Tag Archives: bệnh nhân ung thư

Người có nhóm máu O ít tái phát ung thư tuyến tiền liệt

Qua khảo sát của các nhà khoa học Nhật Bản tại ĐH Y khoa Tokyo cho thấy, bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt thuộc nhóm máu O ít có nguy cơ tái phát hơn bệnh nhân nhóm máu khác và phát hiện này mở ra hướng trị liệu mới cho căn bệnh ung thư phổ biến nhất ở nam giới.

nguoi-co-nhom-mau-o-it-tai-phat-ung-thu-tuyen-tien-liet
Theo trang tin MNT, TS. Yoshio OHno và cộng sự đã khảo sát 555 ca ung thư tuyến tiền liệt khu trú đã được cắt bỏ tuyến tiền liệt tận gốc (RP) – thủ thuật vốn được xem là tiêu chuẩn vàng đối với bệnh này. Tuy nhiên, qua thời gian đã có 30% bệnh nhân có mức độ kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA) tăng cao sau phẫu thuật, một dấu chỉ sinh hóa học cho thấy bệnh nhân bị tái phát.
Theo dõi trong vòng 52 tháng, các nhà khoa học ghi nhận rằng những bệnh nhân nhóm máu O có nguy cơ bị tái phát thấp hơn 35% so với bệnh nhân nhóm máu A.

Nguồn sức khỏe đời sống

Hóa trị – Xạ trị không còn là nỗi lo với bệnh nhân ung thư

 Ung thư hiện nay vẫn đang là một gánh nặng cho toàn cầu. Một căn bệnh nguy hiểm mà khoa học vẫn chưa tìm ra thuốc đặc trị.
Theo thống kê của cơ quan Nghiên Cứu Ung Thư Quốc Tế (IARC), năm 2008, trên thế giới có 12,7 triệu người mắc bệnh ung thư, 7,6 triệu người đã chết vì căn bệnh này. Chỉ tính riêng ở Việt Nam, trong năm 2008, cứ 100.000 người dân thì có 138,7 người mắc bệnh ung thư, trong đó có 101 người tử vong. Các phương pháp điều trị ung thư hiện nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới chủ yếu phẫu thuật cắt bỏ khối u, kết hợp với truyền hoá chất trị liệu và xạ trị.

Tuy vậy ngoài tác dụng tích cực của hoá trị và xạ trị là tiêu diệt tế bào ung thư song vẫn còn nhiều tác dụng phụ gây tổn hại cho những tế bào lành, tế bào vùng lân cận, nhất là tế bào máu được tạo ra từ tuỷ xương, tế bào chân tóc, tế bào trong miệng, đường tiêu hoá, trong tim, phổi, và hệ thống sinh sản, ảnh hưởng rất lớn tới sức khoẻ người bệnh.

hoa-tri-xa-tri-khong-con-la-noi-lo-voi-benh-nhan-ung-thu

Tác dụng phụ thường gặp sau hoá trị và xạ trị của bệnh nhân ung thư là:

– Giảm sức đề kháng

– Thiếu máu (giảm số lượng hồng cầu)

– Buồn nôn và nôn, mệt mỏi, chán ăn, sụt cân

– Rụng tóc: thường khởi phát từ 3-4 tuần sau chu kỳ điều trị đầu tiên

– Đặc biệt lưu ý, Ung thư tăng nguy cơ hình thành huyết khối và việc hoá trị càng khiến nguy cơ này tăng cao hơn, gây nguy hiểm đến tính mạng.

Trên thực tế đa số bệnh nhân Ung thư chỉ tập trung vào điều trị mà chưa chú trọng đến việc hạn chế đến mức thấp nhất tác dụng phụ (có hại) của Hoá trị và Xạ trị. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy kiệt, sức khoẻ ngày càng giám sút trầm trọng. Nhiều bệnh nhân Ung thư chết do suy kiệt trước khi chết vì khối ung thư. Điều này cho thấy cần phải lưu tâm tới tác dụng phụ của Hoá trị và Xạ trị.
Bệnh nhân Ung thư phải đối mặt với rất nhiều hậu quả từ chính căn bệnh này gây ra, thêm vào đó những tác dụng phụ từ việc sử dụng hoá chất trị liệu đã ảnh hưởng một phần không nhỏ vào tâm lý và thể chất của người bệnh. Vì thế, sự cần thiết là phải lưu ý đến những tác dụng không mong muốn của hoá chất gây ra là hết sức quan trọng để từ đó có những biện pháp tích cực trong việc giảm thiểu những tác dụng phụ cho bệnh nhân, nhằm nâng cao chất lượng điều trị và mang lại những lợi ích thiết thực hơn cho người bệnh.

