Tag Archives: bệnh hay gặp

Bệnh hay gặp ở phụ nữ trung niên

Phụ nữ khi bước vào tuổi trung niên thường gặp những bệnh bỗng từ đâu đến khiến họ bối rối và khó khăn khi xử trí. Ðó là những cơn bốc hỏa đột ngột, chân tay nhức mỏi thường xuyên, đau đầu triền miên, hay bị hồi hộp, khó thở…

Loãng xương

Loãng xương là căn bệnh không gây chết người, nhưng là mối đe dọa đến chất lượng cuộc sống của hàng triệu phụ nữ trên thế giới. Tuổi mãn kinh, phụ nữ rất dễ bị loãng xương, đặc biệt những người nhỏ bé, người tiền căn gia đình bị loãng xương, mãn kinh sớm hay bị cắt buồng trứng. Khi bị loãng xương rất dễ dẫn đến nguy cơ gãy xương hông, xương đùi, cổ xương đùi, xương cẳng chân, bị đau lưng và còng lưng do cột sống bị sụp. Loãng xương còn làm mất khả năng vận động tự nhiên của cơ thể, từ đó gây khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày. Nguyên nhân gây loãng xương thường do chế độ ăn uống thiếu dưỡng chất, đặc biệt thiếu canxi và vitamin D. Ngoài ra, phụ nữ hút thuốc lá, uống rượu, sử dụng thuốc có chứa chất steroid… cũng dễ bị loãng xương.

Phòng ngừa: Cần có chế độ ăn uống tăng canxi ngay từ tuổi vị thành niên, vận động và tập thể dục vừa sức, đồng thời tránh các yếu tố nguy cơ như hút thuốc, uống rượu, dùng thuốc corticoid. Nên bổ sung 1.000mg canxi và 200 – 4.000 IU (đơn vị quốc tế) vitamin D để giúp xương phát triển tốt, nhất là từ nguồn thực phẩm, thức ăn hàng ngày. Nên dùng sữa có hàm lượng chất béo thấp (3 cốc/ngày). Việc khám sức khỏe định kỳ là hết sức cần thiết với phụ nữ trung niên. Để sống khỏe mạnh ở tuổi mãn kinh, cần giữ cân nặng bình thường, ổn định huyết áp, giảm mỡ máu, vận động nhiều, ăn ít chất béo, tăng cường rau xanh, trái cây, chất xơ, tập thể dục đều đặn.

benh-hay-gap-o-phu-nu-trung-nien-1

Hội chứng tiền mãn kinh

Người phụ nữ trong thời kỳ phát triển, cơ thể liên tục tiết ra estrogen – nội tiết tố nữ – để tạo ra các đặc tính của phái nữ. Sang tuổi mãn kinh, buồng trứng trong cơ thể phụ nữ không phát triển, nội tiết tố không tiết ra nữa, bắt đầu thiếu hụt estrogen. Vùng khung chậu bị ảnh hưởng, rất dễ sinh ra các bệnh viêm âm đạo, ngứa âm hộ, rong kinh, âm đạo khô, giao hợp khó khăn…, có thể dẫn đến bệnh sa sinh dục, sa bàng quang, són tiểu. Thiếu estrogen cũng ảnh hưởng tới tâm thần kinh, tuyến nội tiết, hệ vận mạch, gây ra nhức đầu, mất ngủ, giảm trí nhớ, bị bốc hỏa từng cơn, chóng mặt, hồi hộp không lý do, đau nhiều nơi trên cơ thể, dễ cáu gắt, sinh ra những lo âu, dễ buồn tủi… Phòng ngừa: Có thể uống estrogen thay thế nội tiết buồng trứng khi mãn kinh để điều hòa cơ thể, song phải có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.

Ung thư vú

Đây là nỗi ám ảnh của phụ nữ tuổi trung niên – căn bệnh âm thầm mà rất nguy hiểm. Có tới 18% phụ nữ tuổi 40 chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú, tăng 77% ở tuổi trên 50. Ung thư vú là căn bệnh gây tử vong khá cao cho phụ nữ, đặc biệt là những phụ nữ có chế độ ăn uống nhiều chất béo. Những yếu tố làm tăng nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ trung niên: gia đình có mẹ hoặc chị em ruột bị ung thư vú, nguy cơ tăng gấp 3 – 5 lần; béo phì: nguy cơ gấp 3 lần; không cho con bú sữa mẹ hoặc không sinh con, hoặc có con đầu lòng quá muộn; dậy thì sớm và mãn kinh muộn.

