Tag Archives: bệnh mùa hè

Viêm não Nhật Bản vào mùa bùng phát

Bệnh viêm não Nhật Bản (VNNB) là một trong những bệnh ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của nhân dân, đặc biệt là trẻ em vào mùa hè. Hiện nay đang là giữa mùa của bệnh VNNB, rất nhiều trường hợp đã phải nhập viện.

Nhận biết bệnh VNNB
Bệnh VNNB là bệnh nhiễm virut cấp tính ở hệ thần kinh trung ương do virut VNNB lây truyền từ nguồn bệnh đến người qua muỗi đốt. Bệnh đã được biết từ năm 1871, nhưng mãi đến năm 1935 người ta mới phân lập được virut từ não của người bệnh ở Tokyo, Nhật Bản và năm 1938 Mitamura đã phân lập được virut VNNB ở muỗi vectơ C. tritaeniorhynchus. Đến năm 1959 những nghiên cứu ở Nhật Bản đã xác định ổ chứa virut là chim, lợn và muỗi C. tritaeniorhynchus là vectơ truyền bệnh VNNB giữa các động vật có xương sống và từ đó truyền sang người.

Người bị muỗi nhiễm virut VNNB đốt sẽ trải qua thời kỳ ủ bệnh từ 5-15 ngày. Thời kỳ phát bệnh thường kéo dài từ 1-6 ngày. Tuy nhiên có thể ngắn hơn trong 24 giờ và dài hơn tới 14 ngày. Bệnh bắt đầu đột ngột với triệu chứng sốt, mệt mỏi toàn thân, đau đầu, đau cơ, run, buồn nôn, nôn, sau đó cứng gáy và có dấu hiệu thần kinh.

viem-nao-nhat-ban-vao-mua-bung-phat

Giai đoạn viêm não cấp tính
Đặc điểm lâm sàng nổi bật trong giai đoạn này là tiếp tục sốt, cứng gáy, có dấu hiệu thần kinh trung ương khu trú, co giật, thay đổi cảm giác và nhiều trường hợp dẫn tới hôn mê. Thường sốt cao từ 38 – 40oC, nhịp tim tương đối chậm, nét mặt của người bệnh được mô tả như xám xịt, thẫn thờ, buồn tẻ, đôi mắt sợ sệt, nhìn chòng chọc (giống như bệnh parkison mạn tính) và giọng nói khàn, lè nhè, nói khó, nghe khó.

Dấu hiệu thần kinh như cứng gáy chiếm tới 80% trường hợp. Run là dấu hiệu thường gặp và thường thấy ở ngón tay, lưỡi, mi mắt và mắt. Co giật cũng là một đặc điểm lâm sàng thường gặp ở bệnh VNNB, nhất là ở trẻ em. Có thể có cơn động kinh toàn thân với những cử động run giật lặp đi lặp lại rất dữ dội. Một số trường hợp có cơn cường cơ làm cho trẻ uốn cong người và co đầu lại, hai chân dạng ra và hai tay gập lại ở góc khuỷu. Những cơn co giật cục bộ cũng thường gặp

Giai đoạn sau
Bệnh nhân có thể được hồi phục và thời kỳ này thông thường diễn biến chậm, bệnh nhân có thể được hồi phục các chức năng vận động, nhưng tri thức lại không bình thường. Phần lớn di chứng để lại cho người bệnh là những rối loạn về tinh thần, mất ổn định về tình cảm, cá tính thay đổi, liệt thần kinh vận động ở chi trên hoặc chi dưới. Hiện tượng thất ngôn và loạn tinh thần có hệ thống thường ít gặp. Tỷ lệ tử vong thay đổi từ 0,3-60% tùy theo trình độ kỹ thuật hồi sức cấp cứu chống phù não, suy hô hấp, trụy tim mạch và bội nhiễm vi khuẩn.

Điều trị bệnh VNNB
Cho đến nay vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh VNNB, vì vậy điều trị trợ sức và điều trị triệu chứng là chủ yếu. Người ta không dùng gammaglobulin và corticosteroid để điều trị vì không có tác dụng. Tỷ lệ tử vong có thể giảm xuống là do việc chăm sóc bệnh nhân đúng đắn. Bệnh nhân phải được chuyển đến bệnh viện để điều trị. Không cần thiết phải cách ly bệnh nhân và khử khuẩn các chất tiết của người bệnh vì virut VNNB không truyền từ người sang người qua chất bài tiết.

viem-nao-nhat-ban-vao-mua-bung-phat1

Đường lây truyền viêm não Nhật Bản

Các biện pháp phòng ngừa bệnh VNNB
Virut VNNB được lây truyền qua muỗi vectơ hút máu súc vật, do đó những súc vật hoang dại và súc vật nuôi trong nhà là vật chủ chính. Người được coi là vật chủ cuối cùng đối với virut VNNB, vì trong máu người virut VNNB tồn tại thời gian ngắn với hiệu giá thấp và muỗi vectơ thích hút máu súc vật hơn là máu người. Bệnh VNNB có thể được dự phòng bởi sự phối hợp của các biện pháp phòng trừ vectơ, ngăn ngừa vectơ, gây miễn dịch cho súc vật và cho người cảm nhiễm.

Phòng trừ vectơ
Việc sử dụng hóa chất diệt vectơ VNNB nói chung là có hiệu quả nhưng chỉ được giới hạn trong một không gian và thời gian nhất định với giá thành rất cao. Ở Hàn Quốc người ta phun fenitrothion với thể tích cực nhỏ bằng máy bay đã có hiệu quả làm giảm mật độ C. tritaeniorhynchus trưởng thành khoảng 80% trong 4 ngày.

Việt Nam là nước nông nghiệp, chủ yếu trồng lúa nước. Vì vậy việc phòng trừ vectơ VNNB lại càng khó khăn hơn không chỉ vì thiếu tiền mua máy móc, hóa chất mà còn vì những cánh đồng lúa rộng lớn chứa đựng quần thể muỗi vectơ phong phú này. Do đó biện pháp phòng trừ bệnh VNNB bằng phòng trừ vectơ, kể cả dùng hóa chất là hoàn toàn không thực tế và không có hiệu quả.
Tiêm chủng là biện pháp phòng bệnh quan trọng nhất.

Gây miễn dịch phòng bệnh là biện pháp phòng bệnh hữu hiệu nhất, điều đó đã được chứng minh ở tất cả các quốc gia sử dụng vaccin VNNB để phòng bệnh. Ở Việt Nam những năm qua nơi nào có sự bao phủ của vaccin này ở đó giảm rõ rệt số trẻ mắc bệnh. Chính vì vậy các bậc cha mẹ nên chủ động đưa trẻ đi tiêm chủng phòng bệnh.

Theo sức khỏe đời sống

7 bí quyết ngăn ngừa bệnh sỏi thận

Mùa hè, cơ thể dễ bị mất nước nên khả năng bị sỏi thận càng tăng lên rõ rệt. Để phòng ngừa nguy cơ này, bạn hãy áp dụng 7 bí quyết sau đây.

Chúng ta thường không nghĩ rằng bệnh sỏi thận có liên quan đến sự tăng lên của nhiệt độ thời tiết và độ ẩm không khí. Trên thực tế thì “tỉ lệ các trường hợp bị sỏi thận tăng lên 40% trong mùa hè do sự gia tăng nhiệt độ. Khí hậu, nhiệt độ và độ ẩm là những yếu tố quan trọng góp phần hình thành sỏi thận” – theo quan điểm của Tiến sĩ Abhinandan Sadlalge, Trưởng khoa Tiết niệu, bệnh viện RG Stone Urology and Laparoscopy (Ấn Độ).

Những người làm việc trong môi trường nóng hoặc có một thói quen không uống đủ nước sẽ dễ bị sỏi thận. Đặc biệt, nhiệt độ tăng lên 5-7 độ sẽ làm tăng 30% các vấn đề liên quan đến bệnh sỏi thận. Khi một người di chuyển từ các vùng có nhiệt độ trung bình đến sinh sống tại khu vực có khí hậu ấm áp hơn thì sự hình thành sỏi thận càng rõ hơn. Chính vì vậy, tỉ lệ mắc bệnh sỏi thận đặc biệt cao ở những vùng có khí hậu khô, nóng.

bi-quyet-ngan-ngua-benh-soi-than-

Sỏi thận hình thành do cơ thể bị mất nước, mà sự gia tăng nhiệt độ là một nguyên nhân dẫn đến mất nước. Mất nước cuối cùng dẫn đến nước tiểu đặc hơn, do đó làm tăng nguy cơ hình thành sỏi thận.

Tiến sĩ Abhinandan cũng đưa ra 7 bước để ngăn ngừa sỏi thận trong mùa hè như sau.

1. Uống nhiều nước trong ngày và vào ban đêm trước khi đi ngủ để cơ thể của bạn vẫn giữ đủ nước trong cả 24 giờ: Uống nước là cách đơn giản nhất để bù lại lượng nước bị hao hụt khỏi cơ thể (thông qua nước tiểu, mồ hôi…). Cơ thể đủ nước cũng giúp thận, gan lọc các chất độc tốt hơn, giảm thiểu tình trạng tích tụ chất độc trong gan, thận dẫn đến sỏi.

Tuy nhiên, uống quá nhiều nước cũng không tốt vì nó có thể gây ra tình trạng thừa nước và phù các tế bào trong cơ thể.

2. Uống nước chanh: Sỏi thận hình thành khi các thành phần của nước tiểu là khoáng sản, chất lỏng và axit bị mất cân bằng. Tức là lúc này hàm lượng các chất như canxi, oxalat và axit uric trong nước tiểu rất nhiều. Bình thường, các chất này có thể được hòa tan bởi các chất lỏng hoặc chất citrate. Khi không được hòa tan, chúng sẽ kết hợp với nhau tạo thành sỏi ở thận.

Nước chanh giúp nâng cao mức citrate trong nước tiểu nên có thể giúp phòng ngừa sỏi oxalat canxi, cũng như sỏi axit uric.

3. Cắt giảm các sản phẩm chứa nhiều oxalate: Oxalat là một loại axit có thể dẫn đến sự hình thành sỏi thận oxalat canxi. Các loại thực phẩm chứa nhiều oxalat bao gồm các sản phẩm đồ uống như soda, trà đá, sô cô la; cây đại hoàng, dâu tây và các loại hạt. Cắt giảm các loại thực phẩm này chính là cách đơn giản để phòng bệnh sỏi thận.

4. Cắt giảm lượng caffeine: Bạn nên tránh tiêu thụ quá nhiều các loại đồ ăn, uống chứa caffeine như cà phê, trà, thuốc lá… vì chúng chính là nguyên nhân khiến cơ thể bạn bị mất nước ngay cả khi bạn nghĩ rằng bạn vẫn bổ sung nước đầy đủ. Mất nước chính là nguyên nhân chủ chốt dẫn đến bệnh sỏi thận.

5. Giảm lượng muối ăn hàng ngày: Việc giảm lượng muối trong chế độ ăn cũng có thể cắt giảm lượng oxalate trong nước tiểu, nhờ đó cũng có thể giảm nguy cơ bị sỏi thận.

6. Kiểm soát việc tiêu thụ các chất đạm động vật, bao gồm thịt, trứng và cá: Những thực phẩm này chứa nhiều purin, đó là những chất tự nhiên chuyển hóa hoặc phân hủy thành axit uric trong nước tiểu và góp phần hình thành sỏi thận. Hạn chế ăn các thực phẩm này sẽ giảm nguy cơ hàm lượng axit uric trong nước tiểu nên cũng phòng được bệnh sỏi thận.

7. Giảm cân để giữ sức khỏe: Theo phân tích của các chuyên gia thuộc Đại học Y Johns Hopkins (Mỹ) thì béo phì làm tăng gấp đôi nguy cơ sỏi thận. Vì vậy, việc tập thể dục để giảm cân và duy trì sức khỏe là hết sức cần thiết. Nó không những giúp bạn tránh được tình trạng béo phì mà nó còn giảm các nguy cơ bệnh tật khác như: bệnh sỏi thận, tiểu đường, huyết áp cao…

Nguồn afamily

Phòng rôm sảy mùa hè cho con

 Vào mùa hè nóng, trẻ hay mắc rôm sảy, một bệnh da đơn giản, tự khỏi khi trời mát, nhưng nếu không biết chăm sóc, chữa trị có thể có biến chứng nặng hơn như viêm nang lông, mụn nhọt…

Tại sao bị rôm sảy?

Nhiệt độ nóng làm cơ thể phải điều nhiệt bằng cách tiết ra nhiều mồ hôi làm giảm nhiệt độ cơ thể, khi mồ hôi tiết ra quá nhiều, thêm vào  việc các lỗ chân lông bị tắc do bụi bẩn, do nhiễm khuẩn làm cho mồ hôi bị ứ đọng trong ống tuyến bài tiết mồ hôi ở da gây rôm sảy (heat rash hay prickly heat). Chúng ta có thể thấy rõ rôm sảy thường hay xuất hiện vào mùa hè nóng nực, oi bức và ở các vùng da như trán, đầu cổ, ngực lưng…
phanrom
Tuy nhiên, một số trường hợp lại bị rôm khi trời mát mẻ. Tại sao? Đó là do các bậc cha mẹ quá cẩn thận nên mặc nhiều quần áo, quấn tã lót nhiều cho trẻ, do vậy trẻ bị ra mồ hôi nhiều và bị rôm sảy. Chúng ta cần biết rằng hoạt động chuyển hóa của trẻ rất mạnh, thân nhiệt của trẻ thường cao hơn người lớn, chúng ta cảm thấy lạnh nhưng chúng lại bị nóng. Hơn nữa, chức năng điều hòa thân nhiệt của trẻ chưa hoàn thiện như người trưởng thành.

Biểu hiện của rôm sảy như thế nào?
Rôm sảy thường thành đám, thành mảng lớn ở các vùng da bài tiết nhiều mồ hôi như ngực, lưng, trán…, đôi khi có cả ở vùng kẽ lớn như nách, bẹn. Một số trường hợp nặng có thể bị gần như toàn thân. Thương tổn là các sẩn màu đỏ hồng, trên có mụn nước nhỏ, đôi khi có mụn mủ trắng xen lẫn. Da của trẻ bị viêm nên trẻ thường có cảm giác bứt rứt khó chịu, ngứa. Khi đó trẻ gãi làm da sây sát dễ bị bội nhiễm vi khuẩn. Trẻ nhỏ thường quấy khóc, ngủ không ngon do ngứa.

Tụ cầu trùng vàng là vi khuẩn thương gây bội nhiễm, gây viêm nang lông, nhọt. Khi trời mát, rôm sẽ tự lặn đi và để lại các đám vẩy da bong mỏng, màu trắng, ít ngày sau da trở lại bình thường không để lại sẹo. Khi gặp nóng bức trở lại, rôm sảy lại có thể xuất hiện ngay.  Các điều kiện thuận lợi làm rôm xuất hiện là nhiệt độ cao, vì khí hậu nóng ẩm, không thoáng khí, trẻ mặc quần áo bí hơi, mặc quá nhiều quần áo, ít tắm rửa.

Khi bị rôm sảy thì phải xử trí như thế nào?

Phản xạ thường xảy ra là gãi, đôi khi các bà mẹ hoặc trẻ lớn hay giết rôm cho nhau. Việc này làm cho trẻ cảm thấy dễ chịu lúc đó, nhưng hậu quả có thể gây biến chứng “cái sảy nảy cái ung”, nặng hơn nữa trẻ có thể bị biến chứng viêm cầu thận, nhiễm trùng lan rộng. Cho nên khi trẻ ngứa ta có thể xoa nhẹ để cho chúng đỡ ngứa, không nên gãi, hay giết rôm.
Nguyên tắc xử trí là cho cơ thể mát mẻ, thoáng khí, chống viêm da.

Xử trí:

– Cho trẻ ở nơi thoáng mát, thông gió. Tránh những nơi đông đúc, ngột ngạt, nơi nóng bí gió. Quần áo, tã lót dùng loại vải sợi, mỏng, rộng thoáng, thấm mồ hôi, không dùng các loại sợi tổng hợp, bí mồ hôi.

–  Tắm thường xuyên cho trẻ giúp cho cơ thể mát, da sạch sẽ, các lỗ chân lông không bị bịt kín. Tắm bằng thuốc tím pha loãng, sữa tắm cho trẻ, không sử dụng loại xà phòng hay sữa tắm có độ pH không phù hợp với da. Có một số loại lá, quả dùng tắm rất tốt như mướp đắng, rau má, sài đất, vỏ dưa hấu, lá đào, lá dâu…

– Xoa phấn rôm cũng làm cho da được khô, chống viêm và thoáng mát. Tuy nhiên, nên xoa ngay sau khi tắm, không xoa khi mồ hôi nhiều vì như vậy sẽ làm bịt lỗ chân lông lại .

– Trường hợp da bị viêm nhiều, lâu khỏi cần bôi kem có corticoid nhẹ, trong kem có thể có kháng sinh chống nhiễm khuẩn, tuy nhiên nên đi khám bác sĩ để được chỉ định đúng, tránh các biến chứng xảy ra và đặc biệt không nên lạm dụng thuốc. Bôi các loại mỡ, thuốc mỡ kháng sinh không những làm cho da bị bít mà còn có thể gây dị ứng.

– Khi có nhiễm trùng nang lông với biểu hiện các mụn mủ, mụn to cần bôi cồn iod hữu cơ như betadin nhiều lần trong ngày.

–  Uống đủ nước, có thể uống nước sắn dây, nước sài đất, đỗ đen, quả cam, chanh…Hạn chế các loại nước có nhiều đường.

–  Ăn: đủ vitamin, hạn chế ăn các thức ăn nhiều đường.

Phòng tránh rôm sảy như thế nào?
Để phòng tránh rôm sảy cho trẻ mùa hè thì việc đầu tiên là luôn để cho trẻ ở nơi thoáng mát, tránh nơi nóng nực ngột ngạt và bí gió. Tránh cho trẻ ra ngoài vào những giờ nắng gắt từ 10h đến 15h, nếu cần ra ngoài vào lúc đó thì phải đội nón mũ rộng vành, mặc áo che kín da của trẻ. Tắm rửa hàng ngày bằng nước mát cho da dẻ luôn sạch sẽ, các lỗ tuyến được thông thoáng. Quần áo, tã lót mặc rộng thoáng, chất liệu cotton và thay thường xuyên. Chế độ ăn uống hợp lý, đủ lượng nước, có nhiều vitamin, hạn chế các đồ ăn có nhiều đường

Theo kiến thức gia đình

Viêm da mủ ở trẻ em – Bệnh của mùa hè

Trên da của chúng ta có nhiều loại vi khuẩn ký sinh, trong đó nhiều nhất là tụ cầu và liên cầu. Mùa nắng nóng, mồ hôi, chất bã nhờn, bụi bẩn bám trên da nhiều là yếu tố thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập vào da gây bệnh. Bài viết sau đây sẽ giúp bạn đọc cách phòng chống viêm da mủ do tụ cầu – loại bệnh phổ biến trong mùa hè.

Bình thường có nhiều loại vi khuẩn sống ký sinh trên da người nhưng không gây bệnh, trong đó nhiều nhất là tụ cầu và liên cầu. Vi khuẩn càng nhiều ở những vùng nhiều lông và nhiều mồ hôi như nách, bẹn, các nếp kẽ, lỗ chân lông. Khi có điều kiện thuận lợi như ra nhiều mồ hôi do lao động, tập luyện, đi lại…, cơ thể suy yếu, vệ sinh kém, ngứa gãi, xây xát da thì tạp khuẩn trên da tăng sinh, tăng độc tố gây nên bệnh ngoài da gọi là viêm da mủ.

Người ta phân thành viêm da mủ do tụ cầu và viêm da mủ liên cầu, nhưng ít khi hai loại cầu khuẩn đó gây bệnh riêng rẽ mà phần nhiều chúng phối hợp gây bệnh. Tuy nhiên dựa theo kinh nghiệm thực tế và kết quả xét nghiệm vi khuẩn, tụ cầu chủ yếu gây các thể viêm da mủ sau đây:

viem_da_mu_o_tre_em_benh_cua_tre_em

Tụ cầu gây viêm da mủ.

Viêm nang lông nông

Tổn thương là tình trạng viêm nông ở đầu lỗ chân lông. Lúc đầu lỗ chân lông hơi sưng đỏ, đau, sau thành mụn mủ nhỏ, quanh chân lông có quầng viêm. Vài ngày sau mụn mủ khô, để lại một vảy tiết nâu sẫm tròn. Sau cùng vảy bong không để lại sẹo. Vị trí thường gặp ở đầu, trán, gáy, cằm, lưng,  ở da đầu trẻ em thường để lại sẹo nhỏ, trụi tóc lấm tấm; ở mi mắt gọi là chắp. Điều trị bằng cách chấm cồn iốt 1-3%, hoặc dung dịch xanh methylen 1%; bôi mỡ chloroxid 1%, kem silver, mỡ bactroban, mỡ fucidin.

Viêm nang lông sâu

viem_da_mu_o_tre_em_benh_cua_tre_em_02

Thường do tụ cầu vàng có độc tố cao gây ra. Ban đầu chỉ là mụn mủ quanh lỗ chân lông, sau lan càng sâu làm cho tổ chức quanh nang lông nhiễm cộm. Viêm lan rộng và sâu hơn thành nhiều mụn mủ rải rác hoặc cụm lại thành đám đỏ, cứng cộm gồ ghề nặn ra mủ. Nếu viêm nang lông sâu ở vùng cằm, mép, gáy, ria tóc, đầu gọi là Sicosis, bệnh thường tiến triển dai dẳng hay tái phát.

Điều trị dùng dung dịch sát khuẩn như cồn iốt 1-3%, xanh methylen 1%, mỡ kháng sinh penixilin, chloroxid 1%, oxyd vàng thủy ngân 10%, mỡ fucidin. Kết hợp với uống thuốc kháng sinh từng đợt. Chữa triệu chứng bằng các thuốc an thần, vitamin nhóm B, C. Lưu ý tránh chà xát mạnh làm vỡ mủ, lan mủ ra vùng da lân cận làm bệnh lan rộng.

Đinh nhọt

Đây là tình trạng viêm nang lông do tụ cầu có độc tố cao nên viêm toàn bộ nang lông, lan ra cả tổ chức xung quanh, làm hoại tử cả một vùng biểu hiện thành “ngòi” nhọt gồm tế bào, xác bạch cầu. Hay gặp ở gáy, lưng, mông, chân tay. Bệnh biểu hiện qua 3 giai đoạn: giai đoạn 1: ban đầu nổi thành u đỏ, đau, quanh chân lông, nắn cứng cộm; giai đoạn 2: dần dần u mềm có triệu chứng làm mủ, tạo ngòi; giai đoạn 3: khoảng từ 8-10 ngày nhọt mềm nhũn, vỡ mủ nặn ra một ngòi đặc sau đó lành sẹo.

viem_da_mu_o_tre_em_benh_cua_tre_em_03

Nếu đinh nhọt to có thể kèm theo sốt, nổi hạch đau ở vùng xung quanh nhọt. Các thể đặc biệt gồm: đinh nhọt ở tai giữa rất đau, nhân dân gọi là “đằng đằng”; đinh nhọt ở vùng quanh miệng gọi là “đinh râu” rất nguy hiểm, có thể gây tắc tĩnh mạch, nhiễm khuẩn huyết không nên chích nặn sớm; “hậu bối”(carbuncle) còn gọi là đinh hương sen, là một cụm đinh nhọt gặp ở vùng gáy giữa hai bả vai, xương cùng, do tụ cầu vàng độc tính cao, gây viêm lan sâu rộng đến chân bì và hạ bì làm hoại tử cả một vùng, thường gặp ở người già, người suy yếu.

Triệu chứng kèm theo là: bệnh nhân yếu mệt, sốt cao có triệu chứng nhiễm khuẩn nhiễm độc nặng, tại chỗ bị sưng nề, đỏ tím có nhiều mủ, nhiều ngòi, lỗ chỗ như tổ ong. Có thể dẫn tới nhiễm khuẩn huyết, ở mông và xương cùng gây hoại tử hoặc loét có khi chạm vào mạch máu to làm chảy máu ồ ạt. Nhọt bầy là nhiều đinh nhọt mọc liên tiếp đợt này đến đợt khác, dai dẳng nhiều tháng, hay gặp ở người suy nhược lao tâm lao lực, hoặc đái tháo đường.

Điều trị  đinh nhọt: không nên nặn chích sớm, khi mới nổi sưng đỏ, cứng dùng cồn iốt 3-5% chấm lên nhọt hoặc bôi ichthyol tinh chất. Khi nhọt đã vỡ mủ nặn hết ngòi ra, chấm thuốc màu hoặc bôi mỡ kháng sinh, cho uống hoặc tiêm một đợt kháng sinh. Đối với đinh râu: tuyệt đối không chích nặn bôi cồn iốt 3%; tiêm uống thuốc kháng sinh liều cao, phối hợp vài loại kháng sinh, dùng vitamin C, thuốc giảm đau, chạy sóng ngắn. Đối với hậu bối: điều trị sớm bằng kháng sinh liều cao, phối hợp nhiều loại kháng sinh, vitamin B, C, dinh dưỡng tốt để nâng cao thể trạng.

Khi vùng tổn thương đã mềm thì thay băng hằng ngày, không chích rộng để tháo mủ vì dễ gây nhiễm khuẩn lan rộng. Đối với nhọt bầy: cần cải thiện điều kiện sinh hoạt, làm việc vừa sức, tránh uống rượu bia, cà phê, thuốc lá, hạn chế ăn ngọt; dùng từng đợt thuốc kháng sinh, an thần, giảm đau; chống táo bón, dùng thuốc hỗ trợ chức năng gan; điều trị đái tháo đường nếu có.

Nhọt ổ gà

Do viêm nang lông, kèm theo viêm tuyến hôi tuyến bã ở  trong hố nách thành túi mủ sâu ở chân bì và hạ bì. Nổi thành cục, ban đầu cứng sau mềm dần, vỡ mủ rải rác hoặc thành cụm. Bệnh tiến triển dai dẳng, hay tái phát nhất là về mùa hè. Điều trị: bôi thuốc kháng sinh như cồn iốt, tiêm hoặc uống kháng sinh liều cao. Nếu cần điều trị bằng phẫu thuật như chích nặn các ổ viêm xơ hóa.

Phòng bệnh

Tắm rửa hằng ngày bằng nước sạch, nhất là vào mùa hè nên tắm rửa nhiều lần để tránh vi khuẩn khu trú trên da. Hạn chế ăn ngọt như nước đường, bánh kẹo… Tránh uống nhiều rượu, bia. Điều trị tích cực khi mới bị viêm da.

ThS. Nguyễn Thị Đào
Theo SKDS