Theo dân trí

Chỉ mất 30 phút để phát hiện ra ung thư não

Ung thư não rất khó phát hiện vì người bệnh chỉ có một vài triệu chứng biểu hiện chính như: đau đầu, mệt mỏi hay ngủ lơ mơ. Tỉ lệ sống sót đối với bệnh nhân ung thư não sẽ tăng lên khi thời gian chuẩn đoán bệnh chỉ mất vài chục phút.

Anh Jay Lynchehaun, 27 tuổi, bệnh nhân ung thư não sống tại Lancs, cho biết: “Từ triệu chứng đầu tiên đến khi tiến hành phẫu thuật phải mất tới 10 tháng. Nếu sớm được chuẩn đoán có khối u trong não thì bệnh tình của tôi giờ đây có lẽ đã không nghiêm trọng”. Nhưng hiện nay các nhà nghiên cứu tại Đại học Central Lancashire chỉ mất không quá 30 phút đã có thể phát hiện chính xác khối u trong não của người bệnh.

chi-mat-30-phut-de-phat-hien-ra-ung-thu-nao
Tiến sĩ Matt Baker, trưởng nhóm nghiên cứu, nói rằng phương pháp phân tích máu bằng tia hồng ngoại giúp tìm ra sự khác biệt giữa các phần tử máu của người bị ung thư não với người bình thường.

Các chuyên gia hy vọng trong thời gian tới phương pháp phát hiện sớm ung thư não của nhóm nghiên cứu tại Đại học Central Lancashire sẽ được ứng dụng trong việc kiểm tra sức khỏe định kỳ.

Thống kê cho thấy mỗi năm ở Anh có khoảng 9.000 người được chuẩn đoán có khối u trong não, trong đó khoảng 5.000 người chết.

Nguồn news.go

Những thực phẩm dành cho bệnh nhân ung thư vú

Sau hai thập kỷ chứng kiến sự gia tăng số người bị ung thư vú, số người bị bệnh đang giảm đi trong những năm gần đây. Tuy nhiên, chuyên gia đang ra sức kiếm tìm những con đường mới để cứu sống tính mạng của bệnh nhân.

“Chúng ta phải có cái nhìn toàn diện về khả năng sống của người bệnh,” BS. Alison Estabrook, trưởng nhóm phẫu thuật vú tại St. Luke’s-Roosevelt và là giám đốc Trung tâm Ung thư vú nói. “Rõ ràng là thói quen ăn uống tốt sẽ làm tăng khả năng không bị ung thư vú hoặc không bị tái phát.”

Không phải bác sĩ ung thư nào cũng nắm rõ mối liên quan giữa dinh dưỡng và tuổi thọ, nhưng các bác sĩ chuyên về dinh dưỡng cho biết có một số loại thực phẩm mà phụ nữ nên đưa vào chế độ ăn của mình để làm tăng khả năng sống.

Đậu nành
nhung-thuc-pham-danh-cho-benh-nhan-ung-thu-vu
BS Barry Boyd, sáng lập viên của chương trình y học tích hợp tại Bệnh viện Greenwich-Hệ thống Y tế Yale, cho rằng phụ nữ không còn phải sợ  ăn đậu nành.

“Đã từng có mối lo ngại rằng các thành phần của đậu nành có những đặc tính giống estrogen có thể tác động đến sự tăng trưởng của tế bào ung thư vú,” Boyd nói. “Khoa học đã chứng mình đậu nành không chỉ không gây nguy cơ mà còn mang lại lợi ích.”

Một nghiên cứu trên tờ American Journal of Clinical Nutrition đã tìm hiểu về khẩu phần đậu nành ở 9.500 phụ nữ có chẩn đoán ung thư vú tại Mỹ và Trung Quốc. Theo các nhà nghiên cứu, việc tiêu thụ các isoflavon, chủ yếu có trong đậu nành, đã “làm giảm đáng kể nguy cơ tái phát” ở những bệnh nhân ung thư vú có chẩn đoán là ung thư xâm lấn.

Nghiên cứu mới được công bố năm nay trên tờ Asian Pacific Journal of Cancer Prevention cũng cho kết quả tương tự. Phân tích hơn 11.000 bệnh nhân ung thư vú đã cho kết luận là ăn đậu nành có liên quan với giảm nguy cơ tử vong và giảm số ca tái phát do bệnh.

Hội Ung thư Mỹ, vốn thận trọng hơn trong các khuyến nghị, cũng lưu ý rằng đậu nành là một nguồn protein thay thế tốt, “phụ nữ bị ung thư vú chỉ nên ăn với lượng vừa phải” và không nên dùng những loại thuốc viên, bột hoặc chế phẩm bổ sung chứa nhiều isoflavon.

Cải xoăn, khoai lang và bí ngồi
nhung-thuc-pham-danh-cho-benh-nhan-ung-thu-vu1
Ăn những thực phẩm giàu carotenoid đã được biết là có liên quan với giảm nguy cơ tái phát ung thư vú. Carotenoid là sắc tố tự nhiên có trong các loại thực phẩm có màu vàng cam (như cà rốt, khoai lang và bí ngồi) và những loại rau lá xanh thẫm như cải xoăn, cải bó xôi và cải Thụy Sĩ.

Một nghiên cứu năm 2009 đăng trên tạp chí Cancer Epidemiology, Biomarkers & Prevention đã cho thấy tăng lượng carotenoid có liên quan với “khả năng sống sau khi bị ung thư vú cao hơn.” Kết quả nghiên cứu dựa trên một phần của Nghiên cứu Lối sống và ăn uống lành mạnh của phụ nữ, được sự tài trợ của Các Viện y tế quốc gia Mỹ.

Để tăng luợng carotenoid, BS Mitchell Gaynor, sáng lập viên tổ chức Gaynor Integrative Oncology, khuyên bệnh nhân ăn nhiều các loại rau thuộc họ cải. : “Ngày nay chúng ta hiểu ung thư tương đối khác với những năm 1970. Chúng ta đã biết rằng một số loại thực phẩm khiến cho cơ thể trở nên không thuận lợi cho tế bào ung thư phát triển. Mục tiêu là kiềm chế tế bào ung thư, và những gì chúng ta ăn vào có thể tạo nên sự khác biệt.”

Ví dụ về những loại rau thuộc họ Cải gồm súp lơ xanh, cải xoăn, bắp cải và súp lơ.

Cá hồi, cá ê-phin và cá tuyết

Ăn các loại cá giàu axít béo omega-3 cũng cải thiện tiên lượng của ung thư vú. Những loại cá này gồm cá hồi, cá ê-phin, cá tuyết, cá bơn halibut và cá mòi.

Nghiên cứu năm 2011 trên tờ Journal of Nutrition cho thấy các a xít béo EPA và DHA từ cá  “ức chế sự tăng sinh của tế bào ung thư vú” và làm giảm “tiến triển của khối u vú.” Những người đã chẩn đoán và điều trị ung thư vú giai đoạn đầu và có lượng EPA vào DHA cao hơn giảm được xấp xỉ 25% nguy cơ tái phát.

Điều quan trọng cần lưu ý là lợi ích chỉ gắn liền với việc ăn cá, chứ không phải với uống bổ sung dầu cá.

Gaynor cho rằng ăn cá giàu omega-3 cũng tốt cho sức khỏe vì nó hỗ trợ cho hệ miễn dịch và làm giảm nguy cơ bệnh tim và tiểu đường của phụ nữ.

Tuy nhiên Hội Ung thư Mỹ cảnh báo không nên ăn quá nhiều những thực phẩm giàu chất béo này: “Chế độ ăn giàu chất béo thường cũng chứa nhiều calo và có thể gây béo phì, mà béo phì lại làm tăng nguy cơ của nhiều loại ung thư.”

Đậu đỗ và ngũ cốc nguyên cám
nhung-thuc-pham-danh-cho-benh-nhan-ung-thu-vu2
“Một chế độ ăn giàu chất xơ làm giảm tử vong nói chung ở bệnh nhân ung thư vú,” đó là ý kiến của BS. Keith Block, giám đốc y tại tại Trung tâm điều trị ung thư tích hợp ở Skokie, bang Illinois (Mỹ).

Theo BS. Block thì chất xơ cớ lợi là vì nó có thể giúp kiểm soát sự thèm ăn và làm giảm lượng calo hấp thu. Việc đạt và duy trì cân nặng bình thường, nhất là sau khi mãn kinh, được xem là một yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sống.

“Khi xét đến bệnh ung thư, thì phần là do tăng cân,” bà nói. “Bạn càng béo, lượng estrogen lưu hành trong cơ thể sẽ càng nhiều và càng có nhiều estrogen thì nguy cơ ung thư vú càng tăng.

“Nhưng khả năng sống sau khi bị ung thư không chỉ phụ thuộc vào việc ăn một loại quả hay rau nào đó, mà nó liên quan đến việc lựa chọn lối sống lành mạnh, bao gồm cả tập thể dục. Chế độ ăn chỉ là một phần của toàn bộ bức tranh.”

Nguồn dân trí

Thuốc tiểu đường có ích cho bệnh nhân ung thư

Theo một nghiên cứu mới đây, với những người đàn ông cao tuổi bị tiểu đường và ung thư tuyến tiền liệt, dùng thuốc tiểu đường metformin sẽ giúp họ duy trì sự sống lâu hơn.

Các nhà khoa học Canada đã nghiên cứu trên 3.847 người đàn ông trên 66 tuổi ở Orianto, Canada được xác định đã mắc bệnh tiểu đường trước khi mắc ung thư tuyến tiền liệt và xem xét thời gian những người đàn ông này dùng thuốc metformin cũng như các loại thuốc khác trong 4,5 năm. Các nhà khoa học nhận thấy, trong thời gian đó, 35% trong số họ tử vong và chỉ có 7% tử vong do ung thư tuyến tiền liệt.

thuoc-tieu-duong-co-ich-cho-benh-nhan-ung-thu

Nghiên cứu cũng cho thấy, với mỗi 6 tháng dùng thuốc này, tỉ lệ tử vong do ung thư tuyến tiền liệt giảm 24%. Tuy nhiên, các nhà khoa học vẫn chưa chứng minh được cơ chế tác dụng của metformin trong việc ngăn ngừa ung thư tuyến tiền liệt.

Theo sức khỏe đời sống

Gen béo phì dễ mắc bệnh ung thư da

Nghiên cứu mới cho thấy, những người mang gen béo phì đễ có nguy cơ mắc các khối u ác tính, đặc biệt là ung thư da.

Như chúng ta đã biết những người thừa cân béo phì với chỉ số BMI (Body Mass Index – chỉ số đo độ béo qua chiều cao và cân nặng) cao có nguy cơ  mắc vô số bệnh nguy hiểm như tiểu đường, bệnh thận, ung thư tử cung…

beo_phi_gay_vo_sinh

Những người có gen béo phì dễ mắc bệnh ung thư da hơn người bình thường. (Ảnh minh họa).

Nhưng sau khi kiểm tra mẫu khối u ở hơn 13.000 bệnh nhân ung thư cùng 60.000 người bình thường khắp thế giới, các nhà khoa học đã phát hiện rủi ro mắc u ác tính không liên quan gì tới tỷ lệ chiều cao cân nặng mà gắn liền với những người mang intron 1, các biến thể của gen FTO – yếu tố di truyền quan trọng nhất của bệnh béo phì.

“Ảnh hưởng của gen FTO có tầm ảnh hưởng rộng hơn so với dự đoán trước đây và liên quan nhiều tới các khối u ác tính đặc biệt là ung thư da”, tiến sĩ Mark Iles, chuyên gia Ung thư tại đại học Leeds, Vương Quốc Anh cho hay.

“Phát hiện thú vị này có khả năng cung cấp một hướng đi mới cho các loại thuốc điều trị khối u ác tính” ông Julie Sharp Quản lý khoa học thông tin của Viện nghiên cứu ung thư  phát biểu.

Theo 24h

Trầm cảm ở bệnh nhân ung thư

Những biểu hiện trầm cảm chiếm khoảng 85% số bệnh nhân ung thư. Ngày nay, hầu hết các bác sĩ đều thừa nhận tình trạng trầm cảm trong ung thư khiến bệnh cảnh lâm sàng của bệnh phức tạp hơn, tăng nguy cơ tử vong của các bệnh nhân này.

Ung thư là một bệnh nặng, gặp trong hầu hết các cơ quan của cơ thể. Đây là nguyên nhân gây tử vong thứ ba, sau bệnh tim mạch và chấn thương. Có những ung thư tiến triển rất nhanh, khiến bệnh nhân tử vong sau vài tháng, nhưng cũng có những ung thư khác lại lành hơn, bệnh nhân có thể sống nhiều năm nếu được điều trị tốt.

Tình trạng trầm cảm ở bệnh nhân ung thư do nhiều nguyên nhân như: do khối ung thư gây ra, do chấn thương tâm lý, do các biện pháp điều trị ung thư như hóa chất, tia xạ…

Các triệu chứng thường gặp

Khí sắc giảm: Nét mặt của bệnh nhân rất đơn điệu, thường được giải thích là do buồn rầu vì mắc ung thư một bộ phận nào đó trong cơ thể.

Mất hứng thú và sở thích: Bệnh nhân mất hết các sở thích vốn có của mình, với họ cuộc đời còn là những tháng ngày thật nặng nề, vô vị.

tram_cam_o_benh_nhan_ung_thu

85% bệnh nhân ung thư bị trầm cảm.

Mệt mỏi, mất năng lượng: Bệnh nhân luôn than phiền mệt mỏi suốt cả ngày. Mệt mỏi của bệnh nhân được giải thích là do sự phát triển của khối u ác tính, do bệnh nhân ăn uống kém, mất ngủ, do dùng thuốc chống ung thư, do chạy tia xạ… và do trầm cảm gây ra.

Chán ăn: Bệnh nhân thường ăn ít, ăn mất ngon và sút cân. Chính triệu chứng sút cân làm tăng nguy cơ tử vong của bệnh nhân ung thư.

Mất ngủ: Bệnh nhân khó vào giấc ngủ, hay thức giấc giữa chừng, ngủ dậy sớm (khoảng 2 – 3 giờ sáng) mà không ngủ lại được. Nhiều bệnh nhân mất ngủ hoàn toàn trong giai đoạn cuối.

Chú ý và trí nhớ kém: Bệnh nhân giảm khả năng tập trung chú ý và giảm trí nhớ gần rất trầm trọng. Người thân của bệnh nhân thường than phiền rằng bệnh nhân bỏ đâu quên đó.

Lo lắng quá mức: Bệnh nhân luôn lo lắng về bệnh tật. Họ luôn cho rằng bệnh của mình rất nặng, không thể chữa khỏi… Chính vì lo lắng quá mức về bệnh tật, họ không còn quan tâm gì đến các vấn đề khác đang diễn ra trong cuộc sống.

Bi quan, chán nản: Bệnh nhân luôn trong tình trạng bi quan, chán nản, cho rằng cuộc sống của mình đã hết, mọi thành quả của cuộc sống mà họ bao năm xây dựng với bao công sức phút chốc sớm tiêu tan… Càng bi quan, chán nản, bệnh nhân càng chóng chết.

Ý nghĩ về cái chết, ý định tự sát và hành vi tự sát: Tất cả các bệnh nhân ung thư đều nghĩ về cái chết. Khi họ biết họ bị ung thư thì ý nghĩ đầu tiên ập đến với họ có lẽ là mình sẽ chết và sắp chết. Trong quá trình tiến triển của bệnh, ý nghĩ về cái chết ngày càng nặng thêm. Lúc đầu, bệnh nhân thường sợ chết, nhưng về sau, khi tình trạng bệnh ung thư xấu đi, họ lại muốn chết  cho xong và họ lên kế hoạch tự sát (tích trữ thuốc độc, mua dây thừng, chọn địa điểm tự sát, viết di chúc, thư tuyệt mệnh…).

Các triệu chứng đau: Đau xuất hiện do khối ung thư phát triển, chèn ép gây đau, do nằm lâu, do lo sợ… Đau có thể cố định (do khối ung thư xâm lấn, chèn ép), hoặc mơ hồ (do lo lắng, bi quan, sợ hãi…).

Điều trị

Ung thư là một bệnh nặng, có tỷ lệ tử vong rất cao, tỷ lệ khỏi bệnh rất thấp. Có nhiều yếu tố gây tăng tỷ lệ tử vong ở các bệnh nhân này, trong đó trầm cảm là yếu tố hàng đầu.

Điều trị ung thư kết hợp với điều trị trầm cảm ở các bệnh nhân này sẽ có các lợi ích sau: Bệnh nhân đỡ lo lắng, bi quan, chán nản; Bệnh nhân ăn được, ngủ được, lên cân; Bệnh nhân hợp tác tốt với bác sĩ trong quá trình điều trị; Giảm đau cho bệnh nhân.

Nên sử dụng thuốc chống trầm cảm kết hợp với thuốc an thần.

TS. Bùi Quang Huy (Chủ nhiệm khoa Tâm thần, BV 103)
Theo SKĐS

Chế độ ăn ảnh hưởng đến ung thư thực quản

Ung thư thực quản nằm trong số 10 bệnh ung thư hàng đầu tại Việt Nam. Phần lớn bệnh nhân đã quá tuổi ngũ tuần, nam nhiều hơn nữ gấp 2-5 lần. Chế độ ăn là một trong những yếu tố quan trọng gây bệnh.

che-do-an-uong-co-the-gay-ra-benh-ung-thu-thuc-quan

Tại các bệnh viện, phần lớn bệnh nhân ung thư thực quản đến gặp bác sĩ muộn, trong tình trạng suy kiệt nên khó điều trị triệt để.

Một yếu tố liên quan khá chặt chẽ đến sự phát sinh của bệnh là thói quen ăn uống. Việc ăn nhiều thực phẩm chứa nitrosamin (rau ngâm giấm, thịt xông khói), thói quen uống các loại nước có cồn và hút thuốc lá nhiều là nguyên nhân chính gây bệnh. Ngoài ra, việc dùng thức ăn và nguồn nước uống thiếu các chất vi lượng như: kẽm, molybeden… cũng là tiền đề cho ung thư thực quản xuất hiện.

Ung thư thực quản đoạn giữa trong lồng ngực có tỷ lệ mắc cao nhất (chiếm 32%), gây nhiều biến chứng và khó điều trị nhất. Nguyên nhân là ở đoạn này, thực quản nằm sát các cơ quan quyết định sự tồn tại của con người như khí quản, cung động mạch chủ. Bệnh viện Nhân dân Gia Định vừa tiếp nhận một bệnh nhân 75 tuổi. Người này đi khám vì bị nuốt nghẹn và ho sặc mỗi khi uống nước, đến mức ông không dám uống một giọt nước nào. Các bác sĩ soi phế quản và phát hiện ung thư thực quản xâm lấn khí quản và gây rò thực quản – khí quản, một biến chứng rất nặng nề có thể gây tử vong.

Triệu chứng hay gặp nhất của bệnh là nuốt khó, bắt đầu với các thức ăn cứng, về sau là thức ăn lỏng và cuối cùng thì cả với nước bọt cũng rất khó nuốt. Sụt cân và mệt mỏi cũng là các triệu chứng hay gặp. Một số bệnh nhân bị viêm phổi do hít phải những thức ăn đọng lại trong thực quản. Tùy theo vị trí và mức độ xâm lấn của u thực quản mà có thêm các triệu chứng của liệt dây thần kinh, gây khàn tiếng, khó thở hoặc xâm lấn vào khí, phế quản gây sặc, ngạt, có thể tử vong. Các triệu chứng trở nên rõ ràng khi khối u ăn hết lòng của thực quản.

Vấn đề chẩn đoán sớm là rất quan trọng, nhất là đối với những bệnh nhân trên 50 tuổi, bị nuốt khó hoặc đau khi nuốt. Những người có dấu hiệu rối loạn về nuốt phải đi khám bệnh và được đánh giá cụ thể bởi một bác sĩ chuyên khoa về tiêu hóa hoặc phẫu thuật lồng ngực và tim mạch.

Phần lớn bệnh nhân ung thư thực quản nếu không được điều trị đều chết trong tình trạng suy kiệt vì không ăn uống được, mặc dù rất thèm ăn.

Theo Người lao động/24h