Tag Archives: bệnh mạn tính

Bài thuốc trị bệnh thiếu máu

Có một số người hay bị tình trạng choáng váng, đi xét nghiệm được cho là thiếu máu. Theo lương y Quốc Trung, tình trạng thiếu máu là do nhiều nguyên nhân, như dinh dưỡng không đủ, mất máu mãn tính, cơ thể suy nhược…

Biểu hiện của tình trạng thiếu máu thường là: sắc mặt xanh xao, hoa mắt, nóng đầu, ù tai, tim đập nhanh, ngủ không yên, người thường có cảm giác mỏi mệt, rã rời, móng tay thường lõm xuống và dễ bị nứt; đầu óc không tập trung; ăn uống không ngon miệng. Ở phái nữ thì thường kèm theo biểu hiện kinh nguyệt thất thường.

Quan niệm của đông y cho rằng để chữa trị bệnh thiếu máu, ngoài việc tăng cường dinh dưỡng, cần phải bắt đầu từ bổ thận, vì tinh hoa trong thận được chuyển thành máu. Nếu thiếu máu là do có bệnh xuất huyết mãn tính (như xuất huyết nhiều khi hành kinh, bệnh giun móc, xuất huyết vì loét dạ dày…) thì phải điều trị những bệnh này cho triệt để.

bai-thuoc-tri-benh-thieu-mau

Những người bị thiếu máu có thể dùng các món ăn bài thuốc như dưới đây:

– 1 con gà mái tơ, làm sạch, bỏ nội tạng, rồi cho các vị thuốc gồm đương quy (15 gr), đẳng sâm (30 gr), các gia vị cùng hành, gừng vào trong bụng gà, buộc lại rồi đem ninh (nấu) với lửa nhỏ cho đến chín mềm để ăn.

– Lấy 0,5 kg lươn đem nấu với 100 gr vị thuốc hoàng kỳ. Nấu dạng như nấu canh, có nêm nếm gia vị.

– Xương ống chân của dê rửa sạch, đập cho nát ra, rồi đem nấu cháo loãng với gạo nếp, 20 trái táo đỏ, nêm nếm gia vị, dùng trong ngày.

– Gan heo chừng 100 – 200 gr, rửa sạch, cắt lát rồi đem nấu cùng một ít rau chân vịt. Bắc nồi nước nấu, khi nước sôi thì cho ít gừng tươi, gia vị vào, sau đó cho rau chân vịt, rồi cho gan vào nấu đến khi chín.

– Nấm mèo (loại có màu đen) chừng 20 gr, cùng 10 trái táo và một ít đường đỏ đem nấu chung để dùng.

– Lấy vài quả táo đỏ, 50 gr đậu xanh hạt đem nấu với đường đỏ để dùng.

– Dùng vài quả dâu tươi đem nấu với một ít đường đỏ để lấy nước uống.

– Dân gian còn dùng cây cỏ mật (loại mọc trên núi) khoảng 9 gr, đem nấu với linh chi (9 gr), đương quy (9 gr), trần bì (9 gr), cam thảo (9 gr), sâm (6 gr), hoàng kỳ (12 gr) để lấy nước uống trong ngày.

Ngoài ra, nên dùng những loại thực phẩm chứa chất diệp lục – có trong các loại hoa quả và rau tươi như: quýt, cam, táo chua, quả đào, hồng, rau cần, hạnh đào, nho…

Theo Thanh Niên

Dân công sở dễ mắc bệnh mãn tính

Nguyên nhân cơ bản mắc các bệnh mãn tính là ít vận động, hiện tượng ngày càng ngày càng phổ biến trong xã hội hiện đại.

Các nhà khoa học thuộc Trường ĐH Kansas (Mỹ) chuyên nghiên cứu về Công thái học (ergonomics) đi đến kết luận là cách làm việc ngồi nhiều ở một tư thế nhất định làm tăng nguy cơ phát triển nhiều bệnh mãn tính.

Các nhà nghiên cứu đã tiến hành một cuộc điều tra y tế rất rộng rãi có số người tham gia lên tới 63.048 người trong độ tuổi từ 45 đến 65. Các tình nguyện viên đã trả lời câu hỏi về tình trạng sức khoẻ của mình như mình mắc bệnh mãn tính gì (và không mắc bệnh gì) cùng với thói quen hàng ngày của họ.

dan-cong-so-de-mac-benh-man-t

Ngồi lâu ở một tư thế, ít vận động là nguyên nhân
khiến dân văn phòng dễ mắc các bệnh mãn tính.

Theo kết quả, những người hàng ngày ngồi tại một chỗ từ 4 giờ trở lên hay mắc các bệnh ung thư, tiểu đường, bệnh tim và cao huyết áp, làm các bệnh này chiếm một tỷ lệ rất cao trong xã hội và có chiều hướng tăng.

Càng ngồi nhiều, nguy cơ mắc bệnh càng cao, đặc biệt là những người mà do nghề nghiệp bắt buộc phải ngồi nhiều như nhân viên văn phòng và lái xe.

Tuy nhiên, thông tin này mới chỉ ở những con số thống kê mà chưa vạch ra được nguyên nhân của chúng một cách đầy đủ. Có thể có cả những yếu tố khác nữa cũng đóng vai trò nhất định trong việc phát triển một số bệnh tương tự.

Theo Vietnamnet

Biểu hiện của bệnh viêm gan c mãn tính

Các chuyên gia giới thiệu rằng bệnh nhân viêm gan mãn tính C không được điều trị kịp thời hoặc không điều trị đầy đủ chính xác sẽ dẫn dến xơ gan hay ung thư gan.

Biểu hiện của bệnh viêm gan c mãn tính

Trên 50% bệnh nhân viêm gan do virus C sẽ chuyển thành mãn tính, ngoài ra nếu nguyên nhân gây viem gan man tinh là do truyền máu thì sau 10 năm có tới 20% số bệnh nhân chuyển thành xơ gan, ngay cả với những thể nhẹ và vừa không có triệu chứng và chỉ tăng nhẹ men transaminase. Diễn tiến của viêm gan c thường chậm và âm thầm. Mức độ tiến triển phụ thuộc vào nồng độ HCV- ARN và thời gian nhiễm bệnh.

viem-gan-c

Biểu hiện lâm sàng của viêm gan C mãn tính

Cũng tương tự như viêm gan mãn do virus viêm gan B, thường gặp nhất là mệt mỏi, vàng da ít gặp. Các biểu hiện ngoài gan cũng ít gặp hơn. Triệu chứng khởi đầu có thể biểu hiện những đợt rầm rộ như trong viêm gan cấp (l/3 trường hợp), phần còn lại thường âm thầm làm phần lớn bệnh nhân không nhận biết được, thường chỉ biểu hiện bởi triệu chứng cơ năng chung là mỏi mệt, cảm giác nặng tức vùng hạ sườn phải, nhiều lúc có đau cơ, đau khớp hoặc nhiều lúc chỉ có cảm giác nhức mỏi chung chung. Trong những đợt tiến triển, các triệu chứng thường phong phú và rầm rộ hơn với sốt, vàng da, vàng mắt, nước tiểu vàng hoặc sẫm màu, đau cơ, đau khớp và nhất là đau tức vùng gan và ngứa. Khám thấy gan to vừa, căng chắc ấn đau tức, vàng da vàng mắt, hồng ban và giãn mạch hình sao.

Giai đoạn sau khi đã có biến chứng bệnh xơ gan, các biểu hiện viêm thường giảm dần, thay vào đó là các triệu chứng của xơ gan cổ trướng và suy gan là nổi bật; hoặc các triệu chứng của ung thư gan với gan rất lớn, gan cứng và có nhiều khối u lổn nhổn.

Nguồn sức khỏe

Phòng bệnh tâm phế mạn ở người cao tuổi

Tâm phế mạn là bệnh có sự thay đổi cấu trúc và chức năng của thất phải sau những rối loạn hay bệnh của hệ hô hấp, có nghĩa là bệnh tim nhưng nguyên nhân là do từ bệnh phổi mà bị. Tâm phế mạn là loại bệnh được xếp hàng thứ 3 trong các bệnh tim mạch, thường gặp nhất ở người trên 50 tuổi sau tăng huyết áp và bệnh tim do xơ vữa mạch máu.

Nguyên nhân tâm phế mạn ở người cao tuổi

Nguyên nhân gây nên bệnh tâm phế mạn chủ yếu là do bệnh mạn tính về hệ hô hấp. Có nhiều bệnh mạn tính của hệ hô hấp nhưng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) đóng vai trò hàng đầu dẫn đến bệnh tâm phế mạn. Và các đợt bộc phát cấp của bệnh COPD sẽ làm cho tâm phế mạn nặng thêm, có trường hợp chỉ sau 3 năm đã có dấu hiệu suy tim phải. Ngoài ra, một số bệnh về phổi làm cản trở lưu thông khí gây thiếu ôxy như bệnh viêm phế quản mạn tính, viêm phổi kẽ, viêm rãnh liên thùy phổi, xơ hóa phổi, bệnh khí phế thũng, giãn phế quản, giãn phế nang, hen suyễn, bệnh tĩnh mạch phổi hoặc bệnh tăng áp lực phổi tiên phát. Một số bệnh tuy không thuộc hệ thống hô hấp nhưng có liên quan đến hô hấp như bệnh loạn dưỡng cơ, nhất là các cơ hô hấp (cơ liên sườn, cơ hoành), dị dạng cột sống do thoái hóa hoặc do dị tật bẩm sinh, bệnh Lupus ban đỏ hệ thống (bệnh rối loạn chất tạo keo) làm tổn thương mạch máu phổi cũng có thể gây nên bệnh tâm phế mạn.

phong-benh-tam-phe-man-o-nguoi-cao-tuoi

Biểu hiện tâm phế mạn

Phòng bệnh tâm phế mạn

Ðể phòng chống có kết quả bệnh tâm phế mạn, điều quan trọng hàng đầu là phải phòng tránh mắc các bệnh phổi cấp tính và nếu bị bệnh phổi cấp tính phải điều trị dứt điểm theo chỉ định của bác sĩ khám bệnh. Phòng bệnh tích cực là không hút thuốc lào, thuốc lá. Nhà ở phải thông thoáng, hạn chế khói, hơi độc (bếp than, bếp dầu) và vệ sinh môi trường sạch tránh tiếp xúc với bụi, chất thải bẩn. Những người lao động ở môi trường khói bụi, môi trường bị ô nhiễm phải có phương tiện phòng hộ đảm bảo tiêu chuẩn an toàn. Khi nghi ngờ bị bệnh tâm phế mạn, cần đi khám bệnh nhằm phát hiện và điều trị càng sớm càng tốt để tránh bệnh chuyển sang giai đoạn tăng áp lực động mạch phổi, suy tim phải. Cần có chế độ sinh hoạt và chế độ ăn, uống hợp lý như không ăn mặn, ăn ít muối (thậm chí phải ăn nhạt, khi có suy tim). Khi đã xác định bệnh tâm phế mạn, không nên lao động nặng, không làm việc gắng sức.

Diễn biến của bệnh tâm phế mạn sẽ trải qua các giai đoạn khác nhau. Vì tâm phế mạn xuất phát từ các bệnh của viêm phổi mạn tính cho nên sẽ có các triệu chứng của viêm phế quản mạn, vì lẽ đó giai đoạn đầu của tâm phế mạn triệu chứng thường bị che lấp. Tiếp theo là giai đoạn tăng áp lực động mạch phổi. Sau cùng là giai đoạn suy tim phải. Ở giai đoạn đầu, khi bị bệnh phổi mạn tính thường có những đợt cấp tái phát xen kẽ những thời kỳ tạm ổn định. Bệnh nhân có thể có sốt, ho từng cơn, ho có đờm trắng, dính (nếu viêm phế quản cấp thì giai đoạn đầu chưa có đờm). Nghe phổi thấy có ran (rales) như  ran ngáy, ran rít, ran nổ, ran ẩm nhỏ hạt rải rác hai phế trường hoặc khu trú ở một thùy phổi nào đó (viêm phổi thùy). Giai đoạn này có thể kéo dài khá lâu, đôi khi đến 15 – 20 năm. Cứ mỗi đợt cấp tái phát bệnh lại nặng lên cho đến giai đoạn tăng áp lực động mạch phổi, tiếp đến là suy tim phải. Tăng áp lực động mạch phổi biểu hiện khi gắng sức, ho có nhiều đờm và bắt đầu có dấu hiệu đau ở vùng gan (vùng liên sườn 11 – 12 và hạ sườn phải) do gan ứ máu bởi bắt đầu suy tim phải. Nghe tim sẽ phát hiện dấu hiệu bệnh lý, ấn gan sẽ thấy tĩnh mạch cổ nổi rõ. Xquang tim cho thấy động mạch phổi nổi, siêu âm tim bằng Doppler màu sẽ cho thấy áp lực động mạch phổi trên 35mmHg. Giai đoạn cuối là suy tim phải, sẽ xuất hiện khó thở càng ngày càng tăng, nhất là lúc làm việc nặng, gắng sức (mang vác nặng, lên cầu thang, chạy, nhảy). Gan to, đau, tĩnh mạch cổ nổi và đập. Đồng thời xuất hiện phù ở mặt, chân phù rõ, môi tím, tim đập nhanh, loạn nhịp. Xquang tim sẽ thấy thân động mạch phổi phồng to. Điện tâm đồ sẽ xuất hiện dày nhĩ phải và thất phải. Siêu âm Doppler màu sẽ cho thấy áp lực động mạch phổi trên 45mmHg. Tình trạng thiếu ôxy mạn tính sẽ làm xuất hiện ngón tay, ngón chân có hình dùi trống hoặc có mắt lồi và đỏ do tăng sinh của các mao mạch máu màng tiếp hợp. Do lưu lượng tuần hoàn giảm, lượng máu đến thận giảm, bệnh nhân đái ít, gây suy thận chức năng, nếu không phát hiện và điều trị kịp thời sẽ dẫn đến suy thận thực thể, suy thận mạn. Tiên lượng của bệnh tâm phế mạn tùy thuộc rất lớn đến việc phát hiện bệnh sớm hay muộn và điều quan trọng nữa là khi phát hiện bệnh có được điều trị tích cực hay không, chế độ sinh hoạt, ăn uống có hợp lý hay không?

ThS.BS. Bùi Mai Hương

Theo SKDS

Những điều mới trong điều trị viêm mi

Từ xưa trong dân gian đã đúc kết kinh nghiệm “thứ nhất đau mắt, thứ nhì nhức răng”. Không chỉ đau mắt, mà những triệu chứng như ngứa mắt, cộm mắt cũng khiến người bệnh vô cùng bứt rứt, khó chịu. Đó có thể là những triệu chứng khởi đầu của viêm bờ mi.

Dấu hiệu viêm mi

Viêm mi mắt là căn bệnh khá phổ biến với người trên 50 tuổi. 80% trong số họ là nữ giới. Triệu chứng chủ quan có thể giống nhiều bệnh khác nhưng nhìn chung là cảm giác ngứa, cộm, thích gãi mi, lông mi rụng nhiều. Các triệu chứng của khô mắt gồm: cộm, rát, chảy nước mắt, thích nhắm mắt.

Khi thăm khám dưới sinh hiển vi, các bác sĩ sẽ chú ý “truy tìm” các dấu hiệu sau đây: bờ mi dày, đỏ; phình giãn mạch ở bờ mi; các mụn nước nhỏ ở mi; các lỗ tuyến bờ mi bị tắc tạo thành các mụn nhỏ; hiện tượng tăng tiết bã nhờn của da và tuyến sụn mi; biểu hiện tắc của các lỗ đổ ra bờ mi của tuyến sụn mi: ứ đọng chất tiết ở lỗ tuyến, chảy dịch khi ấn đè.

dieu-tri-viem-mi-mat

Do đâu bị viêm mi?

Ô nhiễm môi trường đáng báo động, các rối loạn hormon và dùng hormon thay thế, dùng thuốc và mỹ phẩm bừa bãi… đều là những nguy cơ gây nên căn bệnh này. Những vi sinh vật gây bệnh không phải ở xa tới mà trú ngụ ngay trên da mi, các lỗ chân lông mi. Trong nhóm vi khuẩn phải kể đến liên cầu sống trên da, tụ cầu vàng, ký sinh trùng Demodex và một số loại nấm, virut Herpes. Ngoài ra, tình trạng khô mắt, chắp, lẹo, viêm giác mạc; nồng độ hormon sinh dục nữ, tình trạng của da hay bệnh lý của da đang mắc sẽ quyết định bệnh nhân có bị viêm mi hay không và khả năng kiểm soát bệnh này.

Những quan điểm trong điều trị

Việc điều trị chủ yếu là dùng thuốc. Thuốc kháng sinh uống là doxycycline liều 100mg/ngày hay tetracycline 1.000mg/ngày trong 2 – 6 tuần hoặc erythromicin hay azithromycine liều 500mg/ngày trong 1 tuần. Kháng sinh đường uống có thể dừng lại, ngắt quãng hay kéo dài tùy thuộc tình trạng viêm mi của bệnh nhân cũng như khả năng đáp ứng với điều trị.

Các thuốc chống viêm dòng steroid và điều hòa miễn dịch như cycloporine cũng có thể sử dụng nhưng chỉ khi có đơn thuốc và ý kiến từ bác sĩ chuyên khoa.

Các thuốc tra nhỏ tại chỗ: chủ yếu là thuốc mỡ tra mắt có hoạt chất là bacitracin, erythromycin hoặc metronidazol. Có thể tra một lần vào buổi tối trước khi đi ngủ hay thêm một lần nữa vào giờ ngủ trưa, kéo dài 1 – 3 tuần. Mỡ tra mắt có dexamethason kết hợp với tobramycin được cho là có khả năng giảm nhẹ các triệu chứng của viêm mi khá tốt.

Vệ sinh mắt – yếu tố quyết định trong điều trị viêm mi.

Đây chính là phần việc của bệnh nhân và là phần quan trọng nhất. Bệnh nhân cần được hướng dẫn để lật mi theo chiều đứng để vệ sinh và massage mi. Ở tư thế trên, các lỗ tuyến sụn mi sẽ được bộc lộ, ta sẽ lau chùi mi từ bên này sang bên kia để loại trừ các vảy bám. Kết thúc quá trình vệ sinh sẽ là công việc rửa lông mi bằng các dung dịch rửa mắt có trên thị trường. Mới đây, một nghiên cứu trên nhóm bệnh nhân đã chứng minh vệ sinh mi mắt bằng dầu gội chứa 5% tinh chất trà xanh trong 6 tuần làm lui giảm các triệu chứng của viêm mi rất tốt, đặc biệt là với viêm mi do Demodex. Ta có thể dùng tăm bông, miếng gạc hay chính các ngón tay để làm công việc này. Việc lau chùi cần làm hằng ngày cho đến khi thấy không còn khó chịu. Cần lưu ý là việc vệ sinh mi có thể gây nguy hiểm cho mắt nếu không tuân thủ qui trình và dùng dụng cụ thích hợp. Bạn nên đề nghị các bác sĩ hướng dẫn tường tận thủ thuật này. Đa phần các triệu chứng của viêm mi sẽ giảm trông thấy sau một thời gian vệ sinh mi và massage mi.

Chườm mi là một động tác nữa bổ sung rất tốt cho các liệu pháp tổng thể điều trị viêm mi. Ta có thể dùng khăn, gạc, các túi gel được sản xuất riêng cho việc này cho vào nước ấm hay lò vi sóng nâng nhiệt độ lên. Sau đó chườm vài phút vào mi mắt. Phương pháp này làm bệnh nhân có cảm giác dễ chịu, các lỗ tuyến ở mi được giãn nở và giải phóng cặn bã, đóng góp vào kết quả điều trị viêm mi. Chườm mi nên được làm hằng ngày và lâu dài. Sau đó có thể nhắc lại nếu các khó chịu tái diễn. Một phương pháp điều trị đặc biệt có dùng dòng dầu nóng luân chuyển liên tục áp lên mi người bệnh mới được áp dụng tại Mỹ cho kết quả rất khả quan. Tuy nhiên, giá cả cho một liệu trình điều trị lên tới 1.200USD.

Acid béo omega 3, liều hơn 1 gram/ ngày, dùng liên tục trong một năm được các nghiên cứu về dinh dưỡng cho là có tác dụng với viêm mi. Chất lượng phim nước mắt được cải thiện rõ nhờ tác động vào hệ thống tiết bã nhờn của mi chính là lý do của thành công này.

Cho đến thời điểm hiện tại, viêm mi vẫn là căn bệnh mạn tính khó điều trị tiệt căn, đòi hỏi người bệnh phải “chung sống hòa bình”. Tuy nhiên, điều các bệnh nhân viêm mi cần ghi nhớ là mỗi khi bạn có những triệu chứng: giảm thị lực, đau nhức mắt, đỏ mắt nặng, chói mắt, chảy nước mắt, bệnh tái phát theo chu kỳ, trơ với phương pháp điều trị đang áp dụng… nên đi khám mắt càng sớm càng tốt.

Bs. Hoàng Cương (Bệnh viện Mắt TW)

Theo SKDS

Mãn kinh và những thay đổi về xương ở phụ nữ

Tuổi càng cao, sức khỏe cũng như vóc dáng của con người sẽ thay đổi. Ở độ tuổi 40-50, đối với phụ nữ cơ thể sẽ “xuống dốc không phanh” với những biểu hiện: da nhăn nheo, vòng 2 biến dạng trong khi vòng 1 lại nhỏ đi… Nhưng có một sự thay đổi lớn mà ít người nhận ra đó là sự thay đổi về xương, nhất là ở phụ nữ tuổi mãn kinh.

Từ nhỏ cho đến khi lớn lên lượng xương trong cơ thể người phụ nữ tăng dần, khoảng 25-30 tuổi thì đạt đến đỉnh cao. Nhân tố di truyền có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của xương (80%), 20% là do chế độ ăn uống, vận động, hormon, thuốc và bệnh mạn tính quyết định.

Trong giai đoạn phát dục, cơ thể cần bổ sung lượng canxi thích hợp để phát triển xương. Vì thế, nếu không chú ý bồi dưỡng sức khỏe ở giai đoạn này thì hệ xương kém phát triển mà biểu hiện cụ thể nhất là chiều cao phát triển kém. Phụ nữ có mật độ xương ở mức cao nhất ở lứa tuổi 30 và họ cần phải có đủ lượng canxi để tạo xương và duy trì sức khỏe ở giai đoạn còn lại. Ngoài 30 tuổi, lượng xương của người phụ nữ dần dần thoái hóa (mỗi năm giảm 0,25%-1%), và sau khi mãn kinh (trong vòng 15 năm đầu) do lượng oestrogen giảm nên tốc độ thoái hóa xương khá nhanh, mỗi năm giảm 1%-5%. Trong khoảng thời gian 3-5 năm đầu sau khi mãn kinh, sự thoái hóa xương xảy ra nhanh nhất, với biểu hiện chủ yếu là hiện tượng xốp xương. Thêm vào đó là quá trình già hóa nên công năng của tế bào xương giảm, sự hấp thụ canxi và sự tổng hợp vitamin D kém đi… làm ảnh hưởng xấu đến cấu trúc của xương.

man_kinh_va_nhung_thay_doi_ve_xuong_o_phu_nu

Mật độ xương chỏm xương đùi giảm rõ rệt trước và sau mãn kinh.

Bước sang tuổi 60-70, xương của người phụ nữ yếu hẳn, sụn và các đĩa đệm xẹp xuống, biểu hiện rõ nhất là lưng bị còng. Theo thống kê, có tới 40% phụ nữ ở độ tuổi trên 50 mắc các chứng bệnh về xương như đau lưng, đau vai, mỏi gối, gãy xương… Sau mãn kinh, loãng xương tiến triển theo thời gian, xương mất nhiều lên. Kết quả là một hoặc nhiều xương bị gãy, và sau đó là đau kéo dài và tàn tật. Chẩn đoán loãng xương càng sớm càng tốt là bước rất quan trọng để giúp hạn chế mất xương ở giai đoạn sớm nhất có thể. Mãn kinh là nguyên nhân quan trọng nhất gây loãng xương. Tuy nhiên không phải người phụ nữ nào ở tuổi mãn kinh cũng bị loãng xương mà chỉ có khoảng 30% số người bị bệnh loãng xương, và ở độ tuổi ngoài 75 thì tỷ lệ này chiếm tới 40%-60%.

Các kết quả nghiên cứu đã chứng minh rằng, những nhân tố dễ gây loãng xương là: di truyền, nghiện thuốc lá, nghiện rượu, dùng đồ uống có hàm lượng caffein quá cao, ít vận động mạnh, thiếu canxi, mãn kinh quá sớm… Ngoài ra, tác dụng phụ của một số loại thuốc cũng có thể gây loãng xương.

Để hạn chế những tác động xấu do loãng xương ở phụ nữ trong giai đoạn mãn kinh. Cần có một chế độ ăn uống đủ chất: canxi, florua, magiê, và bổ sung vitamin D bằng cả việc ăn uống kết hợp với hoạt động ngoài trời, tăng cơ hội sưởi nắng để làm tăng lượng vitamin D3 tổng hợp ở tế bào da, làm tăng khả năng hấp thụ canxi qua đường tiêu hóa, làm cho xương chắc hơn. Bạn cũng nên bổ sung đầy đủ canxi tối thiểu 1.000mg/ngày; sử dụng liệu pháp nội tiết tố thay thế ở giai đoạn mãn kinh theo chỉ định của bác sĩ. Đối với một số trường hợp cần phải được bổ sung oestrogen và canxi, hạn chế tối thiểu hiện tượng gãy xương. Để tránh phát sinh hiện tượng gãy xương, phụ nữ ở giai đoạn tiền mãn kinh nên chú ý đề phòng trượt ngã. Muốn giảm chứng loãng xương, ngoài việc kết hợp ăn uống, bạn cũng phải có một chế độ luyện tập thích hợp như chơi thể thao (bóng bàn, cầu lông, tennis…), đi bộ đúng cách. Nên tránh những môn thể thao hay ngã như đạp xe ở địa hình gồ ghề, đấu vật, thể hình… Hạn chế đưa vào cơ thể những chất góp phần làm mất canxi và magiê như đồ uống có caffein, nước ngọt có gas, chất cồn và muối. Thừa cân cũng làm bộ xương mỏng mảnh chịu lực nhiều hơn. Vì thế, bạn phải giữ ổn định trọng lượng. Các sản phẩm từ sữa là nguồn cung cấp canxi rất tốt. Lưu ý, bạn chỉ nên dùng các loại sữa và sản phẩm từ sữa có lượng chất béo thấp.

BS. Hà Hùng Thủy
Theo SKĐS

Nám má do rối loạn nội tiết

Rám má là một bệnh da với biểu hiện tăng sắc tố, thường xuất hiện ở mặt nhất là hai bên gò má, bệnh có cả ở hai giới, nhưng phụ nữ gặp nhiều hơn, bệnh tuy lành tính, không gây tử vong nhưng lại ảnh hưởng nhiều đến tính sinh lý và thẩm mỹ của người bệnh đặc biệt là phụ nữ.

Vì đâu nên nỗi?
Rám má là bệnh da do rối loạn chuyển hóa sắc tố Melanin ở da đặc biệt là ở số lượng tế bào của thượng bì. Ở những người bị bệnh rám má số lượng tế bào sắc tố hoàn toàn bình thường, nhưng do rối loạn nội tiết tố đặc biệt là estrogen làm cho tế bào sắc tố tăng cường sản xuất ra sắc tố melanin và các sắc tố này được  tăng cường vận chuyển sang các tế bào thượng bì vì vậy làm tăng sắc tố của da. Bên cạnh đó các đại thực bào cũng di chuyển lên thượng bì và thực bào các sắc tố sau đó di chuyển và khu trú  ở trong, thậm chí cả dưới hạ bì. Chính vì thế trên lâm sàng vừa có rám má khu trú ở trung bì vừa có rám má khu trú ở cả trung bì và thượng bì hay còn gọi là rám má hỗn hợp.

Chính vì lẽ đó người ta cho rằng rám má là một bệnh da tăng sắc tố có nguyên nhân là do nội tiết. Do vậy bất kể nguyên nhân nào ảnh hưởng tới nội tiết của cơ thể đều có thể làm phát sinh rám má, đặc biệt các nội tiết tố sinh dục như: Androgen, estrogen, progesteron,…ngoài ra một số loại hormon khác cũng có thể làm phát sinh bệnh như hormon tuyến giáp, tuyến thượng thận, tuyến yên….

Ngoài ra có một số yếu tố thuận lợi làm phát sinh bệnh như: Uống thuốc tránh thai, viêm nhiễm cấp hay mạn tính, hay gặp trong viêm xoang, viêm phần phụ,… chửa đẻ, nghề nghiệp nhất là những người làm nghề có liên quan đến dầu mỏ và các sản phẩm hóa dầu những người sản xuất và sử dụng nhiều nước hoa.

nam-ma-do-roi-loan-noi-tiet-to

Các loại rám má

Lâm sàng: Các dát tăng sắc tố màu nâu, nâu đen, xanh đen.

Màu sắc có thể đồng đều có thể không, ranh giới tổn thương thường không đều và thường có tính chất đối xứng, tổn thương nhẵn, không có vảy, không ngứa, không đau. Tổn thương thường khu trú ở hai bên gò má, thái dương, trán, mũi, quanh miệng. Đôi khi tổn thương còn xuất hiện ở cánh tay trên. Các dát sắc tố này tăng đậm về mùa xuân hè, có giảm về mùa thu đông. Bệnh thường xuất hiện ở tuổi hai mươi nhất là tiền mãn kinh nhưng đôi khi tổn thương xuất hiện trước cả khi dậy thì và những người tận đến 50-60 tuổi mới xuất hiện.

Dựa vào mức độ tăng sắc tố và diện tích tổn thương người ta chia rám má thành các thể lâm sàng khác nhau:

Thể nhẹ: Tăng sắc tố nhẹ và tổn thương khu trú ở hai bên gò má.

Thể trung bình:  Tăng sắc tố đậm hơn, tổn thương khu trú hai bên gò má, bắt đầu lan ra các vị trí khác.

Thể nặng: Tăng sắc tố đậm, tổn thương lan rộng ra cả thái dương, trán hoặc mũi.

Thể rất nặng: Tăng sắc tố rất đậm, tổn thương lan rộng ngoài mặt còn có thể xuất hiện ở cánh tay trên.

 Cách chữa

 Nguyên tắc điều trị:

Điều trị nguyên nhân nếu có thể, kết hợp với phòng tái phát và bằng thuốc bôi và thuốc uống.

Điều trị nội khoa kết hợp với Laser hay các nghiệm pháp ứng dụng công nghệ cao như tế bào gốc…

Điều trị tại chỗ:

Cơ chế bôi đơn thuần bằng các thuốc giảm sắc tố da hay  kết hợp với vitamin A-acid , kem chống nắng hay mỡ corticoid.

Lưu ý: Trường hợp nhẹ chỉ cần bôi thuốc giảm sắc da đơn thuần  vào buổi tối trước khi đi ngủ 1 lần.

Trường hợp trung bình, nặng: Ta nên phối hợp 1 hoặc 2 loại  thuốc có thể là thuốc giảm sắc tố da với kem chống nắng hoặc vitamin A-Acid hay mỡ corticoid.

Chú ý: Bôi kem chống nắng phải bôi 30 phút trước khi ra nắng, kể cả hôm trời râm, bôi mỡ corticoid chỉ dùng không quá 10 ngày.

Nếu có tác dụng phụ ngừng ngay thuốc để điều chỉnh phác đồ.

Không dùng thuốc bôi cho các trường hợp rám má ở trung bì. Rám má thể rất nặng: Ta có thể kết hợp bôi thuốc với sử dụng phương pháp khác như chiếu tia Laser hồng ngọc hay liệu pháp ứng dụng công nghệ tế bào gốc,…

Toàn thân:

Cho một loại kháng sinh phổ rộng. Uống vitamin nhóm B liều cao kéo dài 20 ngày đến 1 tháng. Vitamin C, L cystein… hỗ trợ.

Phòng ngừa bệnh

Để tránh bệnh tái phát cần bảo vệ bằng đội mũ rộng vành, đeo kính, áo dài khi ra nắng. Bôi kem chống nắng trước khi ra ngoài trời 30 phút. Tính tái phát: Không sử dụng thuốc tránh thai. Điều trị các ổ viêm nhiễm. Thường xuyên kiểm tra sức khỏe- phát hiện các rối loạn nội tiết trong cơ thể để chỉnh kịp thời.  Sinh hoạt điều độ, tránh thức khuya, bia rượu nhiều, không hút thuốc lá, ăn nhiều hoa quả, thức ăn có nhiều vitamin và khoáng chất. Hạn chế sử dụng mỹ phẩm, các chất tẩy rửa ở mặt.
PGS. TS. Nguyễn Văn Thường

Phương pháp giúp giảm nguy cơ bị ung thư

 bước thay đổi đơn giản sau đây có thể giúp bạn giảm 51% nguy cơ mắc bệnh ung thư cũng như tim mạch, một nghiên cứu mới vừa khẳng định.

Danh sách ‘Life’s Simple 7’ do Hiệp hội Tim mạch Mỹ đưa ra, ban đầu chỉ với mục tiêu cảnh báo bệnh tim. Nhưng nghiên cứu mới đây phát hiện nó cũng đúng với bệnh ung thư.

Cụ thể, nó gồm có 7 quy tắc vàng:

– Năng vận động cơ thể

– Giữ cân nặng vừa phải

– Chế độ ăn khỏe mạnh

– Duy trì mức cholesterol hợp lý

– Không để huyết áp tăng cao

– Kiểm soát lượng đường máu

– Không hút thuốc

Nghiên cứu mới đây tìm hiểu hơn 13.200 người Mỹ, bắt đầu từ năm 1987, và phỏng vấn, kiểm tra lại vào 20 năm sau đó.

Phuong_phap_giam_benh_ung_Thu

Ảnh: bp.blogspot.com.

Các nhà khoa học phát hiện, nếu không tính tới yếu tố hút thuốc, thì người nào đạt 5-6 tiêu chí nói trên sẽ giảm được 25% nguy cơ mắc ung thư so với người không đạt tiêu chuẩn nào.

Người đạt 6-7 tiêu chí thì giảm nguy cơ mắc ung thư tới 51% so với người không đạt tiêu chí nào. Người đạt 4 tiêu chí thì giảm nguy cơ mắc ung thư 33%.

Trưởng nhóm nghiên cứu Laura Rasmussen-Torvik, từ trường Y Feinberg, Đại học Northwestern (Chicago, Mỹ) cho biết “Điều này có thể giúp các bác sĩ cung cấp một thông điệp rõ ràng, thống nhất hơn về những điều quan trọng nhất mọi người cần làm để bảo vệ sức khỏe của mình, và làm giảm nguy cơ mắc bệnh mãn tính nói chung”.

Theo vnexpress

Béo phì có thể gây ra những bệnh mạn tính

Béo phì là nguyên nhân chính góp phần dẫn tới các bệnh mạn tính.

Nguyên nhân dẫn tới tình trạng béo phì là sự kết hợp giữa các yếu tố môi trường và di truyền.

beo-phi-gay-ra-benh-man-tinh-nao-1

Béo phì và các bệnh thoái hóa

Béo phì là một tình trạng mạn tính có liên quan mật thiết với tăng nguy cơ mắc một số loại bệnh thoái hóa. Bệnh thoái hóa là một chứng bệnh nổi lên do sự suy giảm chức năng của các tế bào cơ thể từ tình trạng bình thường trở lên xấu hơn và kéo dài mãi. Nó có thể gây ra bệnh tim mạch, đau tim hoặc đột quỵ và cao huyết áp.

Béo phì làm tăng cholesterol

Béo giữ một vai trò quan trọng trong việc làm tăng cholesterol trong máu. Cholesterol được tích lại trong mạch máu dẫn tới bệnh tim, ức chế dòng máu và có thể dẫn tới đau tim hoặc đột quỵ.

Béo phì gây bệnh tiểu đường týp2

Béo phì khiến hormon insulin do tuyến tụy tiết ra hoạt động không hiệu quả, các biến chứng của béo phì khiến insulin không thể giúp tế bào của cơ thể hấp thu đường. Vì hormon insulin hoạt động không hiệu quả trong việc giúp cơ thể hấp thu đường nên tuyến tụy sẽ cố gắng sản sinh nhiều insulin hơn. Nếu tình trạng này kéo dài, thì việc sản sinh insulin của tuyến tụy sẽ giảm đi và khi đó bệnh nhân dễ mắc bệnh tiểu đường týp 2.
Ngoài những bệnh mạn tính trên thì béo phì còn gây ra nhiều tác động tiêu cực và nguy cơ khác cho cơ thể. Vì vậy, để tránh tình trạng béo phì, bạn nên duy trì chế độ ăn lành mạnh và thường xuyên tập thể dục.

Theo An ninh Thủ đô / MMN

Theo TTVN