bất cứ trẻ nào sau khi sinh 24 giờ không đại tiện được đều là bị phình đại tràng bẩm sinh, vì trẻ đó bị dị dạng hậu môn bẩm sinh cũng không đại tiện được. Nhưng dù là trường hợp nào thì trẻ đều cần phải được phẫu thuật và điều trị sớm.

Đây là một bệnh cần điều trị càng sớm càng tốt. Điều đáng báo động là rất ít trẻ được phát hiện bệnh và điều trị sớm, bởi người lớn thường chỉ nghĩ tình trạng khó đại tiện và đại tiện bất thường ở trẻ là do táo bón, do chế độ ăn không khoa học…

Hơn nữa, bệnh phình đại tràng bẩm sinh nếu không điều trị sớm sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe thể chất và tâm thần của trẻ, vì thế, khi thấy con mình có các dấu hiệu bất thường khi đại tiện, phụ huynh nên đưa con đi khám tiêu hóa càng sớm càng tốt.

Khi đi khám, nếu nghi ngờ trẻ bị bệnh phình đại tràng bẩm sinh, bác sĩ sẽ cho làm các xét nghiệm và chụp Xquang, việc chụp Xquang đóng vai trò quyết định trong chẩn đoán. Tuy nhiên, do chụp đại tràng cản quang là một phương pháp chụp và đọc không dễ nên cần được thực hiện tại bệnh viện có đủ điều kiện trang thiết bị.

Khi đã xác định chính xác trẻ bị phình đại tràng bẩm sinh, các bác sĩ sẽ phẫu thuật bệnh phình đại tràng bẩm sinh qua hậu môn.

Điều trị bệnh bao gồm cắt bỏ đoạn ruột teo nhỏ rồi đưa đoạn ruột bình thường bên trên xuống thay thế. Hiện nay có nhiều cách mổ khác nhau, có thể mổ một lần hay nhiều lần, có thể phải mổ bụng nhưng trong phần lớn trường hợp, chỉ mổ từ dưới hậu môn lên mà không cần mổ bụng. Hiện nay, trong các bệnh viện lớn, phẫu thuật bệnh phình đại tràng bẩm sinh qua ngả hậu môn là an toàn. Trẻ sơ sinh có thể được cho bú trở lại sau mổ 1-2 ngày và ra viện sau khoảng 1 tuần.

Sức khỏe đời sống

Có nên cắt amidan cho trẻ em?

Mùa hè nhiều bậc phụ huynh muốn tranh thủ thời gian cho trẻ cắt amidan. Thiết nghĩ chúng ta nên tìm hiểu amidan là gì, nếu tồn tại – liệu có lợi cho trẻ? Liệu có ảnh hưởng đến sức khoẻ của trẻ, trường hợp bị viêm? và có nên cắt amidan? Nếu có thì bao giờ và chỉ định cắt thế nào?

1. Amidan là gì ?
Amidan một tổ chức lympho (tế bào bạch huyết) tập trung thành đám nằm ở hai bên thành họng tạo thành một vòng bạch huyết Waldayer bao gồm amidan vòm họng mà người ta gọi là V.A (Vegetaion adenoide), amidan khẩu cái và amidan đáy lưỡi. Khi nói amidan tức amidan khẩu cái. Còn VA là một tổ chức lympho ở vòm mũi họng, mọi trẻ sinh ra đều có. Khi VA bị viêm và quá phát thì chúng to ra có thể làm cho lỗ mũi sau bị che lấp gây khó thở và thường trẻ phải thở bằng mồm. Còn amidan thì ở trẻ em lớn hay người trưởng thành có thể bị viêm. Bình thường tổ chức amidan và VA sẽ teo dần bắt đầu từ tuổi dậy thì đến tuổi trưởng thành. Về chức năng sinh lý amidan đóng vai trò sinh miễn dịch có lợi cho cơ thể tức tạo ra kháng thể và các lympho bào giúp cho cơ thể chống lại tác nhân gây bệnh đường hô hấp trên, đặc biệt là chống lại tác nhân gây nhiễm trùng (các vi sinh vật gây bệnh). VA và amidan thật đóng vai trò quan trọng trong nỗ lực bảo vệ hệ thống đường hô hấp trên.

Amidan

2. Bệnh thường gặp ở amidan Loại bệnh hay gặp nhất của amidan là viêm amidan. Viêm amidan có thể là viêm cấp tính hoặc mạn tính. Viêm cấp tính bao giờ cũng có sốt cao (thường 39 -40oC), có khi kèm theo rét run, đau họng, rát họng, nuốt đau, ho. Viêm amidan mạn tính cũng sốt nhưng sốt nhẹ, người mệt mỏi, rát họng, ngứa họng, ho khan hoặc có đờm, miệng hôi, đôi khi nuốt có cảm giác vướng ở họng như có sợi tóc hay vật gì nhẹ, nhỏ vướng vào. Viêm amidan mạn tính thường có những đợt cấp tính do thời tiết thay đổi đột ngột từ nóng sang lạnh hoặc uống nước lạnh, nước đá, uống bia, nước giải khát có đá, nằm, ngồi dưới máy điều hoà nhiệt độ hoặc sức đề kháng của cơ thể bị suy giảm.

Khám họng sẽ thấy amidan to một hay hai bên, có nhiều hốc và trong các hốc amidan thường có mủ hoặc màng trắng. Chính các hốc amidan là nơi trú ngụ của các loài vi sinh vật đặc biệt là vi sinh vật gây bệnh như H. influenzae, S.pneumoniae, S. pyogenes, S. aureus, S. epidermidis… khi có điều kiện thuận lợi là chúng trở nên gây bệnh cho vùng tai, mũi, họng, xoang. Ngoài khả năng bị viêm amidan cũng có thể bị áp xe. Bệnh áp xe amidan thường gặp là áp xe quanh amidan. Áp xe quanh amidan có nguy cơ làm lan toả tổ chức viêm ra các vùng xung quanh như vùng cổ, trung thất. Nếu viêm amidan do vi khuẩn liên cầu nhóm A (S. pyogens) sẽ có nguy cơ gây thấp tim mà người ta gọi bệnh này là thấp tim tiến triển hoặc gây thấp khớp cấp tính hoặc gây viêm cầu thận cấp. Các bệnh do S.pyogenes gây ra có thể để lại các hậu quả rất nặng nề.

3. Có nên cắt amidan?
Khi amidan bị viêm thì cần gõ cửa phòng khám của bác sỹ chuyên khoa tai, mũi, họng để được đánh giá mức và chỉ định điều trị cụ thể. Trước tiên cần chữa trị để amidan trở lại hoạt động bình thường, bảo vệ đường hô hấp như chức năng vốn dĩ của nó, không nên có suy nghĩ, nhất thiết phải cắt bỏ amidan bị bệnh. Tuy vậy, khi amidan bị viêm nhiễm lâu ngày làm bất lợi cho cơ thể thì người bác sỹ tai mũi họng sẽ có cân nhắc, tính toán thật chi li đến mức cần thiết có cắt amidan hay không. Nếu đã điều trị tích cực, đúng phác đồ, dùng thuốc kháng sinh đúng liều lượng, đủ ngày nhưng không có kết quả, bác sỹ chuyên có thể quyết định phải cắt. Việc cắt amidan là một thủ thuật tuy không phức tạp nhưng phải thực hiện đúng chỉ định chặt chẽ, ví dụ khi amidan viêm nhiễm, phì đại gây tắc nghẽn đường hô hấp và có thể dẫn đến tình trạng ngưng thở khi trẻ ngủ, gây tím tái (do thiếu dưỡng khí), hay quấy khóc; hoặc khi amidan bị viêm mạn tính tái phát nhiều lần (6 -7 lần/năm), viêm cấp tính ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ của trẻ; hoặc amidan to, có nhiều hốc mủ, xét nghiệm mủ có vi khuẩn liên cầu nhóm A kèm theo chỉ số phản ứng ASLO (antistreptolysin O) tăng cao trong máu có nguy cơ gây thấp khớp, biến chứng tim, hoặc viêm cầu thận cấp hoặc đã gây thấp tim tiến triển.

Cũng được xem xét khi đã có một số biến chứng khác do viêm amidan gây ra như viêm phế quản nhiều lần, hen phế quản, viêm tai giữa, viêm xoang hoặc chỉ quá phát không viêm nhưng gây cản trở đường hô hấp cũng như cản trở ăn, uống. Tuy vậy người ta cũng khuyên không nên cắt amidan khi trẻ dưới 5 tuổi (vì một mặt sẽ ảnh hưởng đến chức năng miễn dịch của trẻ, mặt khác vì amidan chưa phát triển hết, nếu cắt nó sẽ phát triển lại) và thật thận trọng khi cắt amidan cho người trên 45 tuổi vì ở lứa tuổi này còn nhiều bệnh kèm theo mà các bệnh đó được chống chỉ định trong cắt amidan như bệnh tăng huyết áp, bệnh về tim mạch (xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành), mặt khác ở lứa tuổi này amidan thường bị xơ hoá nếu cắt có thể gây chảy máu nhiều và kéo dài rất nguy hiểm cho tính mạng người bệnh…

Tóm lại việc có cắt amidan hay không phải do bác sỹ chuyên khoa tai mũi họng chỉ định, các bậc phụ huynh không nên nôn nóng hoặc quá lo lắng về bệnh viêm amidan của trẻ mà tự ý xin bằng được cắt amidan cho trẻ. Bởi vì cắt amidan cũng là một phẫu thuật cho nên cũng có thể có tiềm ẩn tai biến như những phẫu thuật khác đôi khi khó lường trước, mặc dù hiện nay việc cắt amidan được tiến hành bằng nhiều phương pháp hiện đại hơn như cắt bằng dao điện, bằng tia laser…tuy nhiên cũng cần đề phòng một số tác dụng phụ như do thuốc gây mê (gây dị ứng, sốc phản vệ,…), chảy máu sau cắt amidan, hoặc rất hiếm gặp là ảnh hưởng đến phát âm…
PGS.TS Bùi Khắc Hậu
Tri Thức Trẻ

Xử lý tình huống bé bị chảy máu cam

Chảy máu cam là tình trạng phổ biến ở trẻ trong độ tuổi từ 3-10. Hầu hết tình trạng này sẽ tự khỏi, nhưng cũng có thể tự xử lý theo các bước sau, theo kidshealth.org.

Đầu tiên, cha mẹ nên giữ bình tĩnh và không hoảng sợ. Bởi phụ huynh hoảng loạn sẽ làm cho con bối rối. Sau đó đặt trẻ trên đùi, hoặc để trẻ ngồi.
chay-mau-cam
Dùng hai ngón tay bóp nhẹ hai lỗ mũi vào nhau trong 10 phút; nếu thả tay quá sớm, máu có thể chảy lại. Không để trẻ ngồi dựa, hay hút máu từ mũi ra vì sẽ khiến trẻ ho hoặc nôn mửa.

Không cọ xát, cạo, hoặc chạm vào bên trong mũi của trẻ, vì sẽ dễ gây tổn thương và chảy máu lần nữa.

Tuy nhiên, phụ huynh nên lập tức đưa trẻ đến bệnh viện nếu có những dấu hiệu như: trẻ thường xuyên chảy máu cam; trẻ thường bị xuất huyết nặng từ vết cắt nhỏ; trẻ chảy máu cam sau khi dùng thuốc…

Theo TNO

Dấu hiệu cho thấy con bạn bị tự kỷ

2 tuổi, bé Trung (Long Biên, Hà Nội) vẫn chưa biết nói, cũng không tỏ ra tình cảm với bố mẹ, người thân. Ai gọi, hỏi, bé cũng lờ đi không thèm quay lại nhìn. Bé cũng hiếu động một cách thái quá, hay đập phá đồ đạc, đánh, cắn người khác.

Cảm thấy có gì không ổn, chị Hoa mẹ cháu muốn đưa con đến bác sĩ, nhưng cả gia đình phản đối. Mẹ chồng chị bảo: “Bố nó cũng 4 tuổi mới biết nói, có sao đâu. Con trai phải cá tính nghịch ngợm như thằng này thì mới tốt”. Bé Trung ngoài 3 tuổi mới được đưa đến chuyên gia tâm lý và được xác định là tự kỷ.

Những trường hợp tự kỷ được phát hiện muộn như bé Trung rất phổ biến. Theo bà Trần Thị Thu Hà, Phó trưởng khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Nhi Trung ương, thời gian tốt nhất để điều trị tự kỷ là 18 đến 36 tháng tuổi. Quá thời gian này, các biện pháp can thiệp đem lại rất ít hiệu quả.
tuky1
Do vậy, các bà mẹ cần sớm lưu ý đến những biểu hiện không bình thường của con để đưa đến bác sĩ. Tiến sĩ Lã Thị Bưởi, Trưởng phòng khám Tuna (26, ngõ 259/5, phố Vọng, Hà Nội), cho biết, trẻ tự kỷ có những biểu hiện sau:

Khó khăn trong sử dụng ngôn ngữ: Chậm nói (trẻ 16-17 tháng phải nói được các từ đơn), hoặc biết nói sớm nhưng sau đó lại thôi. Trẻ không hiểu lời người khác và cũng không biểu đạt được ý nghĩ của mình nên hay nói những câu, từ vô nghĩa hoặc không ăn nhập với hoàn cảnh. Khi được hỏi, nhiều trẻ không trả lời được mà nhại lại câu hỏi một cách máy móc (chẳng hạn, hỏi “cháu tên gì” thì cũng đáp là “cháu tên gì”).

Khó giao tiếp và tương tác: Không nhìn vào mắt người khác là một triệu chứng điển hình của tự kỷ. Trẻ không giao tiếp, không biểu hiện tình cảm ngay cả với mẹ (không hề bám mẹ). Những em bé bình thường khi 9-10 tháng tuổi nếu ở cạnh trẻ khác thường có động thái làm quen như cười, chạm vào bạn, xin – cho đồ chơi hay thức ăn; nếu thấy thích thú điều gì thì muốn chia sẻ với người khác (như khoe áo đẹp)… nhưng trẻ tự kỷ không thế.

Khó khăn trong các trò chơi hoạt động, cần sự tưởng tượng: Việc hướng dẫn trẻ tự kỷ biết chơi một trò nào đó thường rất gian nan. Trẻ không biết dùng đồ chơi, chỉ cầm lên đập đập rồi ném, hoặc chơi không đúng chức năng.

Tác phong lặp đi lặp lại: Trẻ tự kỷ rất máy móc, chẳng hạn nếu mẹ dẫn đi nhà trẻ nếu vòng qua một cái cột điện thì lần sau nhất thiết cũng phải đi như vậy. Nếu phải thay đổi, trẻ sẽ phản ứng dữ dội như gào khóc, cắn cấu. Bệnh nhân tự kỷ cũng hay có các hành vi lặp đi lặp lại như vê tay, vặn tay, vặn người, nhón chân…

Ít có khả năng chăm sóc bản thân: Trẻ thường khó khăn trong việc tự phục vụ mình như đi tất, đội mũ, mặc áo, vệ sinh… Cử chỉ, thao tác luôn lóng ngóng, vụng về.

Phần lớn các em bé tự kỷ thường hiếu động thái quá, do không có khả năng hình dung ra sự nguy hiểm nên hay có những hành động “đáng sợ” như trèo lên đứng vắt vẻo trên lan can… Ngược lại, một số ít trẻ có xu hướng thu mình, ít vận động.

Với một số trẻ “thần đồng” như sớm biết làm toán, đọc chữ, nói tiếng Anh…, cha mẹ cũng nên nghĩ đến tự kỷ nếu có các biểu hiện vừa nêu trên. Ở trẻ tự kỷ, những khả năng đặc biệt đó thường tự biến mất sau một thời gian.

Các triệu chứng tự kỷ thường bộc lộ rõ từ 2 tuổi, nhưng thực ra nếu tinh ý, trong nhiều trường hợp, các bà mẹ có thể phát hiện những bất ổn của con mình sớm hơn nhiều, thậm chí trước 1 tuổi, nhất là biểu hiện thờ ơ với mọi người xung quanh, không giao tiếp bằng mắt, không phản ứng khi được gọi hay hỏi chuyện.

Một người mẹ mang con đến phòng khám Tuna cho biết: “Tôi đã thấy cháu không bình thường từ lúc 6-7 tháng, khi chơi với con mà nó không thèm nhìn mẹ, hỏi gì cũng lờ đi, nhưng hễ nghe tiếng quảng cáo trên TV là quay ngoắt lại nghe vô cùng chăm chú”. Nhưng vì không biết đến bệnh tự kỷ, lại hy vọng bé lớn lên sẽ khác nên chị đã không đưa con đi khám sớm.

Tuy nhiên, cũng có nhiều trẻ bị chẩn đoán và điều trị tự kỷ nhưng lại không mắc bệnh này. Trường hợp bé Bình, 4 tuổi, ở Hà Tây là một ví dụ. Thấy con không thích giao tiếp, hầu như không nhìn vào mắt người đối thoại, gia đình nghĩ bị tự kỷ nên đưa đi khám ở một bệnh viện trung ương. Do bệnh nhân quá đông, bác sĩ không xem xét kỹ và kết luận ngay là bị bệnh này.

Điều trị cùng nhóm trẻ tự kỷ một thời gian, thấy con không khá hơn, mẹ bé Bình đưa con đi khám ở chỗ khác. Các chuyên gia dành thời gian hỏi han, chơi cùng cháu và nhận thấy khi đã quen, Bình vẫn có giao tiếp bằng mắt, có nói chuyện và thể hiện sự thích thú. Cháu được chẩn đoán là rối loạn cảm xúc và điều trị theo hướng này, kết quả rất tốt.

Tương tự, nhiều trường hợp khác được chẩn đoán tự kỷ nhưng thực ra là chậm phát triển tâm thần hoặc tăng động, giảm chú ý. Việc điều trị cho các cháu theo hướng tự kỷ sẽ khiến tình hình tệ thêm, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển tâm thần.

Thực ra, khó xác định chẩn đoán tự kỷ trước 18 tháng tuổi. Và để khẳng định bệnh này, cần làm một số trắc nghiệm với sự tham gia của các chuyên gia về tâm thần học. Tuy nhiên, nếu lưu ý sớm các biểu hiện không bình thường của con và nói với bác sĩ, trẻ sẽ có cơ hội được chẩn đoán và điều trị kịp thời không chỉ tự kỷ mà cả các vấn đề tâm thần khác.

Theo VnExpress

Trầm cảm sau sinh

Trầm cảm sau sinh (postpartum depression) là một tình trạng bệnh tương đối nghiêm trọng có thể xảy ra trong vòng vài tháng đầu tiên sau khi sinh. Nó cũng có thể xảy ra sau khi người mẹ bị sẩy thai hoặc là thai chết lưu.

Trầm cảm sau sinh có thể khiến bạn cảm thấy rất buồn bã, tuyệt vọng và cảm thấy mình không còn giá trị gì nữa (vô dụng). Và điều này có thể khiến bạn gặp trở ngại trong việc chăm sóc và tạo mối liên kết tình mẫu tử giữa đứa bé và bạn.

Trầm cảm sau sinh không đơn giản chỉ là tình trạng trầm uất, chán nản mà nhiều phụ nữ gặp phải trong vài tuần đầu sau khi sinh. Với tình trạng trầm uất, chán nản bạn có thể sẽ cảm thấy khó ngủ, tính khí thất thường, đôi khi khóc. Những cảm xúc này cũng sẽ đi kèm với cảm giác hạnh phúc và tự hào về đứa con bé bỏng. Nhưng tình trạng trầm uất, chán nản này thường không kéo dài lâu và biến mất trong vòng vài tuần. Nếu kéo dài trong vòng vài tháng thì đó chính là triệu chứng của tình trạng trầm cảm sau sinh.
tramcam1

Trong một số trường hợp hiếm gặp thì người mẹ có thể mắc phải dạng trầm cảm nghiêm trọng, thường được gọi là chứng loạn trí sau sinh. Người mẹ có thể có những hành động bất thường, nhìn thấy hay nghe thấy những thứ không hiện diện trong thực tại, và có thể là một mối nguy hại cho chính mình và cho con mình. Trường hợp này cần phải cấp cứu ngay bởi tình trạng bệnh có thể diễn tiến xấu đi rất nhanh gây nguy hiểm cho người mẹ hay những người xung quanh.

Điều quan trọng là phải nhanh chóng điều trị tình trạng trầm cảm ở người me, bởi vì thời gian điều trị càng sớm thì khả năng sớm hồi phục càng cao.

Nguyên nhân của chứng trầm cảm sau sinh

Trầm cảm sau sinh được cho là bắt nguồn từ sự thay đổi ngưỡng hormone trong cơ thể người phụ nữ xảy ra sau thai kỳ. Bất kỳ người phụ nữ nào cũng có thể mắc chứng trầm cảm này trong vòng vài tháng đầu sau sinh, sau khi bị sẩy thai hoặc là thai chết lưu.

Bạn sẽ có nguy cơ cao bị mắc chứng trầm cảm sau sinh nếu :

Bạn đã bị trầm cảm hoặc là trầm cảm sau sinh trước đó

Bạn không có được sự hỗ trợ tốt từ người bạn đời, bạn bè hay người thân

Bạn bị bệnh hay là bị đau bụng trong khi mang thai

Bạn bị nhiều căng thẳng khác trong cuộc sống.

Bạn sẽ dễ mắc chứng loạn trí sau sinh nếu bạn hay bất kỳ thành viên nào trong gia đình mắc phải chứng rối loạn lưỡng cực (bipolar disorder).

Các triệu chứng

Các triệu chứng của tình trạng trầm cảm sau sinh ở phụ nữ có thể là :

Cảm thấy buồn, tuyệt vọng và trống rỗng. Một vài phụ nữ cũng có thể cảm thấy lo lắng.

Mất hứng thú vào các hoạt động thường ngày

Không có cảm giác đói và có thể sụt cân ( nhưng một vài phụ nữ cũng có thể cảm thấy đói hơn bình thường và ăn rất nhiều, dẫn đến tăng cân)

Khó ngủ

Không thể tập trung được

Những triệu chứng này có thể xảy ra vào ngày đầu tiên hay là ngày thứ 2 sau sinh. Hoặc là chúng có thể theo sau các triệu chứng của tình trạng trầm uất sau sinh vài tuần.

Một phụ nữ bị mắc chứng loạn trí sau sinh có thể cảm thấy như là mình bị tách xa ra khỏi đứa con. Bà mẹ có thể tưởng tượng ra những hình ảnh và âm thanh hoàn toàn không có thực (ảo giác và ảo thanh). Bất kỳ người phụ nữ nào bị mắc chứng trầm cảm sau sinh đều có suy nghĩ thoáng qua về việc tự tử hoặc là làm hại đứa con của mình. Nhưng những phụ nữ bị mắc chứng loạn trí sau sanh có thể có cảm giác như là có ai đó ép buộc mình phải hành động theo những suy nghĩ phải tự tử và làm hại con mình.

Làm thế nào chẩn đoán trầm cảm sau sinh

Bác sĩ sẽ thăm khám và hỏi về các triệu chứng bệnh của bạn.

Hãy thành thật kể cho bác sĩ nghe về mọi cảm xúc chán nản, trầm uất trong lần thăm khám đầu tiên sau khi sinh. Bác sĩ muốn theo dõi xem liệu cảm xúc của bạn đang diễn ra ra sao.

Điều trị như thế nào ?

Trầm cảm sau sinh có thể được điều trị bằng thuốc chống trầm cảm hoặc là bằng liệu pháp tâm lý. Với tình trạng trầm cảm nhẹ thì có thể chỉ cần dùng liệu pháp tâm lý là đủ. Nhưng đa phần các trường hợp phải dùng kết hợp cả hai liệu pháp thuốc và liệu pháp tâm lý lại với nhau. Nhiều thuốc chống trầm cảm đã được chứng minh là an toàn cho đứa trẻ trong giai đoạn bú sữa mẹ.

Để tự giúp bản thân cảm thấy tốt hơn, hãy cố gắng ăn uống điều độ, tập thể dục mỗi ngày, và ngủ đủ giấc. Tìm kiếm sự giúp đỡ từ gia đình và bạn bè nếu có thể.

Đừng cảm thấy buồn hay chán nản vì bạn bị mắc chứng bệnh này. Đều đó không có ngĩa rằng bạn là một là một người mẹ tồi. Bởi rất nhiều phụ nữ mắc phải chứng trầm cảm sau sinh này. Có thể sẽ mất thời gian, nhưng chắc chắn là bạn sẽ khá hơn sau khi được điều trị.

Ths.Bs Nguyễn Tường Vũ

Theo báo sức khỏe

Não bộ của trẻ dễ bị tổn thương khi tình trạng thiếu oxy xảy ra

Câu hỏi:

Con của cháu đi khám Bv nhi trung ương chẩn đoán chậm phát triển do đẻ ngạt. Cháu bé hiện giờ đã được 15 tháng tuổi nhưng chưa biết ngồi, phản xạ yếu ví dụ như lấy tay đánh gió vào mặt cháu không có phản xạ nhắm mắt.

Không biết cầm nắm đồ vật, không nhận ra Bố mẹ. Cháu còn có biểu hiện co giật nhẹ và được Bs chẩn đoán là sóng động kinh nhẹ qua đo điện não đồ.

Cháu có uống thuốc thì thấy đỡ hẳn. Nhưng mấy ngày hôm nay đang ngủ cháu có biểu hiện tỉnh dậy mắt trợn ngược khoảng 1 phút. Hiện tại gia đình rất hoang mang. Xin Bs cho 1 lời khuyên về tình trạng bệnh của cháu là như thế nào? Chân thành cám ơn Bs.

Phạm Hữu Lâm
nao-bo-cua-tre-de-bi-ton-thuong-khi-tinh-trang-thieu-oxy-xay-ra
Trả lời:

Chào bạn Lâm!

Chúng tôi rất thông cảm với hoàn cảnh của bạn. Như bạn biết mô thần kinh đặc biệt là não bộ của trẻ dễ bị tổn thương, tổn thương sớm và nặng khi tình trạng thiếu oxy xảy ra. Trẻ sanh ngạt sẽ bị thiếu oxy não và tổn thương não xảy ra.

Mức độ tổn thương não tùy thuộc vào mức độ thiếu oxy và thời gian trẻ thiếu oxy. Hậu quả của tổn thương này là trẻ mất các chức năng thần kinh, trẻ chậm phát triển hoặc thậm chí không phát triển được. Đồng thời trẻ sẽ có nguy cơ rất cao mắc một số bệnh lý về thần kinh trong đó thường gặp nhất là động kinh.

Theo như bạn mô tả thì đúng là con bạn đã bị di chứng của tình trạng thiếu oxy não do sanh ngạt. Cháu bị chậm phát triển tâm thần vận động và từ lúc 6 tháng bắt đầu có cơn động kinh. Việc điều trị động kinh lúc đầu có hiệu quả và đến nay thì xuất hiện lại cơn động kinh, đây cũng là một trong những diến tiến thường gặp của nhóm bệnh lý này.

Việc cần làm bay giờ là bạn đưa cháu đến bệnh viện để các bác sĩ chỉnh lại liều thuốc loại thuốc để khống chế cơn co giật hạn chế tình trạng xấu đi. Đồng thời với điều trị động kinh là các phương pháp tâp vật lý trị liệu giúp cháu phục hồi dần. Chúc bạn nhiều kiên nhẫn

Trả lời bởi: BS.CK2.Lê Thị Khánh Vân – TK. Nội Thần Kinh

Có phải bé bị rối loạn giấc ngủ ?

Câu hỏi:

Thưa Bác sĩ

Con tôi 24,5 tháng. Cách đây 2 tuần, cháu bị sốt phát ban và Bs cho xét nghiệm máu, chẩn đoán sốt phát ban do nhiễm siêu vi, nhưng trong quá trình phát ban vẫn có lúc bé sốt nhẹ và sau 4 ngày (kể từ khi bắt đầu sốt) lúc ngủ bé hay bị giật mình nhẹ và liên tục làm cho bé ngủ không ngon ( không có sốt) .

Tôi cho bé đi khám nhiều lần ( khi ban đã hết và không sốt) Bs lại chẩn đoán bé chỉ bị rối loạn do nhiễm siêu vi, sẽ tự khỏi, cho uống calcium và magne B6 trong 5 ngày, đến nay thì bé đã hoàn toàn hết ban, đã uống hết thuốc nhưng cháu vẫn bị hiện tượng giựt nhẹ tay chân khi ngủ ( bị liên tục kể từ khi bắt đầu ngủ cho đến khi ngủ say).

Khi thức giấc thì bé hoàn toàn bình thường, vui chơi và ăn uống. Chỉ có điều là làm biếng ăn hơn 1 chút và hay cáu gắt. Tôi rất lo lắng, bé cũng không ngủ được ngon. Kính mong Bs giúp tôi nên đi khám ở chuyên khoa nào và làm sao để bé hết hiện tượng trên. Trân trọng cám ơn.
co-phai-be-bi-roi-loan-giac-ngu
Trả lời:

Bạn Vân Anh thân mến!

Ngủ là nhu cầu bắt buộc của cơ thể người, là quá trình các tế bào thần kinh trong não bị ức chế. Điều này tạo điều kiện cho các tế bào thần kinh nghỉ ngơi và phục hồi chức năng. Các quá trình ức chế trong hoạt động thần kinh cao cấp có thể là ức chế tạm thời hay thường xuyên. Ngủ là quá trình ức chế lan tỏa, khuyếch tán khắp vỏ não, sau đó xuống đến các nhân dưới vỏ, não trung gian và não giữa. Quá trình này được điều hòa bởi trung tâm ngủ của vỏ não. Nhờ sự điều hòa đó mà con người duy trì trạng thái thức ngủ và chúng ta có thể thức ngay khi có kích thích đúng mức.

Giấc ngủ bình thường có năm giai đoạn tuần tự xảy ra và lặp lại. Trên điện não sẽ biểu hiện giai đoạn ngủ sóng chậm và ngủ cử động mắt nhanh. Một số tính chất và biểu hiện trong các giai đoạn giấc ngủ cũng khác nhau. Vì thế trong giác ngủ theo chu kỳ ngày đêm đôi lúc vẫn có một số nhịp co cơ hoặc thậm chí giật cơ. Tuy nhiên các nhịp này có tần số thấp, mức độ nhẹ và thừơng không làm thức giấc, không gây ảnh hưởng đến giấc ngủ.

Theo như những điều bạn đã mô tả về vấn đề liên quan đến sức khỏe của con bạn, chúng tôi nghĩ rằng con bạn đang có một số biểu hiện của rối loạn giấc ngủ. Biểu hiện giật mình, giật nhẹ tay chân trong lúc ngủ là hiện tượng cũng có thể gặp ở trẻ em. Các biểu hiện này đôi khi thoáng qua nhưng cũng đôi khi kéo dài, có thể chỉ có trong một giai đoạn của giấc ngủ nhưng cũng có khi xuất hiện trong nhiều giai đoạn của giấc ngủ.

Nguyên nhân của các cử động tứ chi từng đợt trong giấc ngủ thường không rõ, đôi khi do rối loạn chuyển hóa của một số chất điện giải hoặc một số rối loạn chức năng hệ thần kinh. Một tình trạng hiếm găp khác cũng cần chú ý đó là cơn động kinh ban đêm. Bạn nên đưa con bạn đến phòng khám khoa thần kinh để được khám và làm thêm xét nghiệm trước khi có hướng điều trị cụ thể.

Trả lời bởi: BS.CK2. Lê Thị Khánh Vân – TK.Nội Thần Kinh

Viêm tai giữa ở trẻ: Bệnh nguy hiểm khó lường

Viêm tai giữa là một bệnh thường gặp ở trẻ em. Nếu không được điều trị triệt để, bệnh có thể gây ra các biến chứng nguy hiểm như viêm màng não, áp xe não, gây liệt dây thần kinh số 7.

Viêm tai giữa thường gặp ở trẻ từ 6 tháng tới 3 tuổi. Trẻ thường mắc viêm tai giữa do viêm VA lan vào vòi nhĩ, làm cho vòi nhĩ bị viêm và tắc lại. Ở trẻ em, vòi nhĩ ngắn hơn, khẩu kính lớn hơn ở người lớn nên vi khuẩn và các chất xuất tiết ở mũi họng rất dễ lan lên tai giữa. Đặc biệt, hệ thống niêm mạc đường hô hấp (niêm mạc mũi họng, niêm mạc hòm tai, niêm mạc khí phế quản…) ở trẻ rất nhạy cảm, rất dễ phản ứng với những kích thích bằng hiện tượng xuất tiết dịch, làm cho dịch ứ đọng nhiều trong hòm tai, gây viêm.

viem-tai-giua-o-tre-benh-nguy-hiem-kho-luong

Điều nguy hiểm là viêm tai giữa cấp ở trẻ nhỏ có thể gây thủng màng nhĩ, làm tiêu xương… ảnh hưởng đến sức nghe của trẻ và dẫn đến rối loạn ngôn ngữ. Nếu không được điều trị triệt để, bệnh có thể gây các biến chứng nhiễm trùng sọ não rất nguy hiểm như viêm màng não, áp xe não, viêm tắc tĩnh mạch bên hoặc gây liệt dây thần kinh mặt (dây số 7).

Ở giai đoạn đầu, biểu hiện của bệnh viêm tai giữa không rõ rệt, trẻ không sốt, không đau tai, rất ít khi có ù tai, không chảy dịch ở tai. Triệu chứng duy nhất là trẻ bị nghễnh ngãng nên các bà mẹ thường hay bỏ qua và cho rằng trẻ thiếu tập trung. Khi chuyển sang giai đoạn mạn tính mới có hiện tượng chảy mủ tai. Vì vậy, ngay từ giai đoạn ủ bệnh (trẻ sốt, thường là sốt cao 39-40oC, quấy khóc nhiều, trẻ bé thường bỏ bú, kém ăn, nôn trớ, đi ngoài, co giật, lấy tay dụi vào tai…), người lớn cần đưa trẻ đi khám và điều trị. Nếu được phát hiện sớm, thầy thuốc sẽ chủ động chích rạch dẫn lưu hoặc sau khi vỡ mủ được điều trị cẩn thận thì bệnh sẽ khỏi sau 1-2 tuần, không để lại di chứng.

Hiện nay, với kỹ thuật nội soi, các thầy thuốc sẽ dùng kính hiển vi điện tử để chích một lỗ nhỏ ở màng nhĩ và đặt vào đó một ống thông nhỏ. Ống thông khí xuyên qua màng nhĩ nhằm hút sạch dịch nhầy quánh trong hòm nhĩ ra ngoài và lưu ống thông khí tại chỗ để dịch có thể tự chảy ra ngoài.

Để phòng bệnh viêm tai giữa cho trẻ, người lớn phải giữ gìn vệ sinh mũi họng hằng ngày cho bé sạch sẽ, hạn chế tối đa trẻ bị viêm mũi họng. Khi trẻ nôn trớ, không nên đặt trẻ nằm đầu thấp vì chất nôn dễ tràn vào tai giữa. Khi gội đầu cho trẻ, không nên hạ thấp đầu quá, nước sẽ chảy vào tai giữa, gây viêm. Nếu trẻ bị viêm mũi họng và viêm VA thì phải điều trị dứt điểm, đúng cách vì đó là nguyên nhân gây viêm tai giữa.

Trong nhiều trường hợp, nếu viêm VA quá nặng phải tiến hành nạo VA, khi có chỉ định của bác sĩ. Khi nghi ngờ trẻ bị viêm tai giữa, các bậc cha mẹ cần đưa trẻ đi khám tại chuyên khoa tai mũi họng ở các bệnh viện có uy tín. Tuyệt đối không được tự ý điều trị cho trẻ.

Lưu ý, viêm tai giữa là một bệnh dễ tái phát, vì thế, trẻ cần được theo dõi thường xuyên ở các cơ sở y tế chuyên khoa.

Theo afamily

Trẻ bị tiêu chảy, mẹ cật lực kiêng khem là sai lầm

Đặc biệt trong mùa hè, trẻ bị tiêu chảy càng nhiều, để chăm con đúng cách trong trường hợp này không phải bậc phụ huynh nào cũng biết.

Trẻ bị tiêu chảy, mẹ cật lực kiêng khem

Mới đi học mẫu giáo được vài ngày, bé Cún đã được mẹ là chị Thu (Yên Ninh, Hà Nội) cho nghỉ học gấp vì bé bị sụt sịt liên miên, mấy hôm nay còn kèm theo tiêu chảy. Nghe bà hàng xóm mách, chị ngừng toàn bộ sữa, các chế phẩm từ sữa, thịt, cá, tôm, cua… chị chỉ cho bé Cún ăn cháo trắng với nước mắm.

dieu-tri-tre-bi-tieu-chay-sai-lam-khi-me-qua-kieng-khem

Chị cho rằng: “Con bị tiêu chảy chứng tỏ hệ thống tiêu hóa của con đang bị ốm yếu, nếu ăn thức ăn khó tiêu như thịt cá, sữa thì càng mệt hơn. Tốt nhất ăn càng ít càng tốt”. Lý do tưởng chừng như hợp lý trên lại là một sai lầm phổ biến của nhiều bà mẹ.

Chị Hằng (Hà Đông, Hà Nội) là một ví dụ. Thực đơn ăn của bé Mai nhà chị dạo này chỉ là cháo trắng loãng với cà rốt. Nguyên nhân cũng chỉ do bé bị tiêu chảy, chị nghĩ nát óc mà không hiểu tại sao con lại bị đi ngoài. Thấy con héo mòn, ăn cháo trắng suốt nên chán, lười ăn, chị càng lo lắng hơn. Nhìn con đòi ăn sữa mà chị xót hết cả ruột. Nhưng cái sự kiêng khem của chị chưa đi đến đâu bởi bé ngày một ốm yếu, xanh rớt, phải đến khi bé ngất xỉu chị mới đưa bé vào viện.

Tại bệnh viện, bác sĩ nói rằng: “May chị vào sớm để bé được truyền nước kịp thời, chậm chút nữa thì tính mạng bé còn khó giữ”. Nghe những lời nói này mà gia đình chị lo lắng vô cùng, chị không tin được rằng kinh nghiệm “vàng” truyền miệng như vậy hóa ra là sai lầm.

Chăm trẻ bị tiêu chảy: Sai lầm khi kiêng khem

Thạc sĩ, Bác sĩ Vũ Văn Lực – Viện Bảo hộ lao động cho rằng, không chỉ hai trường hợp trên mà có rất rất nhiều bậc phụ huynh mắc phải sai lầm này. Họ cứ thấy con bị tiêu chảy là họ cho dừng toàn bộ đồ ăn dinh dưỡng, chỉ cho con ăn cháo loãng với muối hoặc nước mắm.

Tiêu chảy là một bệnh lý mà trẻ gặp khá nhiều. Khi bị mắc phải bệnh này, trẻ sẽ thường xuyên trong tình trạng chán ăn, cơ thể mệt mỏi vì bị mất nước và một điều vô cùng nguy hiểm là nếu cha mẹ không bù nước kịp thời cho con, cơ thể con sẽ gặp tình trạng mất nước, mất nước là một nguy cơ khiến trẻ bị tử vong rất cao.

Bác sĩ khẳng định việc cha mẹ cho bé kiêng ăn tôm, cua, thịt, cá sữa là một hành động sai lầm, nếu kéo dài, chính cha mẹ sẽ khiến bé phải đối diện với nguy cơ bị suy dinh dưỡng cơ thể trong tương lai.

Vậy khi bé bị tiêu chảy thì cha mẹ phải làm gì?

Bé bị tiêu chảy nên thường bị mất nước, cơ thể thiếu nước sẽ dẫn đến những biến chứng nặng nề, có thể ảnh hưởng đến tính mạng. Việc cần làm đầu tiên đó là cha mẹ nên cho bé uống bù nước ngay và liên tục. Ngoài nước lọc, cha mẹ có thể cho bé uống các dung dịch bù nước thông dụng như oresol, dừa xiêm non, mỗi 15 phút cho bé uống một lần. Cha mẹ nên theo dõi nếu bé đi tiểu nhiều, linh động, da tươi tắn, hồng hào thì đó là một dấu hiệu tốt.

Bậc phụ huynh nên chủ động cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho bé (bữa ăn hàng ngày luôn đủ 4 nhóm thực phẩm chính: bột đường, chất đạm, chất béo, rau củ quả). Bác sĩ Lực khuyên chị em nên cho bé ăn đầy đủ chất đặc biệt là thịt gà, lợn, cá nạc, sữa và các chế phẩm từ sữa. Trong thời điểm này, có thể bé rất mệt mỏi lười ăn nhưng cha mẹ không nên quá lo lắng, không nên ép bé mà nên động viên khuyến khích bé ăn. Cho bé ăn giãn bữa, ăn ít một, ăn theo nhu cầu với đồ ăn mềm, loãng. Với trẻ nhỏ, mẹ nên tăng cường cho bé bú.

Ngoài ra, bậc phụ huynh nên chú ý tới vệ sinh an toàn thực phẩm, tránh nguy cơ bị bội nhiễm. Cha mẹ cần cho bé ăn chín uống sôi, hạn chế sử dụng lò vi sóng bởi chưa chắc đồ ăn đã được đun kỹ. Cha mẹ cần chế biến đồ ăn ăn tới đâu nấu tới đó, tránh thức ăn cũ, lưu cữu ngày này qua ngày khác.

Phòng ngừa bệnh tiêu chảy cũng là một điều mà cha mẹ nên nằm lòng, bạn cần lưu ý những điều sau: Cha mẹ nên mua, chế biến những thực phẩm sạch và được nấu chín, hạn chế cho bé ăn thức ăn nhanh, thức ăn không đảm bảo được bày bán ngoài đường. Giúp bé có thói quen rửa tay sạch bằng xà phòng trước khi ăn, dạy bé nói không với mút tay. Tuyệt đối cho bé tránh xa ổ bệnh, người đang bị tiêu chảy.

Nếu bé có dấu hiệu của tiêu chảy, sau khi làm theo những lời khuyên trên mà chưa thấy bé đỡ, cha mẹ không nên chần chừ, hãy đưa bé ngay tới bệnh viện để thăm khám kịp thời.

Phương pháp giúp bé nhận đủ vitamin D

Khuyến khích con chơi ngoài trời, cho bé ăn nhiều cá, uống sữa… là những cách đơn giản giúp con nhận đủ lượng vitamin hữu ích.

Từ tháng 10/2008, Hội nhi khoa Mỹ khuyến cáo nên tăng gấp đôi liều vitamin D cho tất cả trẻ, từ bé sơ sinh đến thanh thiếu niên, từ 200 đơn vị (IU) lên 400 đơn vị mỗi ngày.

Cơ thể cần vitamin D để hấp thụ canxi, để bé không bị còi xương – bệnh có thể gây ra dị tật xương về lâu dài và cản trở tăng trưởng hay gây ra bệnh loãng xương ở người lớn. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cho rằng sử dụng vitamin D có thể giúp tăng cường hệ thống miễn dịch của trẻ và giảm nguy cơ mắc một số bệnh ung thư, tiểu đường và bệnh tim.

Bạn có thể bổ sung vitamin D cho con thế nào? Cách tự nhiên nhất để nhận được vitamin D là phơi nắng. Nhưng trong những ngày lạnh và không có nắng, việc này có vẻ khó khăn. May mắn là, bạn có thể cung cấp vitamin D cho con từ thức ăn mỗi ngày như sữa bò, sữa đậu nành, nước cam, ngũ cốc…

phuong-phap-giup-be-nhan-du-vitamin-d

Dưới đây là một số cách để giúp con bạn nhận được đủ vitamin D:

Uống sữa

Đối với những trẻ không uống sữa hay không dung nạp lactose trong sữa, sữa đậu nành tăng cường vitamin D có thể thay thế. Tuy nhiên, để nhận được đủ liều, trẻ phải uống 4-5 cốc mỗi ngày. Và nếu uống hoàn toàn sữa bò thì cũng không tốt cho sức khỏe, vì có thể gây ra táo bón, tăng cân, thậm chí thiếu sắt và một số vấn đề khác.

Chơi ngoài trời

Người Mỹ ước tính dành 93% thời gian trong nhà. Chỉ vì thời tiết giá lạnh không có nghĩa là chúng ta phải đóng cửa trong nhà. Hãy cho trẻ ra ngoài trời, với bé lớn hơn khuyến khích các con vận động và tập thể dục. Chỉ cần 5-30 phút giữa 10 giờ sáng đến 3 giờ chiều hai lần mỗi tuần là đã tăng cường được lượng vitamin D, thêm nữa giúp cơ thể năng động, dẻo dai hơn.

Ăn cá

Thật không dễ để bé ăn hết cả hộp cá mòi hay một thìa dầu gan cá, nhưng cá nói chung đều giàu vitamin D. May mắn là cá ngừ, cá hồi, cá trích, cá da trơn và một số loại cá béo khác đều là nguồn cung cấpvitamin D có lợi cho dinh dưỡng của trẻ.

Bổ sung bằng thuốc

Vitamin D bổ sung có thể nhận được từ viên uống, viên nang hoặc dạng dung dịch. Nếu bé uống vitamin tổng hợp, cần đảm bảo nó có ít nhất 400 IU vitamin D. Với trẻ sơ sinh, cả bú mẹ hay bú sữa công thức, bác sĩ nhi khoa có thể kê bổ sung vitamin D dạng lỏng.

Các bà mẹ mang thai và cho con bú nên tư vấn bác sĩ khi muốn bổ sung vitamin D vì có thể loại vitamin tổng hợp bạn sử dụng đã chứa chất này.

Nên cắt amiđan cho trẻ khi nào?

Vào mỗi dịp hè, phụ huynh thường đưa con đến bệnh viện để cắt amiđan. Trong số đó không ít quí phụ huynh còn thắc mắc con mình được cắt amiđan như vậy có đúng không?

* Trẻ mấy tuổi có thể cắt amiđan được?

– Đây là câu hỏi thường gặp nhất, và cũng là vấn đề thường bị hiểu sai nhiều nhất do sự truyền miệng với nhau giữa các bậc phụ huynh hoặc cũng có thể do sự tư vấn không chính xác của các nhân viên y tế. Thật sự việc cắt amiđan hoàn toàn không phụ thuộc vào tuổi mà phụ thuộc mức độ nghiêm trọng của bệnh do amiđan gây ra.

* Cắt amiđan có làm giảm sức đề kháng hoặc ảnh hưởng đến miễn dịch của trẻ không?

– Amiđan là một trong những cơ quan miễn dịch ở đường tiêu hóa và hô hấp trên, có chức năng tiết ra một số globuline để phòng chống một số bệnh đi vào cơ thể qua đường miệng. Tuy nhiên, cho tới nay các nghiên cứu trên thế giới cho thấy khi theo dõi ở các trẻ đã được cắt amiđan thì lượng globuline miễn dịch này có sự thay đổi không đáng kể và không hề ảnh hưởng đến chức năng miễn dịch của trẻ.

nen-cat-amidan-cho-tre-khi-nao1

* Cắt amiđan khi nào?

– Các chỉ định cắt amiđan ở trẻ em bao gồm. Thứ nhất, cắt amiđan khi amiđan phì đại gây tắc nghẽn, có hội chứng ngưng thở trong khi ngủ, bé thường có các triệu chứng như ngủ ngáy, trong giấc ngủ có cơn ngưng thở tím tái, giật mình, quấy khóc, đái dầm… Hoặc khi bé chậm lớn, kém ăn, hay bị ói, khó nuốt, khó nói do amiđan quá to.

Thứ hai, cắt amiđan khi bé bị viêm amiđan mãn tính, tái phát nhiều lần trong năm làm ảnh hưởng nhiều đến việc học tập, sức khỏe và tài chính.

Thứ ba, cắt amiđan khi viêm amiđan gây ra các biến chứng như viêm phế quản phổi, viêm cơ tim do vi trùng ở amiđan, viêm cầu thận, viêm khớp do vi trùng ở amiđan, ápxe quanh amiđan, viêm hạch cổ. Ngoài ra còn có những chỉ định cắt amiđan khác như trong trường hợp nghi ngờ bị ung thư, hoặc hôi miệng do amiđan có nhiều ngách hay đọng lại thức ăn, sỏi amiđan, nấm amiđan.

* Cắt amiđan có nằm viện không?

– Hiện nay tại các bệnh viện lớn, các trẻ từ bốn tuổi trở lên có thể cắt amiđan và xuất viện trong cùng một ngày, nếu ở xa có thể nằm lại bệnh viện một đêm, các trẻ dưới bốn tuổi cắt amiđan vì những lý do đặc biệt bắt buộc thì nhập viện 2-3 ngày cho đến khi thật sự ổn định mới xuất viện.

* Cắt amiđan có tai biến nguy hiểm không?

– Tuy là một phẫu thuật đơn giản, thời gian phẫu thuật ngắn, thường tối đa không quá 30 phút, nhưng cũng như các phẫu thuật khác, phẫu thuật cắt amiđan cũng tiềm ẩn những tai biến như tai biến do gây mê, tai biến do chảy máu sau mổ. Để phòng ngừa những tai biến này, quí phụ huynh báo cho bác sĩ biết rõ những tiền căn dị ứng hoặc những bệnh lý nội ngoại khoa mà bé đã hoặc đang có. Đồng thời sau mổ kiêng các thức ăn cứng, nóng, chua, cay. Ăn các thức ăn lỏng, nguội, mềm trong vòng 15 ngày đầu để tránh chảy máu sau mổ.

* Sau khi cắt amiđan trẻ có cần cữ nói?

– Khác với quan niệm trước kia là sau khi cắt amiđan phải cữ nói, ngày nay với các phương pháp mổ hiện đại như cắt amiđan bằng dao điện, bằng laser hoặc bằng coblation, sau khi cắt trẻ có thể nói chuyện được ngay. Tuy nhiên vẫn tránh những hoạt động thể lực như chạy chơi, bơi lội, đá bóng…

Giảm bớt ảnh hưởng loét miệng ở trẻ

 Loét miệng xảy ra quanh năm ở trẻ nhỏ, nhưng vào mùa nắng, nóng thì tỷ lệ mắc bệnh này cao hơn. Điều này gây đau đớn cho trẻ và ảnh hưởng không nhỏ đến việc chăm sóc và nuôi dưỡng.

Trong dân gian hay gọi loét miệng là nhiệt miệng, tức là trong cơ thể bị nóng, phát ra nhiệt gây loét niêm mạc miệng. Thông thường nhiệt miệng có nhiều vết loét cho nên làm cho trẻ rất khó chịu, chảy nước miếng nhiều, trẻ gầy sút do không ăn được hoặc ăn rất ít .

Trẻ thường mệt mỏi, khó ngủ hay quấy khóc vì đau, nhất là lúc ăn, uống. Loét miệng cũng có thể do virus Herpes và thường chỉ gây nên một vết loét. Loét miệng do virus Herpes cũng có các triệu chứng như loét miệng do nhiệt.
nhiet-mieng-o-tre-2
Ngoài ra loét miệng có thể do virus thủy đậu (bệnh thủy đậu), virus gây bệnh tay chân miệng (virus Coxsackie A16 hoặc virus EV 71). Loét miệng do virus thủy đậu hoặc virus gây bệnh tay chân miệng thì ngoài gây các nốt phỏng ở da, niêm mạc lòng bàn tay, chân, mông (bệnh tay chân miệng) cũng có thể gây các nốt phỏng ở niêm mạc miệng. Niêm mạc miệng do bệnh thủy đậu hoặc do bệnh tay chân miệng thường có nhiều nốt phỏng, loét, gây đau, rát, chảy nước miếng và đồng thời có sốt.

Ở những cơ thể trẻ do nuôi dưỡng thiếu chất hoặc trẻ hấp thu kém, gây thiếu một số vi chất cần thiết như vitamin PP, vitamin C, vitamin B12, axit folic, chất sắt cũng có thể gây loét miệng. Loét miệng cũng có thể do chấn thương làm viêm, dập nát niêm mạc miệng (trẻ bị ngã đập vào vùng miệng) hoặc có thể do ăn thức ăn hoặc nước uống nóng quá làm bỏng, loét niêm mạc miệng gây đau. Trẻ lớn gặp stress liên tục cũng có thể gây nên loét miệng.

Loét miệng do nhiều nguyên nhân khác nhau có loại đơn thuần (nhiệt miệng) nhưng có loại có thể gây biến chứng nguy hiểm, vì vậy khi trẻ bị loét miệng nên cho trẻ đi khám bệnh để xác định nguyên nhân.

Loét miệng gây đau, rát cho nên dùng thuốc giảm đau cho trẻ là rất cần thiết nhưng dùng loại gì cho phù hợp với từng trẻ là công việc của bác sỹ khám bệnh, các bậc phụ huynh không nên tự mua thuốc điều trị cho trẻ. Nên cho trẻ ăn thức ăn lỏng, nhuyễn (cháo, súp, bột dinh dưỡng), không nóng, không cay, không chua và tốt nhất là hợp với khẩu vị thường ngày của trẻ.

Theo tiền phong

Nhiễm trùng tai ở trẻ

Nhiễm trùng tai là căn bệnh thường xảy ra với trẻ, đặc biệt là với trẻ dưới 3 tuổi. Để phòng ngừa căn bệnh này, các bác sĩ nhi khoa khuyến cáo các bậc cha mẹ nên lưu ý một số điểm sau:

– Không được dùng vật nhọn hay bất cứ đồ vật nào cho vào tai trẻ để làm sạch tai. Việc làm này sẽ càng khiến ráy tai hoặc chất dịch đi sâu vào ống tai hơn.

– Nhỏ 2, 3 giọt dầu oliu vào tai trẻ vài tuần 1 lần để làm sạch tai và ráy tai.

nhiemtrungtai

– Thường xuyên massage phía sau tai và xuống cổ để các chất lỏng di chuyển thông qua các hạch bạch huyết và ra khỏi tai. Bạn có thể làm thao tác này khi cho trẻ bú mẹ hoặc bú bình.

– Cho trẻ ăn thực phẩm tự nhiên, hạn chế những thực phẩm chế biến sẵn. Trẻ ăn nhiều thực phẩm đường (từ phẩm màu màu nhân tạo hoặc hương liệu) có thể làm suy giảm hệ thống miễn dịch, khiến trẻ dễ bị bệnh nhiễm trùng và thời gian khỏi bệnh sẽ lâu hơn.

– Trẻ bú sữa mẹ thường ít bị nhiễm trùng tai hơn trẻ bú bình. Điều này không chỉ do các kháng thể trong sữa mẹ mà còn bởi sữa mẹ rất giàu dinh dưỡng như axit béo omega-3, vitamin D rất cần thiết cho sự phát triển của trẻ và ngăn ngừa bệnh tật.

Theo an ninh thủ đô

Mẹo giúp bạn xử lý nghẹt mũi cho bé

Bạn cần có dung dịch muối sinh lý và một dụng cụ hút mũi hình bóng đèn để làm giảm nghẹt mũi cho bé.
Chuẩn bị: Lọ nước nhỏ mũi muối sinh lý; dụng cụ hút mũi hình bóng đèn; khăn xô; phòng tắm bốc hơi nước nóng.

Lưu ý: Bạn có thể tự làm dung dịch nước muối nhỏ mũi với một thìa muối hòa trong một cốc nước ấm. Không dùng thuốc nhỏ mũi cho bé.

Chỉ nên nhỏ mũi và hút mũi cho bé khoảng 15 phút trước bữa ăn.

nghet-mui

Thực hiện:

– Trước tiên, bạn bế bé lên, nhỏ nước muối lần lượt vào hai bên mũi cho bé.

– Dùng dụng cụ hút mũi, hút từng bên mũi cho bé. Nếu bé hắt hơi và tống ra nước mũi thì nên loại bỏ dụng cụ hút mũi ra ngoài. Sau đó, dùng khăn mềm, lau sạch cho bé.

– Đưa bé vào phòng tắm đang bốc hơi. Giữ để bé được an toàn khi hít hơi nước nóng trong phòng tắm.

– Cho bé ra ngoài, có thể đặt bé nằm cao đầu trong cũi bằng cách cuộn tròn 2 chiếc khăn tắm lại rồi kê dưới đệm cũi. Hoặc cho bé ngồi trong xe đẩy, với phần đầu xe đẩy được nâng cao.