Để phòng bệnh này, ngoài thực hiện lối sống lành mạnh; hạn chế thực phẩm chế biến quá kỹ, thực phẩm chứa nhiều đường, chất béo; không nên uống rượu, đồ uống kích thích, không hút thuốc lá; tăng cường luyện tập… chị em nên tự khám mỗi tháng xem có gì bất thường ở ngực, nhũ hoa… đồng thời cần được khám định kỳ ở các cơ sở y tế chuyên khoa mỗi năm một lần. Khi nhận thấy các triệu chứng như: sự thay đổi kích thước và hình dạng của vú, xuất hiện những khối u hay sưng tấy ở nách, chảy máu ở núm vú hay đau ngực… thì có thể là dấu hiệu ung thư vú, hãy nhanh chóng đến các cơ sở khám bệnh chuyên khoa để kiểm tra và điều trị khi khối u còn nhỏ.

Bệnh tim mạch

Ở độ tuổi sinh nở, hệ thống tim mạch của phụ nữ được bảo vệ bởi các hormon sinh dục nữ (estrogen), các hormon sinh dục này có tác dụng giảm hàm lượng cholesterol của cơ thể, bảo vệ thành mạch và tim. Khi đến tuổi tiền mãn kinh, lượng hormon sinh dục bị giảm đáng kể và bắt đầu giai đoạn bùng nổ các bệnh tim mạch (tăng huyết áp, bệnh mạch vành…) ở phái nữ với diễn biến rất phức tạp. Tuy nhiên, qua nghiên cứu người ta thấy rằng, liệu pháp hormon thay thế không thể giúp được phụ nữ ở tuổi mãn kinh phòng ngừa được sự phát triển của xơ vữa động mạch.

Ngoài sự thay đổi nội tiết, nguyên nhân khiến phụ nữ ở độ tuổi này mắc bệnh tim mạch nhiều hơn so với các độ tuổi khác và nhiều hơn nam giới là do tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường týp 2 cao hơn, hay bị các rối loạn tuyến giáp hơn, có nhiều vấn đề (áp lực) trong gia đình và công việc hơn so với nam. Hệ thống tim mạch ở phụ nữ cũng dễ bị tổn thương hơn khi có tác động của các tác nhân độc hại, ví dụ thuốc lá, rượu bia… Bệnh tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành ở phụ nữ diễn biến phức tạp hơn, hiệu quả chữa trị kém hơn (các phương pháp can thiệp mạch vành hiện đại như thông mạch vành bằng cách đặt stent, nong mạch và nối mạch thông đạt hiệu quả thấp ở phụ nữ), nên vấn đề phòng bệnh, phát hiện và chữa trị kịp thời các bệnh này là quan trọng hàng đầu.

Những biện pháp phòng ngừa bệnh tim mạch ở phụ nữ là giảm cân nếu bị thừa cân, luôn duy trì cân nặng ở mức hợp lý; không nên uống rượu bia, hút thuốc lá; tăng cường rèn luyện thể dục thể thao; chế độ ăn uống phải hợp lý; không ăn quá 5 – 6g muối/ngày; tăng cường ăn các thức ăn có chứa nhiều vitamin E, C, A, B6, B12, acid folic và axít béo không no Omega-3 để bảo vệ thành mạch máu trước nguy cơ hình thành các mảng xơ vữa; hạn chế ăn thịt mỡ, da động vật và các đồ ăn có chứa nhiều cholesterol như tim, gan động vật, bơ, kem, sôcôla; tăng số ngày ăn cá, đậu trong tuần, dùng dầu thực vật để chế biến thức ăn…; luôn kiểm soát hàm lượng cholesterol, glucoza trong máu và các chỉ số huyết áp ở mức độ cho phép; giảm căng thẳng thần kinh…

ThS. Hà Hùng Thủy

Theo SKDS

Bệnh hay gặp ở phụ nữ trung niên

Phụ nữ khi bước vào tuổi trung niên thường gặp những bệnh bỗng từ đâu đến khiến họ bối rối và khó khăn khi xử trí. Ðó là những cơn bốc hỏa đột ngột, chân tay nhức mỏi thường xuyên, đau đầu triền miên, hay bị hồi hộp, khó thở…

Loãng xương

Loãng xương là căn bệnh không gây chết người, nhưng là mối đe dọa đến chất lượng cuộc sống của hàng triệu phụ nữ trên thế giới. Tuổi mãn kinh, phụ nữ rất dễ bị loãng xương, đặc biệt những người nhỏ bé, người tiền căn gia đình bị loãng xương, mãn kinh sớm hay bị cắt buồng trứng. Khi bị loãng xương rất dễ dẫn đến nguy cơ gãy xương hông, xương đùi, cổ xương đùi, xương cẳng chân, bị đau lưng và còng lưng do cột sống bị sụp. Loãng xương còn làm mất khả năng vận động tự nhiên của cơ thể, từ đó gây khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày. Nguyên nhân gây loãng xương thường do chế độ ăn uống thiếu dưỡng chất, đặc biệt thiếu canxi và vitamin D. Ngoài ra, phụ nữ hút thuốc lá, uống rượu, sử dụng thuốc có chứa chất steroid… cũng dễ bị loãng xương.

Phòng ngừa: Cần có chế độ ăn uống tăng canxi ngay từ tuổi vị thành niên, vận động và tập thể dục vừa sức, đồng thời tránh các yếu tố nguy cơ như hút thuốc, uống rượu, dùng thuốc corticoid. Nên bổ sung 1.000mg canxi và 200 – 4.000 IU (đơn vị quốc tế) vitamin D để giúp xương phát triển tốt, nhất là từ nguồn thực phẩm, thức ăn hàng ngày. Nên dùng sữa có hàm lượng chất béo thấp (3 cốc/ngày). Việc khám sức khỏe định kỳ là hết sức cần thiết với phụ nữ trung niên. Để sống khỏe mạnh ở tuổi mãn kinh, cần giữ cân nặng bình thường, ổn định huyết áp, giảm mỡ máu, vận động nhiều, ăn ít chất béo, tăng cường rau xanh, trái cây, chất xơ, tập thể dục đều đặn.

benh-hay-gap-o-phu-nu-trung-nien

Hội chứng tiền mãn kinh

Người phụ nữ trong thời kỳ phát triển, cơ thể liên tục tiết ra estrogen – nội tiết tố nữ – để tạo ra các đặc tính của phái nữ. Sang tuổi mãn kinh, buồng trứng trong cơ thể phụ nữ không phát triển, nội tiết tố không tiết ra nữa, bắt đầu thiếu hụt estrogen. Vùng khung chậu bị ảnh hưởng, rất dễ sinh ra các bệnh viêm âm đạo, ngứa âm hộ, rong kinh, âm đạo khô, giao hợp khó khăn…, có thể dẫn đến bệnh sa sinh dục, sa bàng quang, són tiểu. Thiếu estrogen cũng ảnh hưởng tới tâm thần kinh, tuyến nội tiết, hệ vận mạch, gây ra nhức đầu, mất ngủ, giảm trí nhớ, bị bốc hỏa từng cơn, chóng mặt, hồi hộp không lý do, đau nhiều nơi trên cơ thể, dễ cáu gắt, sinh ra những lo âu, dễ buồn tủi… Phòng ngừa: Có thể uống estrogen thay thế nội tiết buồng trứng khi mãn kinh để điều hòa cơ thể, song phải có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.

Ung thư vú

Đây là nỗi ám ảnh của phụ nữ tuổi trung niên – căn bệnh âm thầm mà rất nguy hiểm. Có tới 18% phụ nữ tuổi 40 chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú, tăng 77% ở tuổi trên 50. Ung thư vú là căn bệnh gây tử vong khá cao cho phụ nữ, đặc biệt là những phụ nữ có chế độ ăn uống nhiều chất béo. Những yếu tố làm tăng nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ trung niên: gia đình có mẹ hoặc chị em ruột bị ung thư vú, nguy cơ tăng gấp 3 – 5 lần; béo phì: nguy cơ gấp 3 lần; không cho con bú sữa mẹ hoặc không sinh con, hoặc có con đầu lòng quá muộn; dậy thì sớm và mãn kinh muộn.

Để phòng bệnh này, ngoài thực hiện lối sống lành mạnh; hạn chế thực phẩm chế biến quá kỹ, thực phẩm chứa nhiều đường, chất béo; không nên uống rượu, đồ uống kích thích, không hút thuốc lá; tăng cường luyện tập… chị em nên tự khám mỗi tháng xem có gì bất thường ở ngực, nhũ hoa… đồng thời cần được khám định kỳ ở các cơ sở y tế chuyên khoa mỗi năm một lần. Khi nhận thấy các triệu chứng như: sự thay đổi kích thước và hình dạng của vú, xuất hiện những khối u hay sưng tấy ở nách, chảy máu ở núm vú hay đau ngực… thì có thể là dấu hiệu ung thư vú, hãy nhanh chóng đến các cơ sở khám bệnh chuyên khoa để kiểm tra và điều trị khi khối u còn nhỏ.

Bệnh tim mạch

Ở độ tuổi sinh nở, hệ thống tim mạch của phụ nữ được bảo vệ bởi các hormon sinh dục nữ (estrogen), các hormon sinh dục này có tác dụng giảm hàm lượng cholesterol của cơ thể, bảo vệ thành mạch và tim. Khi đến tuổi tiền mãn kinh, lượng hormon sinh dục bị giảm đáng kể và bắt đầu giai đoạn bùng nổ các bệnh tim mạch (tăng huyết áp, bệnh mạch vành…) ở phái nữ với diễn biến rất phức tạp. Tuy nhiên, qua nghiên cứu người ta thấy rằng, liệu pháp hormon thay thế không thể giúp được phụ nữ ở tuổi mãn kinh phòng ngừa được sự phát triển của xơ vữa động mạch.

Ngoài sự thay đổi nội tiết, nguyên nhân khiến phụ nữ ở độ tuổi này mắc bệnh tim mạch nhiều hơn so với các độ tuổi khác và nhiều hơn nam giới là do tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường týp 2 cao hơn, hay bị các rối loạn tuyến giáp hơn, có nhiều vấn đề (áp lực) trong gia đình và công việc hơn so với nam. Hệ thống tim mạch ở phụ nữ cũng dễ bị tổn thương hơn khi có tác động của các tác nhân độc hại, ví dụ thuốc lá, rượu bia… Bệnh tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành ở phụ nữ diễn biến phức tạp hơn, hiệu quả chữa trị kém hơn (các phương pháp can thiệp mạch vành hiện đại như thông mạch vành bằng cách đặt stent, nong mạch và nối mạch thông đạt hiệu quả thấp ở phụ nữ), nên vấn đề phòng bệnh, phát hiện và chữa trị kịp thời các bệnh này là quan trọng hàng đầu.

Những biện pháp phòng ngừa bệnh tim mạch ở phụ nữ là giảm cân nếu bị thừa cân, luôn duy trì cân nặng ở mức hợp lý; không nên uống rượu bia, hút thuốc lá; tăng cường rèn luyện thể dục thể thao; chế độ ăn uống phải hợp lý; không ăn quá 5 – 6g muối/ngày; tăng cường ăn các thức ăn có chứa nhiều vitamin E, C, A, B6, B12, acid folic và axít béo không no Omega-3 để bảo vệ thành mạch máu trước nguy cơ hình thành các mảng xơ vữa; hạn chế ăn thịt mỡ, da động vật và các đồ ăn có chứa nhiều cholesterol như tim, gan động vật, bơ, kem, sôcôla; tăng số ngày ăn cá, đậu trong tuần, dùng dầu thực vật để chế biến thức ăn…; luôn kiểm soát hàm lượng cholesterol, glucoza trong máu và các chỉ số huyết áp ở mức độ cho phép; giảm căng thẳng thần kinh…

ThS. Hà Hùng Thủy

Theo SKDS

Phòng chống bệnh hay gặp vào mùa đông

Mùa đông tiết trời lạnh, khí hậu lúc khô hanh, lúc lại ẩm ướt, kèm theo các cơn mưa phùn rả rích là điều kiện rất thuận lợi cho các vi khuẩn, virut gây bệnh sinh sôi và phát triển. Chính vì thế, mùa đông cũng là mùa mà tỉ lệ bệnh nhân phải nhập viện thường cao hơn các mùa khác. Trong vô số các bệnh phát tác mạnh vào mùa đông, thì các bệnh hô hấp, cúm hay gặp nhất.

phong-benh-hay-gap-trong-mua-dong

Mùa đông xuân là mùa mà các bệnh phổi – phế quản phát triển mạnh với sự “hậu thuẫn” của độ ẩm cao, khí áp thấp, nhiệt độ thấp, sức đề kháng của cơ thể bị suy giảm, các vi sinh vật phát triển thuận lợi… Các bệnh phổi – phế quản dễ phát triển trong mùa này là:

Hen phế quản: Hen phế quản làm hẹp đường thở, ảnh hưởng đến việc di chuyển không khí vào và ra phổi. Hen phế quