Tag Archives: bệnh hô hấp

Ho về đêm ở trẻ em

Thời tiết những ngày đầu đông đang có những dấu hiệu thay đổi nhiệt độ thất thường, ngày ấm đêm lạnh, là điều kiện cho các chứng bệnh về hô hấp phát triển, trong đó có chứng ho về đêm khiến người bệnh mất ngủ, mệt mỏi, ảnh hưởng đến việc học tập và làm việc…

Ho là một triệu chứng hay gặp, nhất là khi thời tiết thay đổi từ nóng sang lạnh, hít phải nhiều bụi, khói, khói bếp, khói lò… Ho là một phản xạ sinh lý có tính bảo vệ cơ thể nhằm tống ra khỏi đường hô hấp các chất dịch, đàm do phế quản hay phổi tiết ra hoặc các dị vật từ ngoài lọt vào như: thức ăn, bụi… Do đó, ho được coi là một cơ chế bảo vệ bộ máy hô hấp. Ho không phải là bệnh mà là triệu chứng của nhiều bệnh.

Ho về đêm chỉ tình trạng không ho vào ban ngày, nhưng cứ đến đêm lại bị ho, có thể ho từng cơn và ho dai dẳng, liên tục. Nguyên nhân và triệu chứng của chứng ho về đêm ở trẻ em và người lớn thể hiện như:

Ho về đêm ở trẻ em

ho-ve-dem-o-tre-em
Nhiều bé không ho vào ban ngày vì thời điểm này bé đang ở tư thế vận động, các chất nhầy tiết thoát ra ngoài một cách dễ dàng. Nhưng ban đêm, khi ngủ, các chất nhày ứ đọng trong cổ gây kích thích ho. Chính đờm nhớt sẽ làm bé nghẹt thở, khó chịu không ngủ được và quấy khóc suốt đêm. Bé có thể đau bụng, ho đỏ mặt và cong người vì khi ho, các cơ ở bụng co lại, đẩy cơ hoành lên, tống đờm ra khỏi cổ. Nếu đột ngột thấy trẻ ho sặc sụa, không bị sốt nhưng khó thở, mặt tái đi thì có thể do trẻ đã bị một dị vật vào đường hô hấp.

Trẻ ho về đêm cũng có thể do bị cảm lạnh, bị viêm mũi xoang nên đờm nhầy từ mũi xoang chảy xuống họng kích thích gây ho khi ngủ. Trẻ bị hen cũng hay ho về đêm do đường thở có khuynh hướng tăng nhạy cảm, dễ kích ứng về đêm. Ở những trẻ hen, cơn ho dài và dày khiến trẻ mệt mỏi. Khi trẻ ho nhiều sẽ kích thích phản xạ hầu họng gây nôn trớ.

Với các bé bị ho về đêm hoặc ho lúc ngủ trưa, sặc từng cơn dẫn đến nôn trớ, đây là triệu chứng của ho do trào ngược dạ dày – thực quản. Trẻ bị chứng trào ngược, van dạ dày không tốt, vì vậy, thức ăn và dịch tiết trào ngược lên đường hô hấp dễ gây viêm đường hô hấp. Ho thường xảy ra với các bé hay ăn uống sát giờ đi ngủ, thức ăn không kịp tiêu hóa cùng lượng dịch vị tiết ra nhiều hơn trong giấc ngủ, gây ứ, trướng dạ dày. Sau một thời gian dài ăn uống đêm liên tục, các cơ của bé suy yếu, không khép kín được miệng trên của dạ dày, tạo đều kiện cho các chất dịch ứ trong dạ dày trào ngược lên thực quản, rỉ ra họng, tràn vào thanh quản gây ho sặc từng cơn.

Chăm sóc bé bị ho đêm
Đa số khi thấy con bị ho đêm, các bố mẹ thường áp dụng một số bài thuốc dân gian để giúp con bớt ho. Có thể hấp mật ong với quất, mật ong với lá húng chanh, lá hẹ… chắt lấy nước cho con uống ngày 3 – 4 lần. Những cách này giúp cho bé giảm ho hiệu quả và lành tính. Cần thường xuyên vệ sinh mũi họng cho bé.

Bố mẹ cũng cần hạn chế cho con ăn uống sát giờ đi ngủ. Tốt nhất, bé nên ăn uống trước khi ngủ 1 giờ. Hạn chế cho bé ăn các loại thức ăn kích thích ho nhiều hơn như tôm, cua, ghẹ… Trước khi ngủ, hãy cho con uống 1 thìa mật ong ấm giúp con hạn chế cơn ho, làm cơn ho dịu đi và giúp con ngủ ngon hơn. Lưu ý không dùng mật ong cho bé dưới 1 tuổi.

Hãy kê cao gối cho con ngủ, đầu và vai cao hơn thân, ngăn đờm nhớt hay nước mũi ứ lại ở họng. Hãy giữ ấm cho con khi ngủ, không hở bụng, hở tay dễ khiến con bị nhiễm lạnh và ho nhiều hơn. Tránh để trẻ tiếp xúc với khói xe cộ, khói thuốc lá và bụi, giữ vệ sinh mũi họng cho bé và môi trường sống.

Ho đêm ở người lớn
Ban ngày có khi chỉ ho húng hắng chốc nhát, không có dấu hiệu của cúm hay viêm họng, nhưng khi ngủ trưa hoặc ban đêm, bạn lại bị ho, thậm chí ngứa họng phải khậm khoạc và ho dai dẳng, liên tục. Tình trạng này diễn ra thường xuyên sẽ ảnh hưởng đến giấc ngủ, khiến bạn khó chịu, mệt mỏi và dễ cáu kỉnh, hiệu suất làm việc sẽ bị ảnh hưởng. Ho về đêm ở người lớn có thể do các yếu tố sau:

Do hen suyễn: Hầu hết những người bị bệnh hen suyễn đều có thể gặp phải các vấn đề hô hấp như ho khan. Vì vậy, dấu hiệu ho về đêm cũng có thể là triệu chứng ban đầu của bệnh hen suyễn. Những triệu chứng của hen suyễn xuất hiện và biến mất phụ thuộc vào hoạt động và yếu tố tác động. Những triệu chứng đầu tiên thường là ho và thở rít, các triệu chứng tái đi, tái lại và thường nặng về đêm, khi gắng sức hoặc gặp lạnh. Nhiễm lạnh, cảm cúm hoặc nhiễm trùng đường hô hấp có thể gây bùng phát bệnh hen suyễn, khi đó, người bệnh cảm thấy khó thở, thở rít, ho tăng, khạc đờm tăng, nặng ngực…

Viêm xoang: Khi bị viêm xoang, các xoang bị viêm sẽ bị tắc, bị ngạt mũi, các chất nhày chảy xuống mặt sau của cổ họng. Vào ban ngày, các dịch nhày này được người bệnh xì ra hoặc tự trôi xuống đường tiêu hóa. Nhưng về ban đêm, dịch nhày dễ ứ lại nơi cổ họng và gây ho. Chứng nghẹt mũi do viêm xoang khiến người bệnh khi ngủ dễ phải thở bằng miệng, do vậy, họng rất dễ khô, rát và bị ho về đêm.

Trào ngược axit: Bệnh trào ngược axit (hay còn gọi là GERD) cũng gây ho. Khi nằm xuống, các axit gây khó tiêu và ợ nóng trong dạ dày có thể trôi ngược lên phổi dẫn đến ho. Nếu nguyên nhân gây ho và khó chịu về ban đêm đã được xác định thì hãy cố gắng ăn ít hơn vào bữa tối, khi ngủ nên gối cao đầu, việc trào ngược sẽ giảm đi và sẽ bớt ho.

Với tình trạng bị ho đêm kéo dài hơn 5 ngày (kể cả trẻ con và người lớn), kèm theo các triệu chứng như sổ mũi, ho sâu, khó thở, đau bụng…, người bệnh cần đi khám chuyên khoa để được dùng thuốc và tư vấn cách trị bệnh hiệu quả, không được tự ý dùng thuốc khi chưa có chỉ định của thầy thuốc.

Theo sức khỏe đời sống

Bệnh hen và những ngộ nhận thường gặp

Theo giáo sư Nguyễn Năng An, Chủ tịch Hội Hen, dị ứng và miễn dịch lâm sàng, các nghiên cứu cho thấy nếu điều trị và sinh hoạt đúng theo chỉ dẫn, có đến 84% số ca hen có thể kiểm soát tốt. Tuy nhiên trên thực tế ở Việt Nam, con số đạt được chỉ là 5%. Ngoài việc thiếu điều kiện kinh tế, sự hiểu nhầm rằng bệnh hen không thể cải thiện là một trong các nguyên nhân.

benh-hen-va-nhung-ngo-nhan-thuong-gap

Các ngộ nhận sau cũng làm giảm hiệu quả kiểm soát hen – căn bệnh của ít nhất 4,5 triệu người Việt Nam:

Thuốc cắt cơn mới là thần dược: Khi có cơn hen, loại thuốc này giúp bạn cảm thấy dễ chịu ngay nhờ tác dụng làm giãn phế quản. Chính vì vậy, nhiều người cho rằng đây mới là vị cứu tinh của mình, và thờ ơ với việc dùng thuốc điều trị dự phòng. Thực ra, việc dùng thuốc dự phòng rất quan trọng, vì nó làm giảm tình trạng viêm dị ứng và ngăn sự xuất hiện các cơn hen. Nếu không dùng nó như bác sĩ chỉ định, các cơn hen của bạn sẽ xuất hiện ngày càng dày và nặng, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Ngoài ra, việc lạm dụng thuốc cắt cơn còn gây nhờn thuốc.

Nên hạn chế dùng thuốc dự phòng vì nhiều tác dụng phụ: Khi thấy triệu chứng đã cải thiện, nhiều bệnh nhân đã ngừng dùng thuốc dự phòng dù chưa được bác sĩ đồng ý. Họ cho rằng không nên dùng thuốc này kéo dài vì sẽ gây tác dụng phụ. Điều này rất nguy hiểm vì sẽ làm bệnh quay trở lại nặng hơn. Theo phác đồ, bạn vẫn phải dùng thuốc dự phòng hằng ngày trong 3-6 tháng cho dù đã hết triệu chứng. Việc dùng thuốc đúng chỉ định sẽ giúp bạn giảm tối đa tác dụng phụ.

Có thể thoải mái dùng thuốc Đông y gia truyền: Nên hỏi bác sĩ nếu bạn muốn dùng bất cứ thuốc gì ngoài những thứ được kê đơn. Nhiều loại thuốc “gia truyền” thực chất chứa corticoide – một trong các chất kháng viêm vẫn được dùng điều trị dự phòng hen – nhưng liều lượng rất tùy tiện. Nó có thể gây quá liều corticoide và dẫn đến nhiều tác dụng phụ như tăng huyết áp, hạ canxi máu, loét dạ dày tá tràng, loãng xương, nấm họng, nám da… và nhiều rối loạn nữa.

benh-hen-va-nhung-ngo-nhan-thuong-gap1

Không được tập thể dục: Thực ra việc tập luyện luôn có lợi cho sức khỏe, ngay cả với người bị hen. Bạn có thể tập các môn nhẹ nhàng như đi bộ, đạp xe, khí công, thể dục nhịp điệu; trước đó cần khởi động và uống đủ nước. Tránh những môn cần gắng sức nhiều. Tuy nhiên, bạn nên đến bác sĩ tư vấn để chọn một môn và xác định cường độ, cách tập phù hợp với sức khỏe của mình. Nếu có triệu chứng của cơn hen, nên ngừng ngay, nghỉ ngơi và dùng thuốc cắt cơn.

Tiến sĩ Nguyễn Năng An cho biết bệnh hen chiếm ít nhất 5% dân số Việt Nam. Ở trẻ em, tỷ lệ này là 8-12%, cao nhất là ở các thành phố lớn do môi trường quá ô nhiễm. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, bệnh hen không ngừng gia tăng, cứ sau một thập kỷ là tỷ lệ dân số mắc bệnh này lại tăng 25-50%.

Đã có thể kiểm soát được bệnh hen phế quản

Biểu hiện lâm sàng

Theo chương trình khởi động toàn cầu phòng chống hen phế quản (Global Initiative for Asthma: GINA, WHO – 1995), HPQ là một bệnh viêm mạn tính đường thở chứ không đơn thuần do co thắt phế quản.

Bệnh biểu hiện bằng những cơn khó thở đặc biệt do lòng phế quản hẹp đi đột ngột bởi các chất nhầy, gây tình trạng khó thở từng cơn, khó thở chậm và khó thở ra. Cơn khó thở thường xảy ra về ban đêm (thường vào cuối đêm về sáng), sau vài triệu chứng báo hiệu như hắt hơi, sổ mũi, ho khan vài tiếng, có người thấy nặng ngực. Thường thì cơn xuất hiện đột ngột và giữ dội ngay. Người bệnh đang nằm phải ngồi dậy để thở, có khi phải vin tay vào thành giường, thành ghế để thở. Người bệnh thở rất khó nhọc, thở ra chậm (từ 8 đến 16 lần trong 1 phút) và kéo dài, nhưng hít vào nhanh và dễ gây nên những tiếng khò khè, cò cử mà ở xa cũng có thể nhận ra được. Tình trạng khó thở mỗi lúc một tăng, nom rất mệt nhọc. Người bệnh vã mồ hôi, há miệng để thở. Cứ như thế cho đến khi ho, khạc ra được ít đờm, dãi trong dính thì cơn hết, người bệnh thở được dễ hơn, rồi ngủ yên. Mỗi cơn như thế kéo dài chừng nửa giờ đến vài giờ. Tuy khó thở nhưng người bệnh vẫn tỉnh táo. Những trường hợp nặng hoặc bệnh đã lâu ngày thì cơn dài hơn, nhiều cơn hơn, có khi cơn hen xảy ra liên tiếp trong vài ngày hoặc lâu hơn nữa.

da-co-the-kiem-soat-duoc-benh-hen-phe-quan1

Ở trẻ nhỏ, con hen có phần khác hơn. Trẻ khó thở cánh mũi phập phồng, co kéo các cơ liên sườn, lõm trên và dưới xương ức, môi tím tái, vẻ mặt sợ hãi tưởng như ngạt thở. Cơn kéo dài vài giờ rồi dễ chịu. Trẻ dưới 1 tuổi cũng khó thở, nhưng không phải là khó thở chậm, khó thở ra mà lại khó thở cả hai thì, thở nhanh. Trẻ sốt 38,5-390C ho rũ rượi từng cơn và tím tái. Hiện tượng khó thở không kéo dài, có những đợt dễ thở; thường trẻ vẫn tỉnh táo, không bỏ bú, tăng trưởng bình thường.

Cơn hen thường xuất hiện hoặc nặng thêm mỗi khi người bệnh phải gắng sức tiếp xúc với dị nguyên hoặc các yếu tố kích thích, hay bị nhiễm vi khuẩn, vi rút gây bệnh đường hô hấp. Hậu quả là sức khoẻ của người bệnh ngày càng giảm sút, người bệnh trong tâm trạng bi quan, lo lắng; kết quả học tập lao động, chất lượng cuộc sống sa sút.

Về nguyên nhân: Hiện nay người ta nói nhiều đến nguyên nhân dị ứng (chiếm tới 50-70% các trường hợp). Dị nguyên rất đa dạng, từ bụi nhà, bụi rơm rạ, bụi lúa, bụi lông thú, bụi len, phấn hoa, gián, cá , tôm , cua đến thuốc, hoá chất, vi klhuẩn, nấm mốc, khói (thuốc lá, thuốc lào, bếp than, bếp củi)… Ở nước ta khi thời tiết thay đổi từ nóng sang lạnh (chẳng hạn khi có gió mùa đông bắc) hay ngược lại dễ làm cho cơn hen tái phát.

Sau dị ứng phải nói đến yếu tố nhiễm khuẩn (bao gồm các nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, viêm phế quản, viêm phổi); vai trò của nội tiết tố, thần kinh, tâm lý, nhịp sống khẩn trương, streess… và cả vai trò của các gen gây bệnh.

Tuy có sự phối hợp nhiều tác nhân gây bệnh khác nhau, và việc xác định nguyên nhân gây bệnh cũng không mấy dễ dàng nên chưa có phương pháp nào chữa khỏi bệnh song lại là bệnh kiểm soát được.

Người bệnh có thể tự theo dõi sức khoẻ hàng ngày (có nhật ký ghi tỉ mỉ cơn ho, khò khè, khó thở ban ngày, đo lưu lượng đỉnh hàng ngày, mỗi ngày đo hai lần vào buổi sáng và buổi chiều, cách nhau 12 giờ.). Một khi thấy ho nhiều nhất về đêm gần sáng, khò khè nặng ngực, khó thở tái đi tái lại nhiều lần, lưu lượng đỉnh giảm hơn 15% sau 6 phút đi bộ hay gắng sức hoặc thay đổi giữa hai lần đo : giảm 20% với người có dùng thuốc giãn phế quản, giảm trên 10% ở người không dùng thuốc giãn phế quản cần nghĩ đến bệnh HPQ. Nhờ đó có thể tự xử lý khi cơn hen vừa xuất hiện.

da-co-the-kiem-soat-duoc-benh-hen-phe-quan

Khi cơn xảy ra bột phát từ 2 lần/1tuần trở lên, hay có cơn về đêm và kéo dài cả ngày khi đó người bệnh phải vào viện điều trị.

Trong điều trị, người bệnh phải dùng thuốc lâu dài để cắt cơn hen (chống viêm và làm giãn phế quản).

– Định kỳ đo chức năng hô hấp, tốt nhất là đo lưu lượng đỉnh hàng ngày để đánh giá kết quả điều trị hen và phát hiện sớm những cơn hen nặng.

– Nằm buồng thoáng khí, sạch, cách ly với dị nguyên hoặc những tác nhân nghi ngờ.

– Thở ôxy để đỡ khó thở, rút ngắn tiến triển, đề phòng biến chứng phổi nhất là với các cháu nhỏ.

– Ăn nhẹ, chủ yếu là sữa, cháo loãng, nước quả tươi; cho uống nhiều nước để giữ cân bằng nước và các chất điện giải để đờm dãi không bị đặc, bệnh nhân ho khạc dễ dàng.

– Phát hiện và giải quyết triệt để các ổ viêm nhiễm mũi – họng, răng miệng… và nguyên nhân nội tiết (nếu biết chắc chắn).

Để ngăn ngừa xảy ra cơn hen, hàng ngày người bệnh phải:

– Dùng thuốc chống viêm corticoid dạng khí dung (xịt) seretide (trong bình thuốc có cả thuốc chống viêm corticoid và thuốc làm giãn phế quản).

– Thường xuyên được bác sỹ tư vấn về cách tự theo dõi và được hướng dẫn cách kiểm soát bệnh hen ( nhất là các trường hợp hen nặng, có thai, cơ địa dị ứng), cách đánh giá kết quả xử lý kết quả tại nhà và tại cộng đồng.

– Chỉ khi trong 4 tuần lễ vừa qua, người bệnh không bị thức giấc hay phải dậy sớm vì khò khè, ho, khó thở, tức hay đau ngực; không phải dùng thuốc cắt cơn.(salbutaml); không phải nghỉ việc vì bệnh; tự mình đánh giá được việc kiểm soát bệnh hen mới được coi là bệnh đã được kiểm soát hoàn toàn.

Để đề phòng hen phế quản, trước hết cần làm tốt công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ để mọi người nhận rõ nguy cơ và hậu quả nhiều mặt của bệnh, nhận rõ nguyên nhân gây HPQ là sự ô nhiễm môi trường, sử dụng thuốc và hoá chất bừa bãi, nhịp sống khẩn trương, nhiều streess, khí hậu nóng ẩm.

– Cần hết sức tránh tiếp xúc với dị nguyên, không dùng những thứ nghi nghờ là thủ phạm. Kiêng ăn các thức ăn dễ gây dị ứng như tôm, cua… Khi bắt buộc phải tiêm vacxin, huyết thanh theo chỉ định dịch tễ, phải thực hiện đúng nguyên tắc chuyên môn đề phòng tai biến. Nếu có điều kiện nên thay đổi môi trường (nơi ở, nơi làm việc) cho hợp với tình trạng sức khoẻ.

Hen phế quản là bệnh phổ biến trên thế giới

Hen là một trong những bệnh phổ biến nhất trên thế giới. Hiện số người mắc bệnh hen đã lên tới 300 triệu người, chiếm 4% – 14% dân số các nước. Dự kiến, đến năm 2025, số người bệnh hen lên tới 400 triệu người.

Hen phế quản là bệnh lý hô hấp thường gặp nhất ở mọi lứa tuổi, nhưng hiểu biết của người dân về việc điều trị và kiểm soát cơn hen vẫn còn nhiều hạn chế. Lên cơn hen gây khó thở, người bệnh có nguy cơ tử vong bất cứ lúc nào. Rất nhiều trường hợp hen phải nhập viện điều trị trong tình trạng khó thở nặng, cá biệt có trường hợp ngừng thở ngay trong quá trình khám bệnh.

Mỗi năm có khoảng 250.000 người trên thế giới tử vong do hen. Chi phí trực tiếp cho hen chiếm 1% – 3% tổng chi phí y tế ở hầu hết các quốc gia. Hen ảnh hưởng xấu tới sức khỏe, công việc học tập và kinh tế gia đình.

???????????????????????????????????????????????????????????????????????

Ở ViệtNam, những nguyên nhân khiến người bệnh không được điều trị đúng cách là do chính người bệnh không muốn thừa nhận mình bị bệnh. Khi gặp các triệu chứng của hen phế quản: ho, khò khè, tức ngực, khó thở, họ sợ “điều tiếng” bị mắc bệnh, cảm thấy mất tự tin và sợ sử dụng tác dụng phụ của thuốc sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, phát triển của cơ thể (nhất là ở trẻ em). Thực ra, hen là bệnh có thể điều trị được nếu được sử dụng đúng thuốc, chữa tận gốc bệnh, có chế độ sinh hoạt và dinh dưỡng hợp lý.

Hiện hằng năm có nhiều hoạt động phòng, chống hen tích cực nhân Ngày thế giới phòng, chống hen được tổ chức phòng, chống hen toàn cầu và Tổ chức Y tế thế giới phát động. Đây là những nỗ lực nhằm gia tăng nhận thức của thầy thuốc, bệnh nhân và cộng đồng về việc gia tăng bệnh hen và các gánh nặng do bệnh hen đối với sức khỏe, y tế, kinh tế và xã hội.

Nếu như Ngày thế giới phòng, chống hen lần đầu tiên (được tổ chức năm 1998) có 35 nước hưởng ứng với việc tổ chức các hoạt động tăng cường phòng, chống hen, thì năm 2005 đã có tới 100 nước hưởng ứng. Và ngày 6-5 sắp tới sẽ là ngày hen toàn cầu năm nay.

Thuốc hen thảo dược cam kết đồng hành cùng cộng đồng trong cuộc chiến chống lại bệnh hen

Chung tay cùng cộng đồng trong cuộc chiến chống lại bệnh hen, nhãn hàng thuốc hen thảo dược năm nay sẽ tổ chức một số hoạt động tuyên truyền về công tác kiểm soát và điều trị bệnh – nhằm nâng cao nhận thức của người dân về hen phế quản, đồng thời tổ chức các chương trình thăm khám và tư vấn điều trị hen tận gốc miễn phí cho các bệnh nhân hen phế quản.

Nếu như trước đây, việc điều trị triệu chứng, cắt cơn hen là phổ biến, thì hiện nay điều trị dự phòng là chủ yếu. Mục tiêu của điều trị dự phòng hen là giúp bệnh nhân không còn triệu chứng, giảm được điều trị dự phòng còn rất thấp ở các nước đang phát triển. Nghiên cứu ở châu Á – Thái Bình Dương cho thấy, chỉ có dưới 10% bệnh nhân được điều trị dự phòng.

Điều trị dự phòng theo đông y đang trở thành xu hướng và mang lại hiệu quả đáng ngạc nhiên. Hiện nay người bệnh có thể dùng thuốc hen thảo dược điều trị dự phòng chỉ kéo dài từ 8 – 10 tuần, cơn hen sẽ không tái phát nữa, cơ thể khỏe mạnh, có thể tham gia lao động và sinh hoạt bình thường.

Nguồn gia đình

Nhận biết và đề phòng hen phế quản cho con

Theo số liệu thống kê, bệnh hen phế quản đã khiến 25% bệnh nhân phải nhập viện, 42% trẻ nghỉ học và 29% người lớn nghỉ làm. Mỗi năm có hàng nghìn người chết vì bệnh hen và các trường hợp tử vong là do bệnh nhân không thể qua khỏi cơn hen phế quản. Hen phế quản có thể gặp ở bất kỳ độ tuổi nào trong đó có cả trẻ em. Nhận biết sớm các dấu hiệu bênh hen phế quản ở trẻ em, các mẹ sẽ có hướng xử lý kịp thời, tránh tình trạng để ảnh hưởng tới sức khỏe và tính mạng của trẻ.

Các dấu hiệu nhận biết hen phế quản ở trẻ em

Các mẹ hãy lưu ý nếu thấy con em mình có những dấu hiệu lạ như sau:

Trẻ khi khóc, chạy nhảy quá mức đột nhiên xuất hiện triệu chứng như ho gà, khi nói các câu dài bị ngắt quãng. Nghe phổi thấy có tiếng ran rít vào cuối thì thở ra. Đây có thể là dấu hiệu cơn hen phế quản nhẹ.

nhan-biet-va-de-phong-hen-phe-quan-cho-con

Khi trẻ gắng sức, tiếng nói bị ngắt quãng, quan sát thấy dấu hiệu co kéo lồng ngực, hõm ức, hố thượng đòn, nghe thấy ran rít khi thở ra. Đây có thể là dấu hiệu cơn hen phế quản vừa.

Còn với trường hợp hen phế quản nặng trẻ thường bị khó thở, bị ho cả khi nghỉ ngơi, cánh mũi phập phồng, trẻ nhỏ không thể bú được, có thêm hiện tượng co kéo lồng ngực, mũi ức, hố thượng đòn rất rõ; nhìn môi của trẻ thấy tím tái. Nói hoặc khóc rất khó khăn, thấy trẻ chỉ có thể nói từng từ một. Nghe phổi có ran rít to cả khi trẻ thở ra và hít vào.

Đối với cơn hen phế quản rất nặng (trường hợp là ác tính) trẻn có biểu hiện như khó thở dữ dội, không thể khóc hoặc nói và lúc này nghe phổi không còn thấy ran. Cơn hen xảy ra liên tiếp trong nhiều ngày nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời.
Với các trẻ bị hen phế quản có kèm theo sốt thì rất có khả năng trẻ bị viêm đường hô hấp do ảnh hưởng bởi một số vi khuẩn, vi nấm hoặc virus.

Một số nguyên nhân khiến trẻ bị hen phế quản

Có nhiều nguyên nhân khiến trẻ có nguy cơ bị hen phế quản, các chuyên gia cho rằng, một số yếu tố dưới đây có thể làm tăng nguy cơ trẻ bị hen phế quản:

Thời tiết chuyển đổi đột ngột từ nắng ấm sang lạnh, gió mùa đông bắc, áp thấp nhiệt đới, ẩm ướt. Khi đó trẻ rất dễ bị cảm lạnh do mặc không đủ ấm hoặc trẻ tắm trong khoảng không gian bị gió lùa. Đây là những điều kiện thuận lợi khiến hen phế quản phát sinh ở trẻ.

Những trẻ bị viêm đường hô hấp do vi sinh vật như viêm mũi họng, VA, viêm phế quản, viêm tiểu phế quản hoặc trẻ ăn phải một số thức ăn như tôm,cua, ốc. Trẻ phải tiếp xúc với lông động vật hoặc côn trùng cũng làm tăng nguy cơ tái phát hen phế quản.

Môi trường khói, bụi bẩn, môi trường có khói thuốc lá, thuốc lào, khói bếp rơm rạ, củi, rác, nhất là khói và khí của bếp than đá (than tổ ong). Vùng đô thị vệ sinh kém. Nếu trẻ sống trong những môi trường này cũng có nguy cơ cao bị hen phế quản.

Những trẻ có bố hoặc mẹ bị bệnh hen phế quản thì con sinh ra cũng có nguy cơ mắc bệnh. Tỷ lệ mắc bệnh rơi vào khoảng 30 – 50%. Nếu cả 2 bố mẹ có bệnh hen thì tỉ lệ này lên tới 50 – 70%, còn trường hợp ngược lại, bố mẹ không có ai bị hen thì tỷ lệ mắc bệnh giảm xuống còn 10 -15%.

Cách xử lý và phòng ngừa khi trẻ lên cơn hen

Khi trẻ lên cơn hen, các mẹ cần cho trẻ ra chỗ thoáng khí, nơi có không khí trong lành, cho trẻ uống nhiều hoặc hít hơi nước làm đờm loãng ra sẽ dễ thở hơn.

Trường hợp trẻ có kèm theo sốt cơn hen kéo dài trên 3 ngày, có thể trẻ bị viêm bội nhiễm do vi khuẩn. Trường hợp như vậy cần cho trẻ uống thuốc kháng sinh tuy nhiên nên theo chỉ định của bác sỹ. Tuyệt đối không tự ý dùng thuốc.

Để phòng ngừa bệnh hen, các mẹ cần tránh cho trẻ tiếp xúc với các yếu tố làm khởi phát cơn hen. Có thể sử dụng các thuốc dự phòng để kiểm soát cơn hen.

Bệnh hen đã trở thành vấn đề sức khỏe toàn cầu, một vấn đề xã hội lớn, có ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh, gia đình và xã hội. Tuy nhiên, hen có thể kiểm soát triệt để nếu được điều trị đúng và người bệnh tuân thủ chỉ dẫn của thầy thuốc. Các bậc cha mẹ nên cho con em mình tới khám và tư vấn tại các phòng khám chuyên khoa để có được lời khuyên và phác đồ điều trị phù hợp với lứa tuổi và từng bậc hen cụ thể.

Nguồn báo sức khỏe

Bệnh hen xuyễn ở phụ nữ

“Những nguy cơ do bệnh hen suyễn gây ra ở phụ nữ là có thật”, đó là điều 5 nữ bác sĩ khoa hô hấp khẳng định trong chiến dịch giúp mọi người hiểu hơn về những điều khác biệt của bệnh hen suyễn biểu hiện ở phụ nữ.

Người ta nghĩ rằng bệnh hen suyễn thường gặp ở trẻ trai, nhưng căn bệnh ảnh hưởng tới sức khỏe của hơn 4 triệu người Pháp và cướp đi sinh mạng của 1.000 người một năm trên đất nước này, cũng “tấn công” đến phụ nữ. Sau 35 tuổi, tỉ lệ phụ nữ mắc bệnh cao gấp đôi so với nam giới. Các đặc thù bệnh hen suyễn đối với phụ nữ phải được tìm hiểu kỹ hơn vì những thay đổi nội tiết tố là yếu tố quan trọng trong việc khởi phát bệnh mànhững người phụ nữ luôn luôn không hiểu nguyên nhân tại sao. Xin giới thiệu tổng hợp về bệnh hen suyễn đối với phái nữ theo độ tuổi …

benh-hen-xuyen-o-phu-nu

Chẩn đoán đúng hơn ở tuổi trưởng thành

Ở trẻ em, bệnh hen suyễn ảnh hưởng đến bé trai nhiều hơn bé gái (10% bé trai trong độ tuổi từ 5 đến 10 tuổi mắc bệnh so với 6% bé gái cùng độ tuổi). Nhưng khi có sự tác động của hóc môn tăng trưởng, phụ nữ sẽ là đối tượng thường xuyên hơn của căn bệnh này. “Trong giai đoạn dậy thì, khoảng 12 tuổi, estrogen và progesterone đều có ảnh hưởng đến phế quản”, tiến sĩ Anne Prudhomme, Bệnh viện Bigorre (Pháp) cho biết.

Thật không may, việc chẩn đoán bệnh cũng như theo dõi điều trị kém diễn ra phổ biến trong giới trẻ, bác sĩ khoa hô hấp lấy làm tiếc nói “điều này thể hiện rõ ở các em gái”. Và một khi phát hiện ra bệnh, cuộc sống của các cô gái sẽ bị xáo trộn hơn các chàng trai. Đầu tiên, họ bị cấm làm nhiều điều: trong thể thao (ngày nay được biết đến như là cách để bảo vệ bạn trước căn bệnh này), các em mắc bệnh bị hạn chế luyện tập. “Việc hạn chế này áp dụng nhiều hơn với các em gái”, Anne Prudhomme cho biết. Tinh thần của các em cũng tồi tệ hơn: triệu chứng trầm cảm diễn ra phổ biến ở trẻ em mắc hen (tỉ lệ là 14,2 % so với 9,2% ở những người không mắc), nhưng tỷ lệ này còn cao hơn ở những em gái .

Thuốc tránh thai làm bệnh nặng hơn: chưa kết luận

“Người ta tưởng rằng việc uống thuốc tránh thai có thể thúc đẩy bệnh hen tiến triển ở một số phụ nữ, đặc biệt là những người gầy”, tiến sĩ Camille Cut, Bệnh viện Bichat-Claude Bernard (Paris) nói. “Nhưng điều đó không có gì rõ ràng và người ta chưa thấy loại thuốc tránh thai (uống) nào có ảnh hưởng đến bệnh này”.

Bệnh hen nặng lên trong thời kỳ tiền kinh nguyệt

“Hen suyễn tiền kinh nguyệt là một dấu hiệu lâm sàng”, các bác sĩ khoa hô hấp giải thích. Theo nghiên cứu tiến hành năm 1980, 33% trong số 57 phụ nữ được hỏi cho thấy triệu chứng bệnh của họ nặng hơn trong khoảng giai đoạn tiền kinh nguyệt hoặc trong thời kỳ kinh nguyệt.

“Các vấn đề về hô hấp là một phần trong “sự khó ở” thời kỳ tiền kinh nguyệt”, tiến sĩ Prudhomme nói. Các phản ứng của phế quản (cơn co thắt diễn ra nhiều hơn, chất tiết nhiều hơn …) khiến biểu hiện triệu chứng tiền kinh nguyệt rõ rệt hơn, và “25% biểu hiện bệnh hen nặng xảy ra trong vài ngày đầu tiên trong chu kỳ kinh nguyệt”, Anne Prudhomme lưu ý. Những con số trên cho thấybệnh hen có một liên quan đặc biệt với hormone giới tính nữ.

Người mẹ mang thai cần đượcđiều trị tốt

Theo một nghiên cứu được công bố năm 2011, nguy cơ hen suyễn sẽ cao gấp hai đến ba lần đối với phụ nữ mang thai mắc bệnh này. “8% phụ nữ mang thai bị hen suyễn, đó là thách thức thường xuyên đối với bác sĩ khoa sản”, tiến sĩ Camille Tailléđến từ Bệnh viện Bichat-Claude Bernard (Paris) nói.

Tuy nhiên, theo nữ bác sĩ này, “các bác sĩ không nên do dự: điều trị bệnh hen suyễn ở phụ nữ mang thai cũng giống như cho tất cả mọi người”. Duy trì điều trị là rất quan trọng bởi vì các vấn đề hô hấp trong khi mang thai có ảnh hưởng đến trọng lượng của em bé khi sinh và các biến chứng sản khoa khác. “Một nghiên cứu của Úc cho thấy năm ngoái rằng những đứa trẻ (có mẹ bị hen và người mẹ đó được điều trị tốt trong lúc mang thai) nhiễm các bệnh đường hô hấp ít hơn đứa trẻ khác trong những nămđầu đời của chúng”.

Tuy vậy, hơn 40% phụ nữ cho rằng corticosteroid dạng hít (ống thuốc dùng để cắt cơn hen) có hại cho thai nhi, và 20% phụ nữ bị bệnh hen suyễn giảm lượng thuốc điều trị trong 3 tháng đầu tiên của thai kỳ. Kết quả không khả quan lắm, có tới 64% trong số phụ nữ mắc bệnh dùng corticosteroid dạng hít trong trường hợp khẩn cấp, họ chỉ nhận được không nhiều hơn 38% tác dụng điều trị nếu họ đang có bầu! “Điều đó hoàn toàn không hợp lý,” bác sĩ khoa hô hấp khẳng định.

Nguy cơ trong thời kỳ mãn kinh

Tuổi già đi kèm với chức năng phổi suy giảm. “Hiện tượng này biểu hiện rõ đối với phụ nữ trong thời kỳ mãn kinh”, tiến sĩ Cecilia Nocent-Ejnaini (Bayonne) cho hay. “Trong thời kỳ mãn kinh bệnh hen có nguy cơ gia tăng đáng kể, đặc biệt là đối với phụ nữ đang theo liệu pháp thay thế hormone (cụ thể là estrogen), và đối với người hút thuốc hoặc phụ nữ gầy”, bác sĩ này nói. Bà này cũng cảnh báo: “Điều này không có nghĩa là chúng ta phải ngừng điều trị nội tiết tố. Nhưng bạn hãy nghĩ đến điều trị bệnh hen nếu bạn cảm thấy khó thở khi đang theo liệu pháp điều trịnội tiết tố”.

Nguồn vnmedia

Nhận biết bệnh viêm xoang ở con trẻ

Viêm xoang ở trẻ em (VXTE) là một bệnh khá thường gặp. Việc chẩn đoán và điều trị bệnh này ở trẻ em khác với viêm xoang ở người lớn. Trong thực tế, bệnh thường rất dễ nhầm lẫn với bệnh nhiễm khuẩn hô hấp trên.

Hệ thống các xoang ở trẻ phát triển đầy đủ cho đến khi trẻ tròn 10 tuổi. Mặc dù xoang hàm và xoang sàng là nhỏ nhưng đã có ngay sau sinh, do đó viêm hai xoang này thường gặp nhất.

viem-xoang

Phân biệt trẻ bị viêm xoang và nhiễm khuẩn hô hấp trên
Trẻ bị nhiễm khuẩn hô hấp trên thường có các triệu chứng: sốt, ho, sổ mũi, quấy khóc. Các triệu chứng này thường giảm và tự khỏi sau 5 – 7 ngày. Bệnh thường do virút nên không cần sử dụng kháng sinh.

Nghĩ đến VXTE khi trẻ có các triệu chứng sau:
– “Cảm cúm” kéo dài 10 – 14 ngày có thể kèm sốt hoặc không.
– Sổ mũi đục, xanh hoặc vàng.
– Chảy mũi sau đôi khi dẫn đến đau họng, ho, khạc đờm, khò khè, khó thở, nôn, buồn nôn.
– Quấy khóc, mệt mỏi.
– Sưng quanh mắt.

Các triệu chứng này thường kéo dài 10 – 14 ngày hoặc hơn. Tuy nhiên, với các triệu chứng trên kéo dài dưới 10 ngày vẫn có thể là viêm xoang nếu các triệu chứng này là trầm trọng và sốt cao trên 4 ngày. Một số trường hợp bệnh kéo dài 10 – 14 ngày nhưng bắt đầu giảm dần, tuy hơi chậm, cũng không hẳn là viêm xoang, đôi khi cũng chỉ là nhiễm khuẩn hô hấp trên do virút.
Theo Viện Nhi khoa Hoa Kỳ, chẩn đoán VXTE chủ yếu dựa vào các triệu chứng lâm sàng nêu trên, không nhất thiết phải chụp X-quang, đặc biệt ở trẻ em dưới 6 tuổi.

Điều trị như thế nào?
– Viêm xoang cấp tính: hầu hết VXTE đều đáp ứng tốt với kháng sinh, các kháng sinh thường được sử dụng an toàn và hiệu quả cho trẻ là nhóm betalactam. Theo Viện Nhi khoa Hoa Kỳ, việc sử dụng kháng sinh kéo dài ít nhất 7 ngày sau khi các triệu chứng khỏi hoàn toàn.
Các thuốc chống sung huyết mũi dạng phun sương hoặc nước muối sinh lý cũng được sử dụng.
– Viêm xoang mạn tính: khi các triệu chứng của viêm xoang kéo dài trên 12 tuần, hoặc viêm xoang cấp tái phát trên 4 – 6 lần/năm thì cần có sự tư vấn của bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng để có chỉ định điều trị nội khoa hay phẫu thuật.

Khi nào thì cần phẫu thuật?
Phẫu thuật xoang ở trẻ em chiếm một tỉ lệ rất nhỏ, chỉ định khi trẻ bị viêm xoang nặng, hoặc thường hay tái phát, viêm xoang mạn tính không đáp ứng điều trị nội khoa.

Nghiên cứu phương pháp điều trị bệnh hen

Theo các nhà nghiên cứu thì một kỹ thuật mới sử dụng sóng radio để đốt các cơ phát triển quá mức trong đường thông khí của các bệnh nhân hen có thể giúp họ thở dễ dàng hơn, giảm bớt triệu chứng bệnh và dùng thuốc ít hơn.

Kỹ thuật này được gọi là bronchial thermoplasty (tạm dịch là chỉnh hình phế quản bằng nhiệt) và hiện đang được thử nghiệm trên qui mô lớn và có thể sẽ được Cơ quan Quản trị Thực phẩm và Dược phẩm của Mỹ (FDA) cấp phép.

Bác sĩ John D. Miller, phó giáo sư phụ trách phẫu thuật thuộc Trường đại học McMaster ở Canada và là người đồng nghiên cứu kỹ thuật này cho biết: “Đây là cuộc thử nghiệm đầu tiên cho thấy có đáp ứng khá đáng kể. Đó cũng là phương pháp điều trị bệnh suyễn không dùng thuốc đầu tiên được phát triển gần đây.” Báo cáo này đã được đăng trên Tạp chí New England Journal of Medicine số ra ngày 29 tháng 3.

nghien-cuu-phuong-phap-dieu-tri-benh-hen

Trong phương pháp chỉnh hình bằng nhiệt (thermoplasty), bác sĩ sẽ luồng các sợi dây phát sóng radio vào trong phổi người bệnh. Sóng radio này sẽ tỏa nhiệt để đốt một số cơ trơn trong đường thông khí.

Giáo sư Miller giải thích như sau: Ý tưởng cơ bản của phương pháp này là “các cơ trơn bao quanh đường thông khí và khi co thắt nó sẽ làm cho đường thông khí hẹp hơn. Nếu làm giảm số lượng cơ trơn và khi bị kích thích co thắt thì không còn gì để co thắt nữa.”

Cuộc thử nghiệm bao gồm 112 người bị suyễn ở mức độ vừa và nặng. Phân nửa số người này trải qua 3 đợt điều trị bằng phương pháp chỉnh hình bằng nhiệt; số còn lại chỉ được điều trị bằng thuốc như bình thường.

Một năm sau, lưu lượng khí ở những bệnh nhân được điều trị bằng bằng phương pháp chỉnh hình bằng nhiệt là 39 lít một phút trong khi lưu lượng khí ở những bệnh nhân được điều trị bằng thuốc là 8,5 lít một phút.

Nhóm được điều trị bằng phương pháp chỉnh hình bằng nhiệt cũng cho biết là họ có trung bình 40 ngày không có triệu chứng bệnh, còn nhóm kia có 17 ngày có ít triệu chứng bệnh và dùng thuốc ít hơn.

Giáo sư Millier nói: “Giờ đây chúng tôi sẽ tiến hành cuộc thử nghiệm thứ hai dựa trên thông tin thu thập được từ cuộc thử nghiệm thứ nhất. Cuộc thử nghiệm này cũng tương tự như vậy, nhưng chỉ có khác ở chỗ là chúng tôi sẽ tiến hành một thủ thuật giả trên nhóm đối chứng”.

Bác sĩ Elliot Israel, phó giáo sư y khoa thuộc trường y Harvard và là một trong những thành viên cuả nhóm nghiên cứu cho biết: “Việc đăng ký cho 350 bệnh nhân hen tham gia cuộc thử nghiệm mới này đã hoàn tất. Các bệnh nhân này sẽ tham gia vào các giai đoạn điều trị khác nhau và một vài người đang ở giai đoạn điều trị thứ hai hoặc thứ ba.” Họ sẽ được theo dõi trong hai năm để đánh giá kết quả điều trị.

Bác sĩ Irasel cho biết: Bên cạnh việc tạo ra thêm khoảng không cho không khí vào phổi, liệu pháp này cũng có thể mang lại những tác dụng có ích khác. Ông nói: “Các tế bào cơ đang sinh sống thường tiết ra các hóa chất và tạo ra các tín hiệu sinh học vốn làm tăng thêm tình trạng viêm. Liệu pháp này cũng có thể làm thay đổi một vài chức năng của mô liên kết trong đường thông khí.”

Ông Charles G. Irvin, giám đốc Trung tâm bệnh phổi Vermont của Trường đại học Vermont và là đồng tác giả của bài viết kèm theo báo cáo về liệu pháp này cho biết: Một trong những điểm quan trọng của phương pháp này là nó trở lại tập trung vào vai trò của mô cơ trong bệnh hen, vốn ít nhiều đã không được để ý đến trong nhiều năm. Người ta chỉ chú trọng đến miễn dịch học và tình trạng viêm nhiều hơn là các cơ của đường thông khí.

Ông Irvin nói rằng có thể phương pháp chỉnh hình bằng nhiệt không phải là phương pháp tốt nhất tác động đến mô cơ. “Phương pháp này không phải là một chuyện nhỏ. Bệnh nhân phải đến điều trị 3 đợt và mỗi lần soi phế quản đều có rủi ro của nó.” Bài viết này cũng đề xuất các phương pháp khác như dùng thuốc làm liệt các cơ hoặc dùng hóa chất loại bỏ cơ trong đường thông khí.

Ông Irvin nói: “Nhưng điều quan trọng hơn cả là thủ thuật này có hiệu quả. Đó là điều lý thú. Nó làm cho chúng ta phải nghĩ lại các phương pháp điều trị truyền thống. Xét cho cùng phương pháp chỉnh hình bằng nhiệt có thể đặc biệt hữu ích đối với các bệnh nhân hen ở mức độ nặng đến nổi có thể phải nhập viện cấp cứu”.

Giáo sư Miller cho biết: “Có thể chúng ta cần phải nghiên cứu áp dụng phương này theo cách ít xâm lấn hơn.”

Theo khoa học

Thủ phạm gây nên bệnh viêm phổi ở người cao tuổi

Mùa lạnh, cần đặc biệt chú ý đến bệnh viêm phổi ở người cao tuổi (NCT). Bệnh thường có xu hướng nặng hơn ở người trên 65 tuổi bởi sức chống đỡ của cơ thể đã kém, phổi lão hóa rõ rệt. Nếu không được điều trị tích cực, bệnh sẽ nảy sinh những biến chứng nguy hiểm đến tính mạng.

Vi khuẩn, virut – Thủ phạm chính gây viêm phổi ở NCT

thu-pham-gay-nen-benh-viem-phoi-o-nguoi-cao-tuoi

Nguyên nhân viêm phổi ở NCT có rất nhiều: hoặc do vi sinh vật (vi khuẩn, virut, vi nấm), hoặc do khói bụi (môi trường ô nhiễm, khói bếp, thuốc lá, thuốc lào) hoặc ít vận động, nằm lâu do liệt. Viêm phổi ở NCT khác với người trẻ tuổi, nhiều trường hợp chỉ viêm họng, mũi cũng rất dễ dẫn đến viêm phổi. Một số trường hợp NCT mắc một số bệnh mạn tính đường hô hấp (bệnh giãn phế quản, khí phế thũng, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hoặc hen suyễn), sức đề kháng của cơ thể giảm xuống thì bệnh bùng phát thành bệnh viêm phổi cấp tính. Đặc biệt là vai trò của một số loài vi khuẩn, bình thường thì chúng sống cộng sinh ở đường hô hấp trên nhưng khi trời lạnh, sức đề kháng suy giảm, chúng tấn công vào đường hô hấp và gây bệnh. Điển hình là vi khuẩn phế cầu (St. pneumoniae), H. influenzae, Staphylococus, Streptococus và một số virut đường hô hấp, vi nấm. Trong một số trường hợp, nhất là NCT, bệnh viêm phổi thường diễn ra sau khi mắc phải bệnh cúm, cảm lạnh hoặc bị lây bệnh ngay trong bệnh viện (nhiễm khuẩn bệnh viện) do đi khám bệnh hoặc nằm viện điều trị một bệnh nào đó. Đáng lo ngại nhất là NCT mắc bệnh viêm phổi mà tác nhân gây bệnh là virut, bởi vì với virut thì hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu.

Cách nhận biết viêm phổi ở NCT

Dấu hiệu lâm sàng của viêm phổi ở NCT rất khác so với người trẻ. Nhiều trường hợp người bệnh không sốt cao, thậm chí không sốt, nhất là NCT có tuổi cao, sức yếu, lú lẫn, ít vận động hoặc đi lại khó khăn, ăn uống thất thường. Một số NCT mắc một số bệnh mạn tính kéo dài (nằm liệt giường do tai biến mạch máu não hoặc bệnh Parkinson hoặc do biến chứng của thoái hóa khớp, hư khớp rất khó khăn trong việc đi lại) càng dễ mắc bệnh viêm phổi. Tuy vậy, có một số triệu chứng điển hình như thở nhanh nông, đôi khi có thở rít, cánh mũi phập phồng do thiếu dưỡng khí. Triệu chứng ho là hay gặp nhất, đặc biệt là ở những NCT có bệnh mạn tính về đường hô hấp (viêm họng mạn tính, giãn phế quản, hen suyễn, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính). Ho thường có đờm lỏng hoặc đặc quánh, một số trường hợp có dính một ít máu do mao mạch bị vỡ ra, tuy vậy, có một số ít trường hợp không ho. Tức ngực và khó thở nhẹ là triệu chứng thường gặp. Người bệnh thường có dấu hiệu mất nước (môi khô, lưỡi trắng, má hóp, da nhăn nheo). Cần chụp Xquang phổi và nuôi cấy đờm, chất nhày phế quản để xác định vi khuẩn gây bệnh, trên cơ sở đó, chọn kháng sinh thích hợp để điều trị nhằm giảm bớt thời gian nằm viện.

Phòng, điều trị thế nào?

Khi NCT nghi ngờ bị viêm phổi, cần đến khám tại cơ sở y tế gần nhất càng sớm càng tốt bởi vì nếu để muộn có thể gây nguy hiểm cho người bệnh (ở Việt Nam, theo thống kê thì tỷ lệ tử vong do viêm phổi ở NCT nếu không phát hiện và điều trị kịp thời có thể lên tới 25%, đặc biệt độ tuổi trên 65). Đối với người cao tuổi mắc viêm phổi, nhất là viêm phổi do virut, việc dùng thuốc điều trị rất khó khăn. Vì vậy, cần dùng thuốc gì, dùng trong bao lâu, liều lượng như thế nào là phải được bác sĩ khám bệnh kê đơn và tư vấn sử dụng. Không nên tự mua thuốc để điều trị, nhất là kháng sinh, bởi vì dùng kháng sinh không đúng chỉ định thì bệnh không những không khỏi mà còn nhiều điều bất lợi sẽ xảy ra cho người bệnh. NCT cần có chế độ sinh hoạt hợp lý, ở thông thoáng, không hút thuốc lá, thuốc lào. NCT cũng cần được giữ ấm và tránh tiếp xúc nhiều với không khí lạnh. Hàng ngày, cần uống đủ lượng nước cần thiết (khoảng từ 1,5 – 2,0 lít), ăn thêm rau xanh trong các bữa ăn và tăng cường ăn trái cây hàng ngày. Vệ sinh họng – miệng hàng ngày như đánh răng, súc họng sau khi ăn, trước và sau khi ngủ dậy. Vận động cơ thể bằng mọi hình thức tùy theo sức khỏe và điều kiện của từng người. Những người bị liệt cần được nâng dậy và xoa bóp các cơ bắp, bụng và tập hít thở sâu để phục hồi các chức năng của phổi.

ThS. Bùi Mai Hương

Nguồn suckhoedoisong

Người cao tuổi dễ mắc chứng bệnh hô hấp

Sự yếu kém trong việc tự bảo vệ cơ thể của người cao tuổi (NCT) rõ nét mỗi khi thời tiết chuyển mùa, nhất là từ nóng sang lạnh. Trong các bệnh mà NCT dễ mắc phải hoặc tái phát khi chuyển mùa thì bệnh về đường hô hấp là loại bệnh hay gặp nhất.

Những bệnh đường hô hấp

Với NCT thì khi sức đề kháng yếu đi thì mọi loại bệnh tật có thể tấn công dễ dàng hơn, nhất là các bệnh gây ra bởi vi sinh vật (virút, vi khuẩn, vi nấm). Đường hô hấp được phân chia thành đường hô hấp trên và đường hô hấp dưới. Bệnh viêm mũi, họng, thanh quản là một bệnh thuộc đường hô hấp trên, loại bệnh này có thể gặp quanh năm nhưng khi thời tiết chuyển muà, nóng sang lạnh thì NCT dễ gặp phải.

thoi-tiet-chuyen-mua-nguoi-cao-tuoi-de-mac-benh-ho-hap

Bệnh thể hiện bằng hiện tượng hắt hơi, sổ mũi, chảy mũi nước; đau rát họng gây ho, tức ngực, có khi gây khó thở. Có thể ho khan hoặc có đờm. Đờm có thể là màu trắng, đặc quánh hoặc lỏng, đôi khi có một ít máu tươi do có tổn thương một số mạch máu nhỏ ở đường hô hấp trên gây ra. Nếu viêm họng kéo dàithì cơn ho sẽ làm cho NCT rất khó chịu nhất là gây đau thượng vị, kẽ liên sườn do cơ hoành bị kích thích nhiều gây co kéo. Viêm họng mạn tính kéo dài hoặc viêm mũi mạn tính rất có thể biến chứng viêm xoang gây nhức đầu. Viêm đường hô hấp dưới ở NCT khi thời tiết chuyển mùa có thể gặp viêm phế quản, viêm phổi.

Một điều cần lưu ý là viêm phế quản, viêm phổi cấp tính ở NCT thân nhiệt ít tăng cao như người trẻ tuổi nên dễ nhầm là bệnh nhẹ và dễ bỏ qua cho nên khi bệnh đã nặng thì gây không ít khó khăn cho điều trị. Một số người có bệnh mạn tính như hen suyễn, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), khi thời tiết chuyển mùa bệnh rất dễ tái phát và có khi gây nguy kịch cho người bệnh phải cấp cứu khẩn trương, nếu để muộn có thể tính mạng sẽ bị đe dọa. Những NCT bị bệnh viêm phế quản mạn tính, khí phế thũng, giãn phế quản thì khi thời tiết chuyển từ nóng sang lạnh bệnh cũng dễ tái phát. Ngoài ra, sức đề kháng của NCT yếu kém, thời tiết lúc chuyển mùa lúc lạnh, lúc ẩm hoặc khô hanh cũng tạo điều kiện cho bệnh đường hô hấp ở NCT xuất hiện. Một số người có quan niệm rằng, khi thời tiết lạnh, hút thuốc sẽ làm cho cơ thể ấm dần lên. Đây là một quan niệm không đúng và nếu là NCT hút thuốc càng dễ mắc hoặc bệnh tái phát. Bởi vì, khói thuốc lá, thuốc lào khi hít vào đường hô hấp sẽ làm tổn thương các nhu mô phổi (tổ chức phổi), dó đó làm tăng nguy cơ nhiễm trùng cơ hội (bình thường ở đường hô hấp có vô số vi khuẩn sống cộng sinh hoặc ký sinh ở đó).

Thêm vào đó, nếu khi thời tiết thay đổi kèm theo môi trường bị ô nhiễm, nhiều bụi, khói của bếp than, bếp củi, bếp dầu, nhà ở chật chội, không thông thoáng (vì mùa lạnh dễ đóng kín các cửa) cũng là những yếu tố thuận lợi làm cho NCT dễ mắc hoặc tái phát bệnh đường hô hấp nhất.

Phòng bệnh như thế nào?

Cần mặc đủ ấm ngay cả khi còn ở trong nhà, nếu đi ra đường cần mặc thật ấm, đội mũ len, chân đi tất, tay đeo găng và nhớ quàng cổ bằng khăn ấm. Khi đi ngủ cần ngủ phòng ấm, có đủ chăn (nếu có đệm thì càng tốt) tránh gió lùa.

Thời tiết chuyển mùa từ nóng sang lạnh thì NCT cần có nước ấm để tắm, rửa. Trước khi tắm nên chuẩn bị quần áo sạch để thay ngay sau khi tắm và khi tắm xong nhớ lau người thật khô mới mặc quần áo (nếu không tự chuẩn bị được thì cần nhờ người nhà hoặc người giúp việc hỗ trợ). Phòng tắm cũng rất cần kín gió để tránh hiện tượng lạnh đột ngột rất nguy hiểm, nhất là NCT có bệnh tăng huyết áp.

Khi nhiệt độ thay đổi đột ngột từ nóng chuyển sang lạnh hoặc rét chuyển sang rét đậm, NCT nên hạn chế ra khỏi nhà lúc sáng sớm. Có thể vẫn tập thể dục hoặc đi lại, vận động thân thể ở trong nhà. Cần vệ sinh họng, miệng sạch sẽ thường xuyên hàng ngày như đánh răng đều đặn trước và sau khi ngủ dậy; súc họng bằng nước muối sinh lý (có thể tự pha chế). Những trường hợp dùng răng giả cần vệ sinh răng giả thật sạch hàng ngày, hàng tuần không để bám dính nhiều cặn, thức ăn làm tăng nguy cơ bội nhiễm vi sinh vật cho đường hô hấp. Cần bỏ thuốc lá, thuốc lào nhất là những NCT đã bị các bệnh mạn tính như viêm họng, viêm phế quản, COPD, giãn phế quản, khí phế thũng, hen suyễn, viêm xoang.

Thuốc lá, thuốc lào ngoài gây các bệnh về đường hô hấp còn có khả năng làm tăng nặng nhiều bệnh khác như bệnh về tim mạch (tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim…) cho nên không nên hút và nếu bỏ được thì rất tốt cho sức khoẻ. Những NCT đã có bệnh về đường hô hấp mạn tính hoặc các bệnh mạn tính khác, khi thời tiết chuyển mùa nên định kỳ đi khám bệnh để được tư vấn những điều cần thiết về bảo vệ sức khỏe cho bản thân mình trong mùa lạnh.

PGS.TS. BÙI KHẮC HẬU

Theo SKDS

Bệnh hô hấp ở người cao tuổi vào mùa lạnh

Người cao tuổi mọi chức năng cơ thể đều suy giảm, trong đó sức đề kháng cũng giảm thì bệnh tật có thể tấn công dễ dàng, nhất là các bệnh gây ra bởi vi sinh vật (virut, vi khuẩn, vi nấm). Sự yếu kém trong việc tự bảo vệ của người cao tuổi càng rõ nét mỗi khi thời tiết thay đổi, nhất là vào mùa lạnh. Bệnh mà người cao tuổi dễ mắc phải trong mùa lạnh là  bệnh đường hô hấp.

Các bệnh đường hô hấp mà người cao tuổi thường gặp

Viêm mũi họng là một bệnh có thể gặp quanh năm nhưng vào mùa lạnh người cao tuổi hay gặp nhất gây nên hiện tượng hắt hơi, sổ mũi, chảy mũi nước; đau rát họng gây ho, tức ngực, có khi gây khó thở.

benh-ho-hap-o-nguoi-cao-tuoiViêm họng mạn tính kéo dài (thường gọi là viêm họng hạt), hoặc viêm mũi mạn tính rát. Khi thời tiết thay đổi đều có khả năng tái phát trở lại. Người cao tuổivào mùa lạnh còn hay mắc viêm phế quản, viêm phổi.

Một điều cần lưu ý là viêm phế quản, viêm phổi cấp tính ở người cao tuổi do lạnh thân nhiệt thường không tăng cao như người trẻ tuổi nên dễ nhầm là bệnh nhẹ ít được người nhà quan tâm do đó dễ dẫn đến bệnh nặng cho đến khi vào bệnh viện thì bệnh đã rất nặng.

Một số người có bệnh mạn tính như hen suyễn, bệnh viêm phổi tắc nghẽn mạn tính thì vào mùa lạnh thì bệnh rất dễ tái phát dễ xuất hiện các biến chứng. Yếu tố thuận lợi gây bệnh trước hết phải kể đến người nghiện hút thuốc lá, thuốc lào. Thuốc lá, thuốc lào khi hít vào đường hô hấp sẽ làm tổn thương các nhu mô phổi (tổ chức phổi) do đó làm tăng nguy cơ bội nhiễm.

Môi trường ô nhiễm, nhiều bụi, khói của bếp than, bếp củi, bếp dầu, nhà ở chật chội, không thông thoáng cũng là những yếu tố thuận lợi làm cho người cao tuổi dễ mắc các bệnh đường hô hấp nhất là vào mùa lạnh.

Một số bệnh mạn tính kéo dài ở người cao tuổi như tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh về rối loạn nội tiết cũng là những lý do làm tăng nguy cơ viêm đường hô hấp vào mùa lạnh ở người cao tuổi.

Phòng bệnh thế nào?

Để phòng bệnh hô hấp ở người cao tuổi trong mùa lạnh, cần mặc đủ ấm, ngủ ấm, tránh gió lùa. Khi nhiệt độ thay đổi đột ngột từ nóng chuyển sang lạnh hoặc lạnh vừa chuyển sang rét đậm thì người cao tuổi nên hạn chế ra khỏi nhà lúc sáng sớm.

benh-ho-hap-o-nguoi-cao-tuoi-1

Có thể vẫn tập thể dục hoặc đi lại, vận động thân thể ở trong nhà không nên ra khỏi nhà khi thời tiết còn lạnh nhất là lúc đang có gió mùa. Cần vệ sinh họng, miệng sạch sẽ thường xuyên hằng ngày như đánh răng đều đặn trước và sau khi ngủ dậy; súc họng bằng nước muối sinh lý (có thể tự pha chế).

Những trường hợp dùng răng giả cần vệ sinh răng giả thật sạch sẽ không để bám dính nhiều cặn, thức ăn làm tăng nguy cơ bội nhiễm vi sinh vật cho đường hô hấp.

Cần bỏ thuốc lá, thuốc lào nhất là những người cao tuổi đã bị các bệnh mạn tính như viêm họng, viêm phế quản, hen suyễn, viêm xoang. Mùa lạnh, người cao tuổi cũng cần tắm, rửa hằng ngày hoặc một tuần vài lần.

ThS.Vũ Quốc Tuấn

Theo SKDS

 

Cẩn trọng bệnh hô hấp ở trẻ nhỏ

Thời tiết nắng mưa, nóng lạnh thất thường khiến trẻ dễ mắc bệnh về đường hô hấp. Và mới chỉ bước vào những ngày giữa tháng 8, bệnh nhi nhập viện đã tăng cao.

Cả nhà cùng… vào viện

Tại hành lang khoa Nhiễm D, BV. Bệnh Nhiệt Đới TP.HCM, chị Nguyễn Thị Út (ngụ Trà Vinh) buồn rười rượi vì cả chồng và cậu con trai 15 tháng tuổi đều cùng lúc nhập viện vì bệnh sốt xuất huyết và bệnh hô hấp. “Cháu nhà tôi vừa nhập viện hai tuần trước vì tiêu chảy và về nhà được mấy hôm thì hai cha con lại cùng lúc phải nhập viện. BS nói chồng tôi bị sốt xuất huyết, con cũng sốt nhưng do bệnh hô hấp trên”. Chăm không nổi cùng lúc chồng nằm tầng dưới và con nằm, chị Út phải điện nhờ cả bà nội, bà ngoại lên phụ chăm chồng con. Chị cho biết, cùng phòng với con mình, hơn 10 bệnh nhi khác cũng được chẩn đoán bị viêm đường hô hấp, viêm phổi.

can-de-phong-benh-ho-hap-o-tre

Còn tại BV. Nhi Đồng 1, bệnh nhân “nêm” kín các phòng bệnh. Riêng trong ngày 12/8, khoa Hô hấp, BV. Nhi Đồng 1 có số bệnh nhi đang nằm điều trị lên 355 trẻ trên tổng số 100 giường bệnh. Trung bình một ngày có 40 – 50 bệnh nhi nhập viện, tăng gấp đôi so với những ngày trước. Các bệnh hô hấp nhập viện điều trị chủ yếu là viêm tiểu phế quản và viêm phổi. Ngoài ra, trẻ bị suyễn nhập viện gia tăng, khoa ghi nhận các trường hợp suyễn nặng rơi vào những trẻ chưa từng được chẩn đoán suyễn nên chưa có xử trí và phòng ngừa thích hợp. Tại hành lang khoa Hô hấp, BV. Nhi Đồng 1 TP.HCM, anh Quân (45 tuổi, ở Long An) phải vừa quạt vừa dỗ con là bé Minh Khôi (31 tháng tuổi) nín khóc. Minh Khôi nhập viện 2 ngày trước để điều trị suyễn nhưng vì phòng bênh đã quá tải nên anh phải kiếm một chỗ ngoài hành lang để cho con nằm. anh Quân cho biết, năm ngoái, con trai anh cũng nhập BV. Nhi Đồng 1 điều trị bệnh hô hấp đến 10 ngày mới được xuất viện.

BV. Nhi Đồng 2 cũng trong tình trạng quá tải. Bác sĩ (BS) Trần Thị Thu Loan, Trưởng khoa Hô hấp, BV. Nhi Đồng 2 cho biết, bệnh hô hấp đang vào mùa, số lượng trẻ nhập viện tại khoa đang gia tăng mạnh. Tính chung trẻ điều trị thường và nằm dịch vụ thì khoa hô hấp hiện có khoảng 400 trẻ đang nằm viện nhưng chỉ có 150 giường bệnh, tăng gấp đôi so với những ngày bình thường.

Các BS dự báo, từ tháng 8, bệnh hô hấp vào đợt cao điểm, đến tháng 10 bệnh sẽ tăng lên đỉnh điểm nên tình trạng quá tải bệnh nhi nhập viện sẽ còn kéo dài.

Lưu ý vệ sinh phòng bệnh cho trẻ

BS. Trần Anh Tuấn, Trưởng khoa Hô hấp, BV. Nhi Đồng 1 cho biết, để giảm sức ép quá tải, BV tăng cường điều trị ngoại trú và lọc bệnh phòng khám để sàng lọc các trường hợp nhập viện giảm quá tải cho một số khoa như khoa Hô hấp. Toàn BV, chỉ có khoảng 5% số bệnh nhi được sàng lọc để nhập viện trong tổng số khám tại phòng khám. Hiện, BV lên phương án chuyển bớt bệnh nhi hô hấp thể nhẹ qua các khoa khác hỗ trợ thêm.

can-de-phong-benh-ho-hap-o-tre-1

BS. Tuấn lưu ý, với trẻ dưới 2 tháng tuổi, khi thấy trẻ có biểu hiện bỏ bú, bú kém (bú 1/2 lượng sữa bình thường trẻ bú), ở trẻ lớn hơn 2 tháng tuổi nếu không uống được, nôn tất cả mọi thứ trẻ ăn, ngủ li bì khó đánh thức thì cần nhanh chóng đưa trẻ nhập viện. Nếu trẻ ho kéo dài hơn 1 tuần, khó thở, thở nhanh hơn bình thường hoặc thở co lõm lồng ngực thì nên đưa trẻ đi khám ngay. Đa số các trường hợp nhiễm khuẩn hô hấp không có các dấu hiệu nguy hiểm trên thì sẽ khỏi nếu chăm sóc đúng cách ở nhà. Phụ huynh cần lưu ý, nên chia cữ ăn, cữ bú thành nhiều cữ nhỏ, làm sạch mũi thường xuyên cho trẻ bằng nước muối sinh lý. Không nên lạm dụng kháng sinh, có thể dùng một số thuốc điều trị triệu chứng, nếu có biểu hiện trở nặng phải nhanh chóng đưa trẻ đến BV.

BS. Tuấn khuyên, phải luôn giữ ấm trẻ khi trời lạnh và tạo cảm giác thoáng mát khi trời nắng trở lại. Lưu ý không nên cho trẻ nhỏ, đặc biệt trẻ dưới 2 tháng tuổi tiếp xúc với người bị cảm ho, dù là cảm ho thông thường. Nếu virút lây cho trẻ dưới 2 tuổi thì nguy cơ trẻ bị viêm tiểu phế quản là rất lớn, nếu trẻ sơ sinh bị viêm tiểu phế quản thì có đến 50% số trẻ phải nhập viện. Bên cạnh đó, cần sử dụng quạt máy đúng cách, vệ sinh nhà cửa sạch sẽ, vệ sinh tay sạch sẽ khi chăm sóc trẻ, không cho trẻ ăn uống thực phẩm lạnh… để chủ động phòng bệnh cho trẻ.

Còn theo BS. Loan, thời tiết chuyển từ nắng qua mưa nhiều là điều kiện thuận lợi để virút, vi trùng sinh sôi nhiều, ảnh hưởng đến sức đề kháng của trẻ làm bé khó thích nghi. Ngoài ra, mùa này trẻ nhập học trở lại nên khả năng lây lan bệnh cao hơn.

Bài và ảnh: N. Hà

Theo SKDS

Bệnh ho kéo dài

Ho là vấn đề sức khỏe phổ biến ở nhiều người, nhất là trong thời tiết giá lạnh. Tuy nhiên, bạn hãy cẩn trọng khi tình trạng ho không thể chữa dứt trong vòng một vài tuần bởi có thể là dấu hiệu của nhiều bệnh lý nguy hiểm.

Theo tiến sĩ Animesh Arya, chuyên gia cao cấp về hô hấp ở Delhi (Ấn Độ), tình trạng ho không thể chữa dứt trong vòng một vài tuần có thể được đánh giá là một căn bệnh mãn tính.

Tiến sĩ Arya cho biết, tình trạng ho không thể chữa dứt trong vòng một vài tuần có thể là dấu hiệu cảnh báo nhiễm trùng đường hô hấp. Ho gây ra bởi nhiễm trùng thông thường có thể trị thuyên giảm bằng cách uống nước ấm hoặc sử dụng các bài thuốc dân gian như nghệ, mật ong, gừng… Tuy nhiên, nếu sau khi áp dụng các biện pháp này vẫn không thể chữa khỏi ho, bạn cần phải tiến hành thực hiện các xét nghiệm y tế để xác định nguyên nhân.

ho-keo-dai

Tiến sĩ Arya cảnh báo: “Bạn không nên đánh giá thấp chứng ho, bởi tình trạng ho kéo dài có thể là dấu hiệu của một số bệnh lý nguy hiểm như hen suyễn, viêm phế quản, lao, ung thư phổi và các chứng bệnh khác. Ho trong tình trạng này thường kéo dài đến ba tuần”.

Vì vậy, trong trường hợp nhận thấy tình trạng ho không dứt trong vòng ba tuần, bạn nên đến bệnh viện kiểm tra sức khỏe ngay. Bác sĩ có thể chỉ định chụp X-quang phổi cho bạn để xác định đúng nguyên nhân gây ho và điều trị kịp thời.

Nguyễn Niệm (Theo Medicmagic)

Báo phụ nữ

Bệnh phổi biệt lập

Phổi biệt lập là một rối loạn phát triển thời kỳ bào thai dẫn đến hình thành một khối kén mô phổi không có chức năng, khối này được nuôi dưỡng bởi một động mạch bất thường.

Có hai loại phổi biệt lập: trong thùy chiếm khoảng 75% và ngoài thùy chiếm khoảng 25%.
Phổi biệt lập trong thùy: được giới hạn trong nhu mô phổi bình thường, hay gặp ở vị trí phân thùy đáy sau của thùy dưới cạnh cột sống cũng có thể lan tới các phân thùy phổi liền kề và không có màng phổi riêng bao bọc. Khối kén mô phổi này không có chức năng, được nuôi dưỡng bởi một động mạch hệ thống bất thường xuất phát từ động mạch chủ bụng. Tĩnh mạch hồi lưu đổ về nhĩ trái qua hệ tĩnh mạch phổi. Tổn thương do mắc phải, có thể do tắc nghẽn phế quản và viêm phổi sau tắc nghẽn mạn tính.

phoi-biet-lap

Chụp cộng hưởng từ thấy mạch máu bất thường nuôi vùng phổi biệt lập.

Phổi biệt lập ngoài thùy: là tổn thương kiểu thùy phổi phụ được bao bọc bởi màng phổi riêng. Có sự phân chia hoàn toàn giữa tổn thương và nhu mô phổi xung quanh. Vị trí tổn thương có thể nằm giữa thùy dưới và vòm hoành bên trái (90% số trường hợp) hoặc phần trên của bụng. Tổn thương ở phổi trái gặp nhiều hơn phổi phải, có khi tiếp giáp với thực quản và có thể có đường rò. Khối mô phổi biệt lập được cấp máu bởi động mạch bất thường, thường là động mạch lạc chỗ xuất phát từ động mạch chủ ngực.

Thể bệnh này cũng thường đi kèm với các bất thường khác của cơ thể như thoát vị hoành bẩm sinh bệnh tim bẩm sinh, bất thường cột sống… Do khối kén mô phổi được bao bọc bởi màng phổi riêng, vì vậy ít xuất hiện tình trạng nhiễm khuẩn, hầu như chỉ biểu hiện là một khối mô mềm thuần nhất. Bệnh có thể chẩn đoán được trước sinh bằng siêu âm.

Trên phim chụp Xquang, biểu hiện điển hình của phổi biệt lập là đám mờ khu trú ở thùy đáy sau của phổi, gặp ở bên trái nhiều hơn bên phải. Phổi biệt lập trong thùy thường ở trên vòm hoành, là một đám mờ thuần nhất hình tròn hoặc bờ có nhiều thùy múi giống một khối ở trong nhu mô phổi, có thể chứa khí ở trong, ranh giới không rõ, hình ảnh giống viêm phổi hoặc áp-xe phổi, hiếm khi gặp hình ảnh mức nước hơi trong tổn thương ngoại trừ một số trường hợp có lỗ rò giữa tổn thương và phế quản liền kề. Phổi biệt lập ngoài thùy biểu hiện là khối tỷ trọng thuần nhất, bờ được xác định rõ bởi có màng phổi riêng bao bọc, có thể xuất hiện ở một số vị trí khác như màng ngoài tim, trung thất, vòm hoành, khoang sau phúc mạc.

Phương pháp điều trị
Điều trị phổi biệt lập trong thùy nói riêng và phổi biệt lập nói chung thì phương pháp điều trị phẫu thuật cắt bỏ phổi biệt lập là phương pháp duy nhất và triệt để nhất.

Nguyên tắc phẫu thuật cắt bỏ phổi biệt lập trong thùy: cắt bỏ tổ chức phổi biệt lập cùng với thùy mà phổi biệt lập nằm trong đó. Người ta có thể cắt riêng tổ chức phổi biệt lập mà vẫn giữ lại tổ chức phổi lành xung quanh, nhất là trong trường hợp tổ chức phổi biệt lập chưa có nhiễm khuẩn. Phải cắt cả phổi biệt lập lẫn thùy phổi chứa phổi biệt lập khi phổi biệt lập đã bị nhiễm khuẩn lan ra xung quanh phần thùy phổi khác.

Lời khuyên của bác sĩ
Bệnh phổi biệt lập thường chỉ có các triệu chứng không đặc hiệu như ho, ho ra máu, đau ngực, vì vậy, bệnh nhân cần phối hợp tốt với thầy thuốc thực hiện thêm các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh như chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ để phát hiện sự hiện diện của động mạch nuôi khối kén mô phổi là chẩn đoán xác định bệnh. Khi đã phát hiện được bệnh thì cần mổ sớm để tránh nhiễm khuẩn, ảnh hưởng đến các vùng phổi bình thường vì có thể phải cắt bỏ cả phần phổi lành bị viêm nhiễm này.

Nguồn sức khỏe đời sống

Viêm phổi ở trẻ sơ sinh

Khi bị viêm phổi, trẻ bị viêm các phế quản nhỏ, các phế nang và các tổ chức xung quanh phế nang. Tổn thương viêm rải rác 2 phổi làm rối loạn trao đổi khí dễ gây suy hô hấp. Triệu chứng bệnh thường sơ sài, không rõ ràng nên khi chuẩn đoán được thì bệnh đã nặng, dễ gây tử vong. Vì vậy, cần cho trẻ đi khám ngay khi có biểu hiện ho, bỏ bú, quyấy khóc…

tre-bi-viem-phoi

Triệu chứng ban đầu
Thường rất nghèo nàn và không đặc hiệu. Cần cho trẻ đến khám ở cơ sở y tế nếu có 1 trong các biểu hiện sau:
Bú kém hoặc bỏ bú.
Sốt trên 37,5oC hoặc hạ thân nhiệt mặc dù đã ủ ấm.
Li bì.
Thở nhanh trên 60 lần trong 1 phút hoặc khó thở.

Triệu chứng điển hình
Triệu chứng toàn thân: Trẻ sốt hoặc hạ thân nhiệt, li bì, đáp ứng kém với kích thích, bú kém hoặc bỏ bú, nôn nhiều, chướng bụng…
Suy hô hấp: Trẻ khó thở, rút lõm lồng ngừng, có thể tím tái, có cơn ngừng thở.
Nghe phổi có thể có ran ẩm nhỏ hạt.
Số lượng bạch cầu và bạch cầu trung tính trong máu tăng cao, trường hợp nặng có thể giảm hơn bình thường do trẻ không còn khả năng đề kháng.
Chụp phổi có thể thấy các đám mờ rải rác ở 2 thể phế trường.

Sốt phát ban ở trẻ

Phát ban là bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ. Khoảng thời gian trước khi bị phát ban, em bé sẽ có những thay đổi về trạng thái tinh thần, rõ ràng nhất là biểu hiện quấy khóc. Sau đó bé sẽ bị sốt, sổ mũi, ho, nhiều bé còn bị thêm tiêu chảy, vài ngày sau cơ thể bé sẽ xuất hiện những chấm đỏ toàn thân.

Nguyên nhân gây bệnh?
Sốt phát ban do một số loại siêu vi gây ra, nhưng có 2 nguyên nhân chính là siêu vi sởi và siêu vi bệnh rubella. Bệnh sởi còn gọi là ban đỏ, còn bệnh rubella gọi là ban đào.

Sốt phát ban lây lan qua đường hô hấp. Khi bệnh nhân ho, hắt hơi, thì những siêu vi trùng bị bắn ra ngoài khiến cho những người xung quanh có thể hít phải và nhiễm bệnh.

sot-phat-ban-o-tre

Biểu hiện phát bệnh?
Sốt phát ban do sởi thường có những biểu hiện như sau: trẻ bị sốt cao kèm theo ho và sổ mũi, mắt đỏ. Lúc này các bé cảm thấy rất bứt rứt, khó chịu trong người. Sau đó vài ngày, trẻ sẽ bị phát ban toàn thân, đồng thời cũng sẽ giảm sốt và bớt quấy hơn.

Phát ban do Rubella lại có biểu hiện sốt nhẹ hoặc không sốt. Các nốt ban xuất hiện khá nhanh, trong 1 ngày đã có thể nổi lên trên khắp thân của trẻ. Ở trường hợp này, phần lớn trẻ mắc bệnh sẽ có kèm tiêu chảy hoặc phân hơi lỏng.

Sốt phát ban có gây biến chứng không?
Khi trẻ bị bệnh, các bậc cha mẹ luôn lo lắng, không biết có gây nguy hiểm đến sức khỏe và tính mạng của trẻ hay không?

Bệnh sởi sẽ trở nên nguy hiểm nếu có các biến chứng như : viêm phổi, viêm tai giữa, kiết lỵ, đặc biệt là viêm não.

Rubella là bệnh lành tính hơn, và rất hiếm khi xảy ra biến chứng nguy hiểm. Nếu phụ nữ đang mang thai bị mắc Rubella trong 3 tháng đầu của thai kì, có thể dẫn đến sẩy thai, đẻ non, hoặc trẻ sinh ra sẽ mắc tật về mắt, tim, não.

Điều trị và phòng ngừa cho trẻ
Nếu trẻ sốt cao, cha mẹ có thể cho trẻ dùng thuốc hạ sốt, giảm ho. Nhưng nếu thấy bé có những biểu hiện bệnh nặng như : sốt cao không hạ, khó thở, co giật, hôn mê, đi ngoài ra máu hay chảy mủ ở tai… thì cần phải đưa ngay trẻ đến bệnh viện để được cấp cứu kịp thời.

Trong quá trình điều trị, cũng cần phải chú ý tới chế độ ăn uống của trẻ. Nên cho trẻ ăn những thức ăn lỏng, dễ tiêu hóa, đặc biệt cho uống nhiều nước vì lúc này cơ thể trẻ có thể bị mất nước nhiều.

Khi trẻ phát ban, tuyệt đối không được ủ kín và kiêng vệ sinh thân thể, vì điều đó có thể khiến bệnh trở nặng thêm. Thói quen kiêng gió, kiêng nước, thậm chí kiêng trong cả ăn uống là hoàn toàn sai lầm và lạc hậu. Trẻ cần được vệ sinh sạch sẽ để tránh nhiễm trùng Da và biến chứng viêm phổi. Bạn có thể tắm cho con bằng nước ấm, phòng tắm kín gió, để tránh cho trẻ bị nhiễm lạnh.

Cần phải cách ly trẻ bị bệnh để tránh lây lan sang các bạn khác. Tuy nhiên, bệnh có thể lây ngay từ khi trẻ chưa có biểu hiện phát ban, nên việc phòng tránh trở nên khó khăn hơn.

Nguồn báo sức khỏe

Bệnh dễ mắc khi trời giá lạnh

Những ngày gần đây thời tiết ở nước ta luôn thay đổi, ở một số tỉnh miền núi phía Bắc có nhiều ngày đã có tuyết (Lào Cai, Hà Giang, Lạng Sơn), ở một số tỉnh phía Nam, nhất là các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long về đêm nhiệt độ cũng đã giảm xuống dưới mức bình thường. Điều này tác động xấu đến sức khỏe, đặc biệt ở người cao tuổi (NCT). Sự suy giảm chức năng hoạt động của hệ tim mạch và hệ miễn dịch là yếu tố quan trọng làm gia tăng bệnh tật như bệnh đường hô hấp, rối loạn tiêu hóa, tăng huyết áp, bệnh tim mạch, đau nhức khớp…

Người cao tuổi dễ mắc bệnh gì trong mùa rét?

Khi trời lạnh, NCT thường mắc hoặc tái phát nhiều bệnh:

Bệnh đường hô hấp (ho, rát họng, chảy nước mũi, viêm phế quản, giãn phế quản, khí phế thũng), nhất là bệnh hen suyễn và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Bệnh hen suyễn và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là mối đe dọa đến tính mạng người bệnh mỗi khi đông đến, rét đậm, lạnh, mưa. Đối với NCT có sức yếu, lú lẫn, nằm lâu ngày, khi lạnh bị viêm phế quản, viêm phổi cấp tính thì thân nhiệt thường không tăng cao như người trẻ tuổi nên dễ nhầm là bệnh nhẹ ít được người nhà quan tâm. Do đó, khi bệnh đã nặng gây không ít khó khăn cho việc điều trị. Thêm vào đó, do giá rét, một số người nghiện thuốc lá, thuốc lào thường hút tăng lên cho đỡ rét thì bệnh lại càng tăng nặng. Ngoài ra, môi trường ô nhiễm, nhiều bụi, khói của bếp than, bếp củi, bếp dầu, nhà ở chật chội, đóng kín các cửa (do lạnh) cũng là những yếu tố thuận lợi cho bệnh hô hấp phát triển, đặc biệt ở NCT.

nhung-chung-benh-de-mac-khi-troi-gia-ret

Bệnh tim mạch: Song song với các bệnh về hô hấp thì bệnh tim mạch cũng sẽ gia tăng mỗi khi mùa đông đến, trong đó đáng lưu ý là bệnh tăng huyết áp kịch phát. Tăng huyết áp kịch phát rất dễ gây nên đột quỵ, nhồi máu cơ tim.

Bệnh xương khớp: Thời tiết giá lạnh, với NCT thì các bệnh về xương khớp cũng luôn luôn rình rập đối với họ, đặc biệt là các bệnh gút, đau thần kinh liên sườn, đau lưng, thắt lưng, cứng khớp gối, khớp cổ tay, bàn tay, ngón tay. Chính thoái hóa khớp và cứng khớp vào mùa lạnh làm cho người bệnh khó vận động, đau nhức ảnh hưởng rất lớn đến giấc ngủ và từ đó ảnh hưởng đến sức khỏe.

Ngoài ra, các bệnh dạ dày, viêm đại tràng co thắt mỗi khi mùa lạnh đến cũng hành hạ NCT làm cho ăn không ngon, ngủ không yên. Bên cạnh đó, ở nam giới khi bị bệnh tiền liệt tuyến càng lạnh càng đi tiểu, nhất là ban đêm gây nhiều phiền toái cho họ.

Cần làm gì để phòng bệnh ở NCT trong mùa đông?

Để phòng bệnh mùa lạnh thì NCT cần mặc đủ ấm, ngủ ấm, tránh gió lùa, nên hạn chế ra khỏi nhà lúc sáng sớm, nếu cần thiết ra khỏi nhà phải mặc quần áo thật ấm, đi tất, găng tay, cổ quàng khăn ấm, đeo khẩu trang và nên đội mũ len. Có thể vẫn tập thể dục hoặc đi lại, vận động thân thể ở trong nhà không nên ra khỏi nhà khi thời tiết còn lạnh giá. Ở trong phòng có thể sưởi ấm tùy thuộc vào điều kiện của từng gia đình. Ở miền núi và nông thôn có thể dùng than củi nhưng phải sưởi ở phòng thoáng gió tránh ứ đọng khói, khí độc và với gia đình có điều kiện thì nên dùng lò sưởi điện hoặc điều hòa. Ở thành thị nếu có điều kiện thì sưởi bằng lò sưởi, quạt sưởi điện hoặc bằng điều hòa nhiệt độ, tránh dùng than tổ ong để sưởi rất dễ bị ngộ độc bởi khí CO. Thời tiết lạnh giá nhưng NCT cũng có thể tắm, rửa bằng nước nóng trong buồng tắm kín gió; tắm xong phải lau khô người và nhanh chóng mặc quần áo thật ấm. Trường hợp có bệnh về tim mạch, tăng huyết áp, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen suyễn thì những ngày nhiệt độ giảm xuống thấp nên hạn chế tắm, chỉ nên lau người và rửa tay, chân bằng nước ấm. Cần vệ sinh họng, miệng sạch sẽ thường xuyên hằng ngày như đánh răng đều đặn trước và sau khi ngủ dậy; súc họng bằng nước muối sinh lý (có thể tự pha chế nước muối nhạt). Trường hợp dùng răng giả cần vệ sinh răng giả thật sạch sẽ không để bám dính nhiều cặn, thức ăn làm tăng nguy cơ bội nhiễm vi sinh vật cho đường hô hấp. Người bị bệnh tăng huyết áp cần hết sức tránh lạnh đột ngột, nhất là lúc ngủ dậy vào sáng sớm. Thường tai biến đột quỵ, nhồi máu cơ tim dễ xảy ra khi cơ thể bị lạnh đột ngột. Vì vậy, khi tỉnh giấc nên nằm yên, thở đều khoảng 5 phút sau đó mới bỏ chăn ra và ngồi dậy từ từ. Ngay lúc đó cần mặc ấm và chưa nên ra khỏi nhà vội. Cần bỏ thuốc lá, thuốc lào nhất là những NCT đã bị các bệnh mạn tính như viêm họng, viêm phế quản, hen suyễn, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, viêm xoang, bệnh về tim mạch. Cần ăn, uống đủ nóng và tránh dùng các loại có tính chất kích thích như rượu, bia, cà phê.

PGS.TS. Bùi Khắc Hậu

Suy giáp bẩm sinh

Bé bị suy giáp bẩm sinh chỉ được điều trị bình phục trở về bình thường khi được phát hiện sớm và điều trị kịp thời trong vòng 02 tuần lể đầu sau sinh.

Suy giáp bẩm sinh là gì?

Suy giáp bẩm sinh là một bệnh lý xảy ra do tuyến giáp không sản xuất đủ hormon (nội tiết tố) đáp ứng đủ nhu cầu cần thiết của cơ thể. Bệnh xuất hiện từ 1/3000 đến 1/4000 em bé mới sinh.

suy-giap-bam-sinh

Tuyến giáp ở đâu và giữ vai trò gì trong cơ thể?

Tuyến giáp là tuyến có hình dạng con bươm bướm nằm ở phía trước cổ. Tuyến này sử dụng iot thức ăn đưa vào trong cơ thể hàng ngày để tổng hợp ra một loại nội tiết tố gọi là T4 (thyroxine). Nội tiết tố T4 giữ vai trò tối quan trọng (sống còn) cho quá trình phát triển và trưởng thành của trẻ.Nếu tuyến giáp hoạt động không bình thường -> không sản xuất đủ T4 -> sẽ ảnh hưởng lên sự phát triển của cơ thể và đặc biệt là của não.

Nguyên nhân đưa đến Tuyến giáp hoạt động không bình thường?

Bình thường trong thời gian đầu của thai kỳ, tuyến giáp bắt đầu phát triển ở sàn não sau đó di chuyển dần xuống phía dưới cổ, nơi mà nó ngưng phát triển. Nhưng vì một lý do nào đó, quá trình phát triển và di chuyển xuống của tuyến giáp bị gián đoạn -> tuyến chưa phát triển đầy đủ nằm không đúng chỗ, một số trường hợp không có tuyến giáp.

Bằng cách nào tuyến giáp sản xuất ra nội tiết tố cần thiết cho cơ thể?

Cũng như các tuyến nội tiết khác trong cơ thể, tuyến giáp chịu ảnh hưởng của tuyến yên (nằm ở đáy não). Tuyến yên sản xuất ra một loại hormon TSH kích thích tuyến giáp sản xuất T4. Khi lượng T4 sản xuất ra đủ cho nhu cầu của cơ thể sẽ ức chế ngược lại báo cho tuyến yên giảm sản xuất TSH. Trong trường hợp lượng T4 chưa đủ cho nhu cầu của cơ thể, tuyến yên tiếp tục sản xuất ra TSH để kích thích tuyến giáp sản xuất T4. Như vậy, nồng độ TSH trong cơ thể có lúc thấp và có lúc cao tùy theo lượng T4.Ở các bé bị suy giáp bẩm sinh, lượng T4 trong cơ thể thấp, tuyến yên sản xuất ra nhiều TSH để kích thích tuyến giáp sản xuất ra T4, nhưng tuyến giáp lại không sản xuất ra T4 như ở trẻ em bình thường -> hậu quả lượng TSH trong cơ thể luôn luôn cao.

Hậu quả trên bé như thế nào nếu không phát hiện sớm, điều trị kịp thời?

Nếu một bé sơ sinh bị suy giáp bẩm sinhvà không được phát hiện điều trị kịp thời, trong vòng 2-3 tuần lễ đầu sau sinh, bệnh sẽ ảnh hưởng đến bé như sau :- Trong giai đoạn sơ sinh: thường bị vàng da kéo dài hơn bình thường, màu da thường xám chì, tái. Bé thường ngủ nhiều, không linh hoạt với tiếng động môi trường bên ngoài, ít khóc, bỏ bú hay bú ít, không tỉnh táo khi bú, chậm lên cân, tay chân lạnh, lưỡi thò ra ngoài…- Giai đoạn sau sơ sinh và trẻ nhỏ: Chậm phát triển về mặt thể chất (chậm lên cân và phất triển chiều cao) và tinh thần (không linh hoạt, không học hành được…) so với người bình thường.

Nếu trẻ được phát hiện suy giáp bẩm sinh quá trễ, việc điều trị sẽ ít hiệu quả do các di chứng phát triển tâm thần, do thiếu hormon T4 kéo dài không hồi phục.

Làm cách nào để phát hiện sớm và điều trị kịp thời cho trẻ sơ sinh bị suy giáp bẩm sinh?

Bé bị suy giáp bẩm sinh chỉ được điều trị bình phục trở về bình thường khi được phát hiện sớm và điều trị kịp thời trong vòng 02 tuần lể đầu sau sinh.Sau sanh 48 giờ, bé sẽ được lấy mẫu máu từ gót chân hay tĩnh mạch mu tay thấm vào giấy thấm để làm xét nghiệm TSH và T4. Nếu TSK cao và T4 thấp bé sẽ được tư vấn và giới thiệu đến bác sĩ chuyên khoa nội tiết để điều trị và theo dõi.Chính vì vậy, nếu bé được phát hiện bệnh càng sớm -> khả năng phục hồi và phát triển tâm sinh lý như một người bình thường càng cao.

Bé bị suy giáp bẩm sinh sẽ được điều trị như thế nào?

Do cơ thể bé thiếu hormon (nội tiết tố) T4 cần thiết cho cơ thể, mà chính cơ thể không tự tạo ra được. Các Bbác sĩ chuyên khoa nội tiết sẽ cho con bạn uống một loại thuốc có tên biệt dược là L-thyroxine (hay còn gọi là T4 tổng hợp). Thuốc này sẽ được sử dụng với liều thích hợp theo chỉ định của BS chuyên khoa nội tiết dựa trên kết quả xét nghiệp TSH và T4 sau khi dùng thuốc.

Bé bị suy giáp bẩm sinh sẽ uống thuốc đến khi nào?

Nội tiết tố T4 rất cần thiết cho sự phát triển não bộ của bé trong vòng 2 tuổi đầu. Sau 2 tuổi ,T4 cũng cần cho cơ thể phát triển và trưởng thành. Ở người trưởng thành đang điều trị hormon thay thế cũng đưa đến xuất hiện các dấu hiệu bệnh lý: táo bón, kém linh hoạt, khô da… Do đó việc điều trị uống thuốc trong suốt cuộc đời và phải được BS chuyên khoa nội tiết khám bệnh theo dõi định kỳ. Bạn phải cố gắng thực hiện việc cho con mình uống thuốc như là một thói quen hàng ngày để tránh quên uống thuốc.

Song song với điều trị thuốc, bé cần một chế độ ăn hay ngừa một số thuốc nào không?

Bé bị suy giáp bẩm sinh vẫn có một chế độ ăn như các bé bình thường khác. Việc sử dụng các thức ăn giàu iot là không cần thiết. Suy giáp bẩm sinh không thể điều trị khỏi được bằng chế độ ăn.Việc phòng ngừa thuốc gì tùy thuộc vào bác sĩ chuyên khoa nội tiết tham vấn. Bé vẫn được chích ngừa như các bé bình thường khác.

Bé sẽ có những thay đổi gì sau khi điều trị?
– Tăng đi tiểu.

– Tăng hoạt động: Bé trở nên lanh lợi hơn, chú ý đến môi trường xung quanh, ít ngủ li bì, khóc nhiều.

– Bú nhiều.

– Da sau vài tuần bớt xám tái.

– Nếu bé phát triển chậm hơn bé bình thường, bạn sẽ thấy bé bắt đầu phát triển những động tàc, cử chỉ như ở bé bình thư

Những lưu ý khi chăm sóc trẻ bị hen suyễn

Đối với những trẻ em bị hen suyễn, khi tới trường hay ở bất cứ nơi đâu, bố mẹ các em cần phải lưu ý hết sức với tình trạng sức khoẻ cũng như việc dùng thuốc của con mình. Dưới đây là một vài lưu ý cần thiết.

Vấn đề vệ sinh

Với những người bị hen suyễn thì việc bị cảm lạnh và cảm cúm… là vô cùng nguy hiểm, điều này sẽ rất bất lợi cho việc điều trị bệnh hen. Vì vậy, nếu con bạn bị hen, bạn cần giúp chúng tránh những căn bệnh này. Bạn có thể giúp cháu làm giảm nguy cơ bị nhiễm cúm và ngăn ngừa những tác nhân gây bệnh bằng việc giữ vệ sinh thân thể thật tốt, tránh đối diện với những người đang bị cảm cúm…

nhung-luu-y-khi-cham-soc-tre-bi-hen-suyen

Đừng để bệnh thêm nặng

Giảm đến mức tối thiểu nguy bệnh hen nặng hơn do bị một số bệnh khác đi kèm như cúm, cảm, các bệnh về đường hô hấp. Bác sĩ khuyên trẻ bị hen suyễn nên ở nhà nếu chúng bị sốt, bị cảm hoặc có nguy cơ ốm, và tốt nhất không nên đến trường ít nhất là 24h sau khi phát hiện bệnh.

Kiểm tra thường xuyên

Theo như các chuyên gia về bệnh hen suyễn cho biết, những người bị hen thường rất dễ mắc các bệnh khác về đường hô hấp, vì vậy bạn cần cho con đến các cơ sở y tế để kiểm tra sức khoẻ định kỳ. Nếu cần tiêm phòng các bệnh về đường hô hấp thì nên cho trẻ tiêm định kỳ theo chỉ dẫn của bác sĩ.

Khám sức khoẻ toàn bộ

Có thể con của bạn không bị hen suyễn quá nặng, nhưng tốt nhất bạn nên cho trẻ đi khám sức khoẻ toàn bộ cơ thể tại một phòng khám nhi. Điều này giúp các bác sĩ có thể điều chỉnh cách chữa trị, cân nhắc chế độ dùng thuốc của con bạn một cách hiệu quả nhất. Đây chính là cách để phát hiện sớm những căn bệnh tiềm ẩn mà chúng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ cũng như tính mạng của cháu.

Cân nhắc việc dùng thuốc

Những trẻ bị hen suyễn thường được kê một toa thuốc và chúng luôn phải mang theo bên người bất kể lúc nào. Tuy nhiên, bạn cũng cần lưu ý với việc dùng thuốc của trẻ, vì có thể trẻ sẽ dùng quá liều, hoặc không đủ liều, hoặc quên mang thuốc bên mình. Điều này sẽ rất nguy hiểm khi trẻ lên cơn hen.

Kế hoạch hoạt động cho bệnh nhân hen suyễn

Tất cả những học sinh bị hen suyễn đều phải thông báo về tiền sử bệnh cũng như hiện trạng bệnh của mình và những phương thuốc đã dùng, đang dùng một cách rành mạch, rõ ràng cho nhà trường. Điều này giúp giáo viên sẽ điều tiết sự hoạt động, luyện tập của trẻ cho phù hợp với tình trạng sức khoẻ, tránh hoạt động quá mạnh gây nguy hiểm.

Thường xuyên liên lạc với y tá và giáo viên ở trường

Bạn nên gửi cho giáo viên, y tá, huấn luyện viên… tại trường con bạn học một bản kế hoạch hoạt động của con mình để họ nắm rõ và theo dõi chặt chẽ tình trạng sức khoẻ con bạn. Và bạn nên thường xuyên liên lạc, trao đổi với giáo viên phụ trách con mình và y tá của trường để họ có những biện pháp nhanh chóng và trợ giúp tích cực khi con bạn lên cơn hen suyễn tại trường học.

Động viên trẻ

Động viên là một điều rất quan trọng đối với việc học tập và đến trường của trẻ. Nếu con bạn luôn có những bạn cùng lớp ủng hộ và lo lắng, quan tâm, giúp đỡ thì bạn sẽ bớt được phần nào lo lắng về bệnh tình của con mình.

Sự ủng hộ của nhà trường

Để đảm bảo rằng nhà trường biết con bạn bị bệnh và sẽ luôn ứng phó kịp thời, bạn cần trao đổi trước khi cho con vào học. Việc thông báo tiền sử bệnh của trẻ tới nhà trường là một việc rất quan trọng. Các bậc phụ huynh nên thông báo, xác nhận rõ ràng về tính trạng bệnh của con mình với nhà trường, với các giáo viên thể dục, các huấn luyện viên, lái xe buýt… để được hỗ trợ những lúc cần thiết.

Nguồn sức khỏe đời sống

Các giai đoạn của bệnh ho gà

1. Định nghĩa:
Ho gà là một bệnh nhiễm trùng cấp tính ở đường hô hấp do vi khuẩn Bordetella pertussis. Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng thường gặp ở trẻ em. Biểu hiện lâm sàng chính của bệnh là cơn ho đặc biệt.
2. Dịch tễ học:
Bệnh xảy ra khắp nơi trên thế giới, đặc biệt ở những nước đang phát triển. Hàng năm có khoảng 50 – 60 triệu ca mắc bệnh, trong đó khoảng 600.000 đến 1 triệu trường hợp tử vong. Tuy nhiên trong 2 thập niên vừa qua chương trình tiêm chủng mở rộng phát triển nên tỷ lệ mắc bệnh đã giảm đáng kể. Trong những năm 1989, 1990, 1993 dịch ho gà xảy ra ở nhiều bang tại Mỹ với hơn 4.500 ca được báo cáo. Trong khi đó tại Trung tâm bệnh nhiệt đới thành phố Hồ Chí Minh cho thấy năm 1994 có 13 ca và năm 1996 có 1 ca.

cac-giai-doan-cua-benh-ho-ga1
Tại Bệnh viện trung ương Huế:
Từ năm 1980 – 1985 có 1410 ca, tỷ lệ tử vong 8,7%. Từ năm 1989 – 1993 có 246 trường hợp mắc bệnh, tỷ lệ tử vong 16,4%. Năm 2000: 104 ca, năm 2001: 70 ca, năm 2002: 62 ca và không có ca nào tử vong.
Dịch ho gà xảy ra theo chu kỳ 3 – 5 năm, không theo mùa rõ rệt. Bệnh lây trực tiếp qua đường hô hấp giữa người với người. Cường độ lây mạnh nhất trong giai đoạn viêm long và giảm dần từ tuần thứ 3 sau khi bắt đầu có giai đoạn ho cơn. Người là vật chủ duy nhất mang mầm bệnh.
Bệnh thường lây do tiếp xúc lâu, chẳng hạn như trong gia đình (70 – 100%), tại trường học (25 – 50%). Không có tình trạng mang mầm bệnh mạn tính.
Miễn dịch từ mẹ truyền sang cho con rất yếu, nên trẻ sơ sinh nếu gặp phải nguồn lây thì có thể mắc bệnh ngay trong những tuần lễ đầu. Trong khi đó miễn dịch chủ động tuy kéo dài nhưng có thể giảm dần theo thời gian. Do đó việc tiêm nhắc lại là điều rất cần thiết để hạn chế nguồn lây bệnh.
Đối tượng mắc bệnh:
– Trẻ nhũ nhi 50%.
– Trẻ nhỏ và trẻ lớn 15%.
Yếu tố tiên lượng nặng:
– Trẻ dưới 6 tháng tuổi.
– Ăn uống kém, nôn nhiều.
– Cơn ngưng thở kéo dài và tím tồn tại giữa 2 cơn ho.
– Co giật nhiều lần.
– Bạch cầu máu ngoại vi > 50.000/mm3.
3. Sinh bệnh học:

cac-giai-doan-cua-benh-ho-ga
– Người ta cho rằng vi khuẩn xâm nhập vào đường hô hấp trên, rồi khu trú và phát triển ở lông mao biểu mô trụ của đường thanh quản, khí quản. Vi khuẩn không xâm nhập màng niêm mạc cũng như không tràn qua đường tuần hoàn. Vi khuẩn gắn vào màng bằng hệ thống lông với những sợi ngưng kết hồng cầu (FHA: Filamentous hemagglutinin) và ở đó vi khuẩn tiết ra ngoại độc tố hoặc độc tố ho gà (PT: Pertussis toxin). Ngày nay người ta biết rằng độc tố này chỉ do B. Pertussis tiết ra, đây là một loại protein độc lực chính đóng vai trò gây bệnh.
– Độc tố tế bào ở khí quản, adenylate cyclase và pertusis toxin (độc tố ho gà) xuất hiện đóng vai trò ức chế sự thanh thải vi khuẩn. Độc tố tế bào khí quản, yếu tố hoại tử biểu bì và adenylate cyclase là những chất chịu trách nhiệm gây tổn thương tại chỗ ở biểu mô, vì vậy gây nên triệu chứng bệnh lý ở đường hô hấp. Trong thời kỳ nung bệnh từ 5 đến 21 ngày, vi khuẩn tấn công vào bề mặt tế bào và người ta nhận thấy vào khoảng 140 vi khuẩn cũng đủ để gây bệnh ho gà. Đảo Langerhans của tụy được hoạt hóa làm tăng sản Insulin gây giảm đường huyết. Tổn thương não đôi khi cũng gặp trong ho gà nặng có thể liên quan đến tình trạng hạ đường máu hoặc thiếu oxy trong giai đoạn ho cơn.
– Ho kéo dài trong ho gà là do biểu mô phế quản bị viêm, hoại tử, các chất tiết trong lòng phế quản bị tích tụ lại và do ảnh hưởng của yếu tố gây độc LPS (Lipopolysaccharide), yếu tố gây độc tế bào khí quản TCT (tracheal cytotoxin) làm đình trệ thải các chất độc. Hơn nữa, sự sản xuất tế bào lympho bị thay đổi và do ảnh hưởng đến thực bào của adenylate cyclase nên chức năng miễn dịch bị suy giảm.
4. Lâm sàng:
– Thời kỳ ủ bệnh khoảng từ 7 – 14 ngày. Giai đoạn này bệnh nhi thường hoàn toàn yên lặng, khó xác định vì không biết một cách chính xác trẻ bị nhiễm bệnh. Diễn tiến của ho gà trải qua 3 giai đoạn:
4.1. Giai đoạn xuất tiết: Kéo dài 1 đến 2 tuần, các triệu chứng của nhiễm trùng đường hô hấp trên thể hiện không rõ ràng, chỉ có ho là dấu hiệu gợi ý, phần nhiều ho về đêm.
4.2. Giai đoạn kịch phát: Dấu hiệu chính trong giai đoạn này là các cơn ho. Cơn ho xuất hiện một cách tự nhiên hay do một kích thích nhỏ. Cơn ho kéo dài rũ rượi không sao kiềm chế được và thể hiện 3 đặc điểm: ho, thở rít và khạc đàm hoặc nôn mửa. Tiếp theo cơn ho dữ dội là bệnh nhi vã mồ hôi, tĩnh mạch cổ và da đầu nổi rõ. Đặc biệt ở trẻ quá nhỏ và trẻ sơ sinh có những cơn ngưng thở ngắn thay thế cho hiện tượng rít khi hít vào.
Giữa các cơn ho, thông thường trẻ cảm thấy dễ chịu và có thể sinh hoạt bình thường. Ngoài ra trong giai đoạn này còn thấy một số dấu hiệu như: chảy máu cam, xuất huyết kết mạc mắt hay bầm tím quanh mi mắt dưới.
4.3. Giai đoạn hồi phục: Kéo dài trong vòng 1 – 2 tuần. Cơn ho ngắn lại, số cơn giảm. Ho còn có thể tồn tại trong vài tháng. Nếu bị nhiễm khuẩn gian phát chẳng hạn như cảm lạnh làm cho trẻ trở lại những cơn ho kịch phát đến mức có thể nhầm với một đợt tấn công mới của bệnh mà Lesage gọi là Tic ho gà .
5. Cận lâm sàng:
5.1. X quang phổi: Có thể có các hình ảnh sau:
– Hình mờ từ rốn phổi tỏa xuống tận cơ hoành cả 2 bên.
– Hình mờ tam giác, đỉnh ở rốn phổi đáy ở cơ hoành, thường thấy ở đáy phổi phải.
– Hình mạng lưới thấy cả phế trường nhưng thường đậm ở đáy và cạnh rốn phổi.
– Phản ứng màng phổi làm mờ góc sườn hoành, thường chỉ một bên.
5.2. Biến đổi huyết học: Chủ yếu là dòng bạch cầu trong giai đoạn xuất tiết và trong thời kỳ kịch phát. Số lượng bạch cầu tăng từ 20.000 đến 50.000 tế bào/mm3 ở máu ngoại vi, có khi lên tới 80.000 – 100.000/mm3. Tăng đặc biệt là bạch cầu lympho.
6. Biến chứng:
6.1. Biến chứng ở đường hô hấp:
– Viêm phổi: là biến chứng thường gặp nhất, chiếm 20%, thường xảy ra vào tuần thứ 2, thứ 3 của giai đoạn ho cơn. Tác nhân có thể do chính bản thân B. pertussis nhưng thường gặp nhất là do vi khuẩn thứ phát xâm nhập vào.
– Xẹp phổi: chiếm tỷ lệ 5%. Nguyên nhân do các nút nhầy làm bít tắc các phế quản nhỏ.
– Trong giai đoạn kịch phát, do cơn ho quá dữ dội dễ làm vỡ các phế nang gây ra tình trạng tràn khí mô kẽ hoặc tràn khí dưới da.
6.2. Biến chứng thần kinh:
– Co giật thường gặp ở trẻ nhỏ hoặc trẻ sơ sinh.
– Liệt nửa người, liệt chi và mất ngôn ngữ là do xuất huyết hoặc xung huyết não.
– Tetanie xuất hiện khi trẻ nôn mửa nhiều.
– Bệnh não cấp còn gọi là chứng kinh giật ho gà.
6.3. Biến chứng cơ học:
Loét hãm lưỡi, vỡ cơ hoành, thoát vị rốn, bẹn, sa trực tràng, tụ máu dưới kết mạc, bầm tím dưới mí mắt, và nguy hiểm nhất là chảy máu nội sọ.
7. Chẩn đoán:
– Có nguồn lây rõ ràng. Lâm sàng chứng kiến cơn ho điển hình của ho gà.
– Bạch cầu tăng cao trong máu ngoại vi và dòng lympho chiếm ưu thế.
– Cấy tìm trực khuẩn ho gà từ dịch xuất tiết ở mũi họng. Tỷ lệ dương tính khoảng 30 – 60% trong giai đoạn xuất tiết hay đầu giai đoạn ho cơn.
– Làm kỹ thuật PCR (Polymerase Chain Reaction) để xác định ADN của vi khuẩn ho gà lấy từ dịch mũi họng, kỹ thuật này rất nhanh và đặc hiệu hơn cấy tìm vi khuẩn.
8. Chẩn đoán gián biệt: Gián biệt cơn ho với các nguyên nhân sau:
– B. parapertussis cũng gây ho giống ho gà nhưng lâm sàng nhẹ nhàng hơn.
– B. bronchiseptica chỉ gây bệnh cho loài gặm nhấm, mèo. Người mắc bệnh do tiếp xúc với các loại súc vật ấy.
– Adenovirus 1, 2, 3, 5, 12, 19.
– Viêm khí phế quản, viêm tiểu phế quản và viêm phổi kẽ.
– Viêm phổi do Mycoplasma: thông thường loại này sốt cao, ho dữ dội, đau đầu và nghe phổi có ran. Bệnh hay gặp ở trẻ lớn.
9. Dự phòng:
– Chủng ngừa vaccin cho trẻ để tạo miễn dịch chủ động (đạt hiệu quả từ 70 – 90%).
– Phát hiện và cách ly sớm cho những trẻ nghi ngờ bị ho gà trong thời kỳ xuất tiết.
– Dùng Erythromycine để dự phòng khi có nguồn lây ở gia đình hoặc tiếp xúc ở bệnh viện, đặc biệt cho trẻ dưới 2 tuổi. Thuốc dùng trong 10 ngày.
10. Điều trị:
– Với trẻ lớn và thể nhẹ thì có thể cho điều trị ngoại trú hay ở các tuyến cơ sở. Các thuốc an thần, giảm ho, long đàm, kháng histamine không có hiệu quả mà có thể gây nguy hiểm.
– Đối với trẻ nhỏ, mẹ phải cho ăn lỏng hoặc bú nhiều lần trong ngày và từng ít một. Khi trẻ ho phải bồng ngồi dậy và nghiêng đầu về một bên. Phải hướng dẫn cho bà mẹ biết cách móc đờm giải, biết cách hô hấp nhân tạo miệng-miệng khi trẻ ngưng thở, tím tái trong bối cảnh chưa cấp cứu kịp. Phải tránh khói bếp, nhất là khói thuốc lá.
– Những trường hợp nặng và trẻ quá nhỏ thì phải đưa vào bệnh viện để theo dõi tại phòng cấp cứu đặc biệt.
Điều trị thuốc:
– Erythromycine 30 – 50 mg/kg/24 giờ chia 4 lần uống hoặc Cotrimoxazole 30 – 50 mg/kg/24 giờ. Kèm theo Prednisolone 1 – 2 mg/kg/ngày. Salbutamol 0,2 mg/kg/ngày.
– Thời gian điều trị là 14 ngày. Đối với trẻ sơ sinh thì chống chỉ định với Cotrimoxazole.

Theo sức khỏe

Chữa huyết áp cao bằng rau cần tây

Huyết áp cao

Cần tây chứa canxi, sắt, phốtpho, giàu protid (gấp đôi so với các loại rau khác), nhiều axít amin tự do, tinh dầu, mannitol, inositol, nhiều loại vitamin, giúp tăng cảm giác thèm ăn, xúc tiến tuần hoàn máu, tăng cường khả năng miễn dịch và bổ não. Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh rau cần có tác dụng hạ huyết áp rõ rệt, thời gian duy trì tuỳ theo liều lượng nhiều hay ít và trên từng đối tượng.

Bệnh gout

Kiềm trong cần tây có tác dụng trung hoà các chất axít, nhờ đó rau cần có thể hỗ trợ chữa được các bệnh do axít tăng cao trong máu như urê huyết cao, nhiễm trùng máu, bệnh phong thấp và bệnh gout.

chua-huyet-ap-cao-bang-rau-can-tay

Các rối loạn về máu

Cần tây có hàm lượng magnesium và sắt cao, nên uống dịch ép rau cần và càrốt mỗi ngày, rất hiệu quả trong điều trị các chứng bệnh thiếu máu, bệnh Hodgkin, các chứng xuất huyết…

Bệnh đường hô hấp

Hạt cần tây có tác dụng làm giảm co thắt nên được dùng chữa hen suyễn, viêm phế quản, viêm màng phổi và bệnh lao phổi.

Ngừa sỏi thận

Ăn rau cần tây có thể giúp ngăn ngừa hình thành sỏi thận.

Mất ngủ

Lượng chất kiềm trong cần tây có công dụng giúp những người đang mắc chứng mất ngủ có thể ngủ ngon hơn. Khoáng chất này làm cho hệ thần kinh êm dịu lại, giảm bớt sự căng thẳng và lo âu.

Giúp xương khỏe mạnh

Loại rau gia vị này là nguồn cung cấp vitamin K dồi dào, cùng với rất nhiều can-xi và ma-giê – rất có ích cho quá trình tạo xương và giúp các khớp luôn khỏe mạnh. Cần tây còn chứa polyacetylene, một chất kháng viêm, vốn có khả năng làm giảm sưng và đau xung quanh các khớp xương.

Lợi tiểu

Hàm lượng kali và natri trong cần tây sẽ chịu trách nhiệm về khả năng giúp lợi tiểu. Chúng kích thích cơ thể sản xuất nước tiểu và điều chỉnh lượng chất lỏng trong cơ thể bằng cách loại bỏ lượng nước thừa.

Táo bón

Từ xa xưa, người ta đã biết đến công dụng chữa bệnh của cần tây, đã được dùng làm thuốc nhuận tràng. Chúng làm dịu các dây thần kinh vốn đã hoạt động quá mức do các loại thuốc nhuận tràng nhân tạo. Nhờ đó, làm nhẹ chứng táo bón một cách tự nhiên.

Chống ung thư

Những hợp chất như phthalide và polyacetylene giúp loại khử các chất sinh ung thư. Coumarin giúp ngăn chặn những tổn hại ở các tế bào do các gốc tự do gây ra. Acetylenics ngăn ngừa sự phát triển của các khối u. A-xít phenolic có khả năng khóa chặt sự hoạt động của các prostaglandin (vốn là tác nhân kích thích sự phát triển của các tế bào ở khối u). Nhờ đó, sẽ ngăn không cho các khối u phát triển.

Lưu ý: Những người bị huyết áp thấp không nên dùng cần tây. Không cất giữ rau cần tây trong tủ lạnh quá 2 tuần vì chất furanocoumarin trong cần tây sẽ tăng gấp 25 lần, có thể gây ung thư. Đặc biệt, đàn ông không nên lạm dụng qúa vì rau cần tuy giúp giữ vững phong độ của các đấng mày râu nhưng nếu lạm dụng sẽ gây hiệu quả ngược với mong muốn.

Theo VnMedia

Phòng ngừa bệnh hô hấp trong mùa đông

1. Tránh ăn mặc hở hang

Mùa lạnh bạn có thể dễ dàng mắc phải nhiều bệnh về đường hô hấp như ho, cảm cúm, phát triển bệnh xoang… Hãy mặc ấm trước khi ra ngoài, giữ ấm đặc biệt ở phần mặt, đầu, cổ, tay, chân. Nên tránh xa những người bị bệnh về mũi để tránh lây nhiễm. Đảm bảo độ ẩm trong nhà 40-50%.

2. Không ngoáy mũi thường xuyên

Nếu bạn bị nhiễm lạnh, hãy bắt đầu bằng cách xì mũi thường xuyên. Hãy xì ở hai lỗ mũi cùng lúc để ngăn chặn một bên còn dịch nhầy, một bên không. Không nên dí sát mũi để ngửi mọi vật, nó khiến chất nhầy tăng dần trong xoang vì có thể bạn đã hít thêm nhiều vi khuẩn.

Không nên ngoáy mũi thường xuyên vì có thể làm rụng lông mũi, tổn thương niêm mạc, vỡ mạch máu và gây chảy máu. Ngoài ra, ngoáy mũi nhiều cũng dễ gây nhiễm khuẩn mũi.

phong-ngua-benh-ho-hap-trong-mua-dong

3. Uống nhiều nước

Uống nhiều nước không chỉ khiến cơ thể bạn khỏe mạnh, loại bỏ nhiều độc tố mà còn có tác dụng giúp dịch tiết mũi lỏng hơn, để chất nhầy thoát ra ngoài một cách dễ dàng hơn.

4. Tránh kích thích bên ngoài

Hạn chế các yếu tố liên quan đến môi trường như tránh nơi nhiều khói thuốc, khiến màng nhầy bị khô, mũi dễ bị dị ứng. Tránh bụi khí, hoá chất độc hại hoặc kích thích mùi vị vào mũi vì nó có thể ảnh hưởng đến chức năng của niêm mạc mũi, xảy ra rối loạn khứu giác.

5. Xông mũi bằng nước ấm, nước muối hoặc nước có pha thảo dược

Khi có dấu hiệu cảm cúm, bạn có thể tự mình chữa trị bằng phương pháp tự nhiên. Một phương thuốc đơn giản giúp bạn dễ thở hơn là đun sôi nước và đổ nó vào một cái bát lớn. Hãy trùm thêm một chiếc khăn lên đầu (không trùm kín mít), để nước xông lên mũi. Không nên chọc tay hay tác động bất cứ thứ gì vào mũi.

Bạn có thể thêm vào bát nước ấm một chút tinh dầu bạch đàn, húng tây, trà hoa cúc hay thìa lá bạc hà.

Cây cải ngựa cũng có tác dụng rất tốt trong việc điều trị bệnh viêm mũi. Bạn có thể hít ngay trên phần rau đã được xát nhỏ, nó có chứa chất làm loãng chất nhầy. Bạn cũng có thể trộn nó với nước cốt chanh để uống.

Dùng nước muối vệ sinh cũng khiến mũi bạn thông thoáng, loại bỏ tối đa vi sinh vật. Bạn có thể dùng thêm tăm bông để làm sạch mũi.

6. Hạn chế đến các phòng tắm hơi

Khi bạn ngồi trong phòng xông hơi, tức là đang ở trong môi trường có nhiệt độ rất cao. Khi đó, các độc tố, chất cặn bã tích tụ bên trong cơ thể, ẩn chứa dưới da đi theo tuyến mồ hôi bài tiết ra ngoài giúp bạn cảm thấy sảng khoái, sạch sẽ hơn.

Tuy nhiên, những chất thải đó lại nhỏ giọt trên sàn nhà và quanh chỗ ngồi, bay hơi trong không khí, dẫn đến môi trường trong phòng xông hơi trở nên ô nhiễm. Nếu phòng xông hơi đông người, không được vệ sinh sạch sẽ khiến bệnh ở mũi của bạn càng trở nên nghiêm trọng.

Theo VnExpress

Làm thế nào để xử trí đúng bệnh hô hấp ở trẻ nhỏ

Trong những năm đầu đời, trẻ em rất dễ bị viêm đường hô hấp. Tuỳ theo sức đề kháng của cơ thể, có trẻ chỉ vài ngày là khỏi bệnh nhưng cũng có trẻ sổ mũi hoặc ho kéo dài từ tuần này sang tuần khác. Viêm hô hấp ở trẻ em đa phần là nhẹ nhưng thường gặp và ảnh hưởng nhiều đến trẻ và gia đình cũng như hoạt động xã hội.

Những bệnh hô hấp thường gặp

Viêm hô hấp trên là viêm từ mũi xuống ngã ba hầu họng, phần nhiều là viêm mũi, viêm họng, viêm hệ thống bạch huyết ở họng ở trẻ nhỏ (viêm VA), viêm tai. Viêm hô hấp trên có thể tự khỏi hoặc khi được điều trị hoặc có thể tiến triển thành viêm hô hấp dưới như viêm thanh quản, viêm phế quản, viêm tiểu phế quản (viêm những cuống phổi cực nhỏ) hay viêm phổi.

xu-ly-benh-ho-hap-o-tre-nho

Viêm hô hấp đa số do tác nhân siêu vi như rhinovirus, virus RSV, virus cúm… Khi gặp trời lạnh, điều kiện sinh hoạt ẩm thấp, đông đúc là điều kiện thuận lợi để gây bệnh. Biểu hiện ở trẻ là ho, sổ mũi, có khi có sốt, đôi khi bỏ ăn. Diễn tiến bệnh đa số lành tính, nếu chăm sóc tốt sẽ hết sau 5 – 7 ngày, không cần phải nhập viện.

Điều quan trọng là các bậc cha mẹ cần biết những dấu hiệu nặng như trẻ nôn, thở nhanh, sốt cao (ở trẻ nhỏ sốt cao quá có thể gây co giật) hoặc trẻ có triệu chứng khó thở, thở co kéo ngực hoặc phập phồng cánh mũi thì cần đưa trẻ đi khám ngay tại các cơ sở y tế.

Trẻ sinh mổ dễ bị khò khè

Những trẻ sinh mổ thường dễ bị khò khè do còn đờm nhớt ở đường hô hấp. Các bà mẹ không nên quá lo lắng trong trường hợp này và cũng không nên cho bé uống kháng sinh quá sớm, nên đưa bé đến các cơ sở y tế để được hút đờm và tập vật lý trị liệu hô hấp theo chỉ định của bác sĩ.
Khi thấy bé ho hoặc sổ mũi không nên quá lo lắng. Nên lưu ý ho là một phản xạ rất tốt để bảo vệ phổi ở trẻ, do đó không nên quá lo lắng và tự tiện cho bé uống thuốc chống ho, nhất là ở trẻ dưới 1 tuổi.
Không nên chủ quan

Những triệu chứng thường gặp như ho, sốt, nôn, sổ mũi, biếng ăn nhưng là biểu hiện của rất nhiều bệnh lý ở trẻ nhỏ, do đó không nên quá chủ quan. Có nhiều bà mẹ thấy triệu chứng bé giống như lần trước và đôi khi người lớn vì quá bận rộn nên không đưa bé đi khám được nên tự động dùng theo đơn thuốc cũ, đến khi tự chữa mãi không khỏi phải vào viện thì bé đã bị viêm phổi nặng.

Để đề phòng, các bà mẹ nên giữ vệ sinh sạch sẽ nơi ăn ngủ của bé, giữ ấm cho bé, tiêm chủng đầy đủ cho bé theo lịch tiêm chủng, cho bú sữa mẹ sớm (ngay sau sinh nửa giờ). Tập thói quen cần cho bé ăn nhiều trái cây, rau quả để hệ miễn dịch trong cơ thể của bé hoạt động hữu hiệu hơn, ít mắc bệnh đường hô hâp hơn.

Bác sĩ  Nguyễn Thị Thanh

Theo suckhoedoisong

Hội chứng ngưng thở lúc ngủ

Hội chứng ngưng thở lúc ngủ là một bệnh lý rất thường gặp hiện nay nhưng rất khó nhận ra nếu không có sự tư vấn của chuyên gia về giấc ngủ và các thiết bị y tế chuyên dụng Hội chứng ngưng thở lúc ngủ (HCNTLN) là ngưng thở hoàn toàn trong khoảng 10 – 30 giây trong khi ngủ và nhiều hơn 30 lần/đêm.

Hội chứng này có ba loại

HCNTLN tắc nghẽn: là một tình trạng ngáy nặng với những đợt ngưng thở liên tiếp trong khi ngủ do đường hô hấp trên bị tắc nghẽn một phần hay toàn phần.

HCNTLN trung ương: khi tín hiệu điều khiển hô hấp từ não bị chậm lại trong các trường hợp tổn thương não.

HCNTLN hỗn hợp: gồm cả hai loại trên.

Triệu chứng

ngung-tho-khi-ngu

Các triệu chứng của bệnh này là: về ban đêm thì ngáy to, ngưng thở về đêm, giấc ngủ không yên, vã mồ hôi trong đêm, bật dậy trong đêm vì cảm giác ngộp thở, tiểu đêm nhiều lần; về ban ngày hay nhức đầu vào buổi sáng, buồn ngủ ban ngày quá mức, giảm trí nhớ, có triệu chứng trầm cảm, giảm ham muốn tình dục…

Tuy vậy việc nhận biết HCNTLN không dễ vì khi có những triệu chứng trên thì bệnh nhân thường là không đến tư vấn chuyên gia giấc ngủ ngay từ đầu, mà sẽ đến gặp bác sĩ tai mũi họng khi amidan lớn, vẹo vách ngăn; đến gặp bác sĩ nội tổng quát khi bị mệt mỏi, hai mắt đỏ, ướt; hay đến gặp bác sĩ tiết niệu vì giảm ham muốn tình dục…

Hậu quả

Hậu quả của bệnh: gây mệt mỏi khi thức dậy, trầm cảm. Nguy cơ bị cao huyết áp do thiếu oxy loạn nhịp tim, tai biến mạch máu não, giảm ham muốn tình dục… Đồng thời gây hậu quả nặng nề về tâm lý xã hội, buồn ngủ dễ gây tai nạn lao động, lái xe…

Phương pháp chẩn đoán

Đầu tiên bệnh nhân sẽ được cho trả lời bản câu hỏi tầm soát. Nếu nghi ngờ hay có triệu chứng của HCNTLN thì bệnh nhân sẽ được đo đa ký giấc ngủ hay đo đa ký hô hấp (đo trong một đêm giá là 2 triệu đồng). Nếu số lần ngưng thở trên 30 lần/đêm thì đã bị HCNTLN.

Phương pháp điều trị

Có ba phương pháp:

– Dùng dụng cụ đưa hàm dưới ra trước và hệ thống trụ nâng khẩu cái: chi phí thấp từ 1 – 1,5 triệu đồng/cái. Dùng cho bệnh nhân nhẹ và vừa.

– Phẫu thuật: UPPP (Uvulo palatopharyngoplasty) – cắt bỏ một phần khẩu cái mềm, lưỡi gà và hạnh nhân để mở rộng đường thở; LAUP (Laser Assisted Uvuloplatoplasty) – phẫu thuật cắt lưỡi gà cái bằng laser. Tuy nhiên phương pháp phẫu thuật này chỉ có tỷ lệ thành công là 50%.

Phương pháp chính là dùng máy thở áp lực dương liên tục (CPAP). Máy sẽ cung cấp một luồng khí áp dương qua một mặt nạ để giữ đường thở mở rộng trong khi ngủ giúp cho nhịp thở trở nên đều đặn, ngưng ngáy. Máy có giá từ 1.000 – 2.000 USD. Bệnh nhân có thểthuê máy để điều trị tại nhà nếu không đủ tiền mua.

Ngoài ra cần phải tổ chức lại giấc ngủ (ngủ tối thiểu 7 giờ/ngày), giảm cân để tránh vòng cổ to nên gây ngáy và tắc nghẽn khi ngủ. Thay đổi lối sống lành mạnh, hạn chế rượu, bia, thuốc lá, nằm nghiêng khi ngủ, quay đầu giường lên cao 10cm, tránh nằm gối cao, có thể đeo nẹp cổ đưa cằm ra trước… cũng góp phần điều trị bệnh nhanh.

BS Nguyễn Xuân Bích Huyên – Nguyên trưởng khoa hô hấp bệnh viện Chợ Rẫy

(Theo SGTT)

Tìm hiểu kỹ hơn về những bệnh hô hấp

Phòng bệnh các khoa hô hấp tại các bệnh viện (BV) nhi ở TP.HCM chật cứng với 3, 4 bé nằm chung giường, nhiều phụ huynh phải tìm chỗ nằm cho con ở lối đi hai hành lang.

Tận dụng chút diện tích ít ỏi ở hành lang khoa Hô hấp, BV Nhi đồng 1 TP.HCM, anh Quân (45 tuổi, ở Long An) phải vừa quạt vừa dỗ con là bé Minh Khôi (31 tháng tuổi) nín khóc. Nhập viện hai ngày trước để điều trị suyễn nhưng vì phòng bệnh đã quá tải nên anh phải kiếm một chỗ ngoài hành lang để cho con nằm.
Ngày 12.8, khoa Hô hấp, BV Nhi đồng 1 vẫn “nghẹt thở” với số bệnh nhi đang nằm điều trị lên đến 355 trẻ trên tổng số 100 giường. Trung bình một ngày có 40 – 50 bệnh nhi nhập viện, tăng gấp đôi so với những ngày thường.

truyen-nhiem-ho-hap-cap

Các bệnh hô hấp nhập viện điều trị chủ yếu là viêm tiểu phế quản và viêm phổi. Ngoài ra, trẻ bị suyễn nhập viện gia tăng, có nhiều trường hợp bị suyễn nặng. Trong khi đó, BV Nhi đồng 2 cũng trong tình trạng quá tải. Bác sĩ (BS) Trần Thị Thu Loan, Trưởng khoa Hô hấp, BV Nhi đồng 2 cho biết, bệnh hô hấp đang vào mùa, số lượng trẻ nhập viện tại khoa đang gia tăng mạnh. Tính chung trẻ điều trị thường và nằm dịch vụ thì khoa Hô hấp hiện có khoảng 400 trẻ đang nằm viện nhưng chỉ có 150 giường bệnh, tăng gấp đôi so với những ngày bình thường.
Cũng theo các BS, từ tháng 8, bệnh hô hấp vào đợt cao điểm, đến tháng 10 bệnh sẽ tăng lên đỉnh điểm nên tình trạng quá tải sẽ còn kéo dài.
BS Trần Anh Tuấn, Trưởng khoa Hô hấp, BV Nhi đồng 1 cho biết, để giảm sức ép quá tải, BV tăng cường điều trị ngoại trú và lọc bệnh phòng khám để sàng lọc các trường hợp nhập viện, giảm quá tải cho một số khoa như khoa hô hấp. Toàn BV, chỉ có khoảng 5% bệnh nhi được sàng lọc để nhập viện trong tổng số khám tại phòng khám. Hiện, BV lên phương án chuyển bớt bệnh nhi hô hấp thể nhẹ qua các khoa khác hỗ trợ thêm.
Để ý dấu hiệu nguy hiểm
Theo BS Loan, thời tiết chuyển từ nắng qua mưa nhiều là điều kiện thuận lợi để vi rút, vi trùng sinh sôi nhiều, ảnh hưởng đến sức đề kháng của trẻ làm bé khó thích nghi, dễ mắc các bệnh về đường hô hấp. Ngoài ra, mùa này trẻ nhập học trở lại nên khả năng lây lan bệnh cao hơn.

BS Tuấn lưu ý, với trẻ dưới 2 tháng tuổi, khi thấy trẻ có biểu hiện bỏ bú, bú kém (bú ½ lượng sữa bình thường trẻ bú), ở trẻ lớn hơn 2 tháng tuổi nếu không uống được, nôn tất cả mọi thứ trẻ ăn, ngủ li bì khó đánh thức thì cần nhanh chóng đưa trẻ nhập viện. Nếu trẻ ho kéo dài hơn 1 tuần, khó thở, thở nhanh hơn bình thường hoặc thở co lõm lồng ngực thì nên đưa trẻ đi khám ngay. BS Tuấn khuyên, phải giữ ấm trẻ đúng mức và linh hoạt, giữ ấm khi trời lạnh và tạo cảm giác thoáng mát khi trời nắng trở lại. Phụ huynh cần sử dụng quạt máy đúng cách, vệ sinh nhà cửa sạch sẽ, vệ sinh tay sạch sẽ khi chăm sóc trẻ.
Mặt khác, không nên cho trẻ nhỏ, đặc biệt trẻ dưới 2 tháng tuổi tiếp xúc với người bị cảm ho, dù là cảm ho thông thường. Nếu vi rút lây cho trẻ dưới 2 tuổi thì nguy cơ trẻ bị viêm tiểu phế quản là rất lớn, nếu trẻ sơ sinh bị viêm tiểu phế quản thì có đến 50% trẻ phải nhập viện.
Bài, ảnh: Hà Minh
Theo TNO

Những “thủ phạm” chính khiến bạn bị viêm họng, amidan

Trong phần lớn các trường hợp viêm họng làm cổ họng người bệnh sưng, đỏ, rất đau và bệnh tình có thể kéo dài. Viêm họng là nguyên nhân chủ yếu của tình trạng đau họng.

Mình đang bị đau họng không biết có phải triệu chứng của viêm amidan không nữa. Mong bác sĩ chỉ giúp cách chữa giúp tôi để tôi nói chuyện và ăn uống bình thường được.

Đinh Thị Thu (huyenthu_111@yahoo.com.vn)

nhung-thu-pham-chinh-khien-ban-bi-viem-hong-amidan
Trả lời:

Chào bạn!

Viêm họng là bệnh mà khi đó họng và hầu bị viêm. Trong phần lớn các trường hợp viêm họng làm cổ họng người bệnh sưng, đỏ, rất đau và bệnh tình có thể kéo dài. Viêm họng là nguyên nhân chủ yếu của tình trạng đau họng.

Do nằm ở cửa ngõ đường thở nên amiđan rất dễ bị viêm nhiễm. Nguyên nhân gây viêm chủ yếu là bụi, khói than, hóa chất, sự thay đổi đột ngột về nhiệt độ và độ ẩm (những thay đổi này ảnh hưởng tới sức căng bề mặt màng tế bào biểu mô, khiến vi khuẩn, virus dễ xâm nhập amiđan).

Biểu hiện trước tiên là đau họng, sốt nhẹ, chảy nước mũi, hắt hơi kèm theo chảy nước mắt; 2 amiđan sưng to, vùng họng viêm đỏ. Xét nghiệm công thức máu thấy số lượng bạch cầu không tăng. Thủ phạm gây viêm trong những trường hợp này thường là virus cúm A, B, C hoặc á cúm (adeno, rhino, herpet).

Thông thường đau họng có rất nhiều nguyên nhân khác nhau. Bạn không cung cấp cụ thể triệu chứng đau của bạn như: thời gian đau, đau bao lâu, đau như thế nào, đau có kèm theo triệu chứng gì không (ví dụ triệu chứng ho, khó nuốt…), đặc điểm đau là gì (đau rát, đau vướng, nuốt nước bọt cũng đau…) Mỗi triệu chứng sẽ dẫn đến những chuẩn đoán bệnh khác nhau như viêm họng, viêm amidam…

Bạn cần để bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng khám đồng thời nội soi tai mũi họng để có kết luận chính xác.

Theo afamily

Đừng lạm dụng siro ho cho con

 Với tâm lý “cắt nhanh” cơn ho cho con, nhiều bậc phụ huynh đã lạm dụng siro ho mà không biết rằng điều này không mang lại hiệu quả cao như họ mong muốn.
Hở tí là… siro

Với tâm lý “cắt nhanh bệnh” cho con, tự lúc nào trong tủ lạnh nhà chị Hường (Quận 1, TP HCM) luôn để sẵn vài lọ siro trị ho. Cứ thấy con hơi húng hắng ho, chị lại cho bé uống đều đặn 5ml siro, tần suất 3 lần/ngày. Thời gian đầu chị thấy bé dứt cơn ho rất nhanh nhưng về sau, bé như nhờn thuốc, ho kéo dài thời gian hơn.

Mới đây, thấy con ho nhẹ kèm theo có đờm, sụt sịt mũi, con kêu đau họng, chị lại cho con uống siro long đờm chứa hoạt chất histamin nhưng với liều lượng tăng lên. Sau 1 ngày, bé lên cơ co thắt phế quản dữ dội, nôn trớ liên tục.
shi-ro-ho
Một trường hợp khác, bé Xíu được cả gia đình chị Cúc (Nguyễn Hữu Huân, Hà Nội) “nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa”. Mọi biểu hiện khác lạ ở con, chị Cúc đều để ý, lo lắng. Là một bà mẹ yêu thương con song chị lại mắc bệnh… hay lo lắng, đôi khi là thái quá.

Lý do cũng vì trước đây khi Xíu tròn 1 tuổi, vì bất cẩn cho con nằm trong phòng điều hòa nhưng không lau mồ hôi cẩn thận, chị Cúc đã để con bị viêm phổi. Nhìn con ốm yếu lại phải uống kháng sinh liên tục, con gầy đi vì sợ thuốc đắng, chị xót xa lắm.

Suốt từ hồi đó tới bây giờ chị luôn đề cao cảnh giác, nhưng sự lo lắng thái quá của chị lại khiến chị sai lầm trong việc chăm sóc sức khỏe của con. Nghe bạn bè bảo, chị mừng rỡ khi biết nếu con ho hắng, sụt sịt, để phòng ngừa thì khi “chớm bị” nên cho bé uống ngay siro, thuốc lành lại dễ uống có vị ngọt. Quả nhiên, bé Xíu thích uống thuốc này thật và thuốc cũng có hiệu quả nhanh chóng.

Thế nhưng đợt ho gần đây, dù uống thuốc đã được một tuần nay, bé vẫn ho, thậm chí ho dữ dội hơn. Đi khám bệnh, chị mới biết con bị ho kéo dài là do mẹ lạm dụng siro dài ngày trong khi con vẫn bị ra mồ hôi trộm.

Cha mẹ không nên lạm dụng siro ho mà nên chăm chỉ rửa mũi sạch cho con

Trả lời về vấn đề này, bác sĩ Philippe Collin, Khoa Nhi, Bệnh viện Việt Pháp cho biết, ho là một phản xạ sinh lý hết sức bình thường có tính chất bảo vệ cơ thể trẻ. Ho giúp cơ thể thực hiện loại bỏ các chất xuất tiết từ đường hô hấp, ho giúp con long đờm, nuốt vào trong hoặc khạc ra bên ngoài được dễ dàng.

Siro ho không phải là biện pháp hiệu quả giúp con nhanh chóng dứt cơn ho, loại thuốc này một phần kê cũng chỉ để giải quyết vấn đề tâm lý cho bố mẹ của trẻ. Ở Pháp và Châu Âu từ lâu đã không còn bán những loại siro như thế này nữa, bởi nó không còn mang hiệu quả cao mà nếu có thì nó chỉ có tác dụng làm ngưng ho, cản trở việc bài tiết đờm… Điều này hoàn toàn không tốt chút nào với sức khỏe của trẻ, vì nếu dùng thuốc để ức chế ho, trẻ không ho được sẽ khiến đờm ứ đọng, tắc nghẽn trong đường thở, làm trẻ khó thở và có thể dẫn tới nguy cơ xấu với sức khỏe của trẻ.

Ho đi kèm với các triệu chứng viêm mũi họng, đặc biệt là chảy nước mũi ở trẻ.

Nếu ho được, trẻ sẽ giảm nhanh các triệu chứng khò khè ở đường hô hấp trên. Tiếng khò khè thực chất là do trẻ hít thở khó khăn mà tạo thành. Do hệ hô hấp chưa thực sự hoàn thiện nên trẻ rất hay gặp những bệnh hô hấp phía trên. Khi có đờm, người lớn có thể khạc nhổ ra được nhưng trẻ nhỏ thì chưa biết cách nên luôn có đờm trong họng.

Để giảm thiểu những cơn ho kéo dài của con, cha mẹ nên đảm bảo không gian thoáng đãng cho trẻ, tuyệt đối không hút thuốc trong nhà. Nếu trẻ có dấu hiệu ho kéo dài, tốt nhất bậc phụ huynh nên đưa trẻ đi khám chuyên khoa để chẩn đoán chính xác và để điều trị kịp thời giúp trẻ nhanh khỏi bệnh.

Theo ttvn

Viêm VA ở trẻ nhỏ – chớ coi thường

Viêm VA (Vésgétations Adénoides) là bệnh lý thường gặp ở trẻ nhỏ từ 1 đến 5 tuổi. Tỷ lệ viêm VA chiếm khoảng 20-30% trong số các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp trên. Bệnh hay tái phát và thường gây biến chứng như viêm tai giữa, viêm mũi xoang, viêm phế quản tái phát, gây tắc nghẽn đường thở kéo dài ảnh hưởng đến sự phát triển sọ mặt của trẻ. Bệnh tuy không nguy hiểm đến tính mạng nhưng gây nhiều phiền phức và ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển của trẻ.

Vị trí và vai trò của VA trong cơ chế miễn dịch

VA là tổ chức lymphô nằm ở vòm mũi họng thuộc vòng bạch huyết Waldayer. Bình thường mọi trẻ em đều có VA từ khi sinh ra, VA phát triển mạnh từ 1-5 tuổi, sau đó teo đi khi trẻ lớn lên.

VA là mô lympho lớn thứ 2 sau Amidan khẩu cái trong vòng bạch huyết Waldayer. VA nằm ở vòm họng gần cửa mũi sau, có nhiều thùy, nhiều lá để làm tăng diện tiếp xúc của VA với không khí thở vào. VA chứa nhiều bạch cầu, khi vi khuẩn xâm nhập từ không khí thở vào, chúng sẽ bám vào các thùy, các lá của VA, ở đó có chứa nhiều tế bào lympho B, chúng có nhiệm vụ giữ các vi khuẩn, sau đó vi khuẩn được nhận diện và cơ thể sẽ tiết ra chất chống lại gọi là kháng thể. Nhiệm vụ miễn dịch của VA tuy không lớn như vai trò của Amidan khẩu cái nhưng rất cần thiết cho trẻ từ 6 tháng đến 3 tuổi, trẻ dưới 6 tháng tuổi thì sử dụng lượng kháng thể do mẹ truyền sang trong quá trình mang thai và trong sữa mẹ.

viem-VA-cho-coi-thuong-o-tre-nho

Các biểu hiện và nhận biết khi trẻ viêm VA

Vi khuẩn trong VA rất đa dạng và phong phú. Chúng xâm nhập vào đường thở từ lần thở đầu tiên sau khi trẻ cất tiếng khóc chào đời, và thường sống cộng sinh, có thể gây bệnh hoặc chưa gây bệnh cho trẻ. Vi khuẩn được chia làm nhiều nhóm: vi khuẩn ái khí, vi khuẩn kị khí và siêu vi khuẩn… là những  tác  nhân gây viêm VA cấp hoặc mạn tính.

Viêm VA cấp:

Trẻ thường sốt trên 38 độ, có trường hợp sốt cao 39 – 40 độ, có thể kèm dấu hiệu kích thích hoặc co giật, quấy khóc, khó chịu, trẻ bị ngạt tắc mũi và thường bị hai bên, ngạt tăng khi nằm, trẻ phải há miệng để thở, bỏ ăn, bỏ bú, nôn trớ. Sau đó trẻ xuất hiện chảy mũi, chảy mũi cả hai bên, lúc đầu dịch nhầy sau dịch đặc dần, trắng đục, số lượng tặng nhiều hơn. Một số bé có biểu hiện rối loạn tiêu hoá như đau bụng, nôn trớ và đi ngoài phân lỏng. Thăm khám bác sĩ thấy mũi nhiều mủ, niêm mạc mũi xung huyết đỏ, khám họng thấy niêm mạc họng đỏ, có nhiều mủ nhầy trắng chảy từ vòm họng xuống. Khám tai thường thấy màng tai xung huyết. Khám nội soi thấy khối VA viêm to, đỏ bề mặt có nhiều mủ nhầy bám. Có trường hợp VA viêm quá phát che kín gần hoàn toàn cửa mũi sau. Màng tai cũng dễ dàng được đánh giá khi khám nội soi.

Viêm VA mạn tính:

Là tình trạng quá phát hoặc xơ hoá của VA sau nhiều đợt viêm bán cấp tính. Trẻ chảy mũi thường xuyên, khi nhiều khi ít, khi dịch trong khi dịch đục và có nhiều khi chảy mũi xanh kéo dài. Trẻ thường ngạt mũi phải thở miệng, ngủ không ngon giấc hay hoảng hốt, giật mình, đái dầm, thậm chí có trường hợp trẻ ngủ ngáy và có những cơn ngừng thở khi ngủ, trẻ sốt nhẹ hoặc không sốt. Cơ thể chậm phát triển so với cùng lứa tuổi, trẻ thường gầy xanh, chậm phát triển về vận động, chậm phát triển về ngôn ngữ vì trẻ nghe kém do viêm tai thanh dịch và hay mắc các bệnh lý khác về nhi khoa. Khi thăm khám thấy mũi có nhiều dịch nhày đục hoặc mủ vàng xanh, VA to che kín cửa mũi sau hoặc nhỏ hơn nhưng viêm đỏ và có nhiều dịch nhầy bám, khám tai màng tai thường dày, đục hoặc viêm tai thanh dịch.

Viêm VA có nguy hiểm không ?

Viêm VA thường không nguy hiểm đến tính mạng của trẻ nhưng bệnh thường tái phát và hay gây các biến chứng:

Biến chứng ở tai

Đây là nhóm biến chứng thường gặp nhất như viêm tai giữa cấp, viêm tai thanh dịch có thể gây viêm xương chũm cấp do quá trình viêm lan vào tai thông qua lỗ vòi tai, vì vậy cần chú ý khám tai khi trẻ có viêm VA. Sau điều trị viêm VA, các dấu hiệu ho, sốt, chảy mũi có thể giảm hoặc hết nhưng viêm tai thanh dịch vẫn còn, bệnh thường tiến triển âm thầm dễ bị bỏ qua do trẻ không đau tai, khó phát hiện dấu hiệu nghe kém, bệnh lâu dần sẽ chuyển thành viêm tai xẹp, ảnh hưởng nhiều đến sức nghe của trẻ.

Biến chứng ở mũi xoang:

Viêm xoang sàng cấp xuất ngoại là một thể nặng của viêm xoang trẻ nhỏ, quá trình viêm ở xoang sàng  có thể lan vào mắt gây các biến chứng ở ổ mắt, nếu không điều trị kịp thời có thể gây mù. Những trường hợp này đều phải nhập viện để mổ cấp cứu dẫn lưu mủ trong xoang và trong ổ mắt ra ngoài, bệnh nhân có thể phải nằm viện dài ngày.

Biến chứng dường hô hấp dưới như viêm thanh quản, khí quản, phế quản, viêm phổi tái diễn, nhiều trẻ phải nhập viện điều trị.

VA quá phát gây ngủ ngáy và ngừng thở khi ngủ thường phối hợp với viêm amidan quá phát. Nếu trẻ ngủ ngáy và có nhiều cơn ngừng thở sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ và có thể gây bệnh lý ở cơ quan tim mạch và hô hấp.

Viêm VA mạn tính có thể gây biến dạng sọ mặt và trẻ có “Bộ mặt VA” với biểu hiện: Trẻ mặt nhỏ, miệng há, hàm trên nhô ra, hàm dưới dài, răng hàm trên mọc lởm chởm, trẻ có vẻ mặt ngây ngô. Ngoài ra trẻ có thể bị biến dạng lồng ngực hoặc cột sống…

Khi nào thì nạo VA cho trẻ?

Trong đợt viêm cấp tính: Điều trị nội khoa bằng kháng sinh nhóm cephalosporin thế hệ 1, thế hệ 2 hoặc nhóm macrolide. Phối hợp với thuốc hạ sốt, thuốc loãng dịch nhầy, thuốc giảm viêm, có thể khí dung mũi họng bằng thuốc. Việc rửa mũi và hút mũi rất quan trọng vì nó loại bỏ mủ và dịch viêm khỏi mũi làm trẻ dễ thở và bệnh mau khỏi, các bà mẹ hoặc người chăm trẻ cần tư vấn bác sĩ tai mũi họng để biết cách rửa mũi, vệ sinh mũi trong giai đoạn bị bệnh và vệ sinh hàng ngày.

Nạo VA được đặt ra trong các trường hợp: Viêm VA mạn tính có nhiều đợt viêm cấp trong năm; Viêm VA gây biến chứng ở tai như viêm tai giữa, viêm tai thanh dịch, viêm nhiễm đường hô hấp tái diễn; Viêm VA quá phát gây ngủ ngáy, có cơn ngừng thở khi ngủ… Tuổi nạo VA chỉ định khi trẻ trên 1 tuổi.

Các phương pháp nạo VA

Nạo VA gây tê:

Là phương pháp được áp dụng rộng rãi trong thế kỷ trước, đơn giản, chi phí ít, dễ triển khai nên có thể nạo VA tại các bệnh viện huyện hoặc trung tâm y tế. Tuy nhiên phương pháp này ít nhiều gây sang chấn tâm lý ở trẻ và một số trường hợp không nạo được tối đa tổ chức VA do VA quá to hoặc VA lan vào cửa mũi sau. Phương pháp này hiện nay vẫn được áp dụng ở tuyến cơ sở.

Nội soi nạo VA gây mê nội khí quản:

Có thể dùng thìa nạo, lưỡi cắt hút Hummer, coblator… Phương pháp này có nhiều ưu điểm  là phẫu thuật viên có thể quan sát toàn bộ VA qua hệ thống nội soi và với thiết bị cắt hút bác sĩ có thể lấy tối đa tổ chức VA ngay cả khi VA rất to và phát triển lấn vào cửa mũi sau. Các phương pháp này đang được áp dụng tại BV Tai Mũi họng TW và tại khoa tai mũi họng của một số BV Trung ương và BV tuyến tỉnh.

Phương pháp phòng bệnh và chăm sóc sức khỏe

Để hạn chế tần xuất tái phát của bệnh cũng như các biến chứng do viêm VA gây nên, các bà mẹ có trẻ nhỏ cần hiểu biết về bệnh lý viêm VA trong nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, biết cách vệ sinh mũi cho trẻ, đưa trẻ đi khám kịp thời để được điều trị sớm và phòng tránh các biến chứng có thể xảy ra. Thực hiện tiêm phòng đầy đủ và đúng phác đồ, chú ý đến các loại vacxin dự phòng các bệnh lây nhiễm theo đường hô hấp để đảm bảo sức khỏe cho con cái của mình và cộng đồng.

ThS. Lê Anh Tuấn

Theo SKDS

Làm gì khi trẻ hay bị ho hen

 Hỏi: Con cháu được 4 tuổi, khi thời tiết chuyển mùa thường xuyên bị ho viêm họng nhưng không sốt. Nhưng lại có cơn rít như hen. Vậy cháu phải làm gì để ngăn được bệnh này?

Trả lời: Cháu thường bị triệu chứng trên do cơ địa của cháu mẫn cảm với thời tiết. Để phòng ngừa tình trạng này phải mang khẩu trang khi ra đường và giữ ấm cổ họng… Ngoài ra bạn nên vệ sinh mũi hàng ngày cho cháu.

kienthucseo.edu.vn-deo-khau-trang
Nếu cháu bị cơn rít như hen, bạn nên đưa cháu đi khám để biết chắc cháu có thực sự bị hen hay không. Từ đó có biện pháp điều trị phù hợp và kịp thời, tránh những hậu quả nguy hiểm cho cháu như khó thở thậm chí có thể ngưng thở.

Theo kiến thức

Trẻ suyễn có nên kiêng ăn?

 Chăm sóc sức khỏe cho người bình thường đã khó, dinh dưỡng hợp lý lại là một việc khó hơn, đặc biệt là đối với trẻ bị suyễn. BS.CKII Nguyễn Thị Hoa (khoa Hô hấp, BV Nhi Đồng I) cho biết:
Suyễn là một bệnh mãn tính nên vấn đề dinh dưỡng phải thay đổi sao cho phù hợp với lúc không bệnh, lúc lên cơn. Dựa vào đặc điểm của bệnh: dễ kích ứng với môi trường (bụi, không khí…), khởi phát không báo trước (khó thở, thở nhanh)… để chúng ta có thực đơn hợp lý tránh suy dinh dưỡng lẫn béo phì cho trẻ.

Đối với trẻ, lúc không bệnh (chưa có những đợt kích phát) nên có chế độ ăn theo lứa tuổi. Trong giai đoạn trẻ sơ sinh (nhỏ hơn 6 tháng tuổi) thì sữa mẹ vẫn là tốt nhất. Tuy nhiên, vì một số lý do, người mẹ không có sữa hoặc trẻ không chịu bú thì cũng nên linh hoạt cho trẻ dùng sữa thay thế (khoảng 150mg/kg/ngày). Những loại thực phẩm cho trẻ ăn dặm như bột, cháo, ya-out cũng cần kết hợp với sữa để trẻ không bị suy dinh dưỡng hoặc béo phì.
suyen
Khi trẻ lên cơn suyễn, không nên cho trẻ ăn bất kì loại thực phẩm nào để tránh trẻ bị sặc. Ngoài ra, nên bù nước đặc biệt là đối với trẻ nhỏ. Để hạn chế trẻ bịsuy dinh dưỡng, cha mẹ cần lưu ý cho trẻ ăn nhiều bữa và thực phẩm chứa nhiều chất béo. Kiêng cữ tất cả các loại thức ăn gây dị ứng, tăng nguy cơ kích phát cơn hen.

Bốn nhóm thực phẩm cần thiết: bột đường, sữa đạm, dầu ăn chất béo, rau quả phải được kết hợp trong một bữa ăn với số lượng một/một. Một chén cháo hoặc bột ít nhất cần đảm bảo bốn nhóm thực phẩm kể trên với một muỗng canh thịt bằm nhuyễn, một muỗng canh dầu ăn và một muỗng canh rau xắt hạt lựu.

Việc kiêng cữ thức ăn ảnh hưởng ít nhiều bởi yếu tố dị ứng di truyền từ bố, mẹ, anh, chị em, người thân trong gia đình. Qua thực tế, những trường hợp ghi nhận được thì thức ăn dễ gây dị ứng gồm: trứng, các loại hạt (đậu phộng), hải sản, lúa mì, rượu đỏ; những thực phẩm sinh lưu huỳnh như coca, thức ăn chiên bằng dầu ăn đã sử dụng trước đó…

Để giảm nguy cơ mắc suyễn, BS Hoa khuyên: Đối với các bà mẹ có trẻ ít nguy cơ dị ứng nên cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, không cho ăn dặm sớm trước 6 tháng tuổi, ăn ít muối. Đối với trẻ có nguy cơ dị ứng cao (có người thân bị dị ứng) cần kiêng cữ những thực phẩm dị ứng gây suyễn, hạn chế thức ăn mới, bú bình…

Theo kiến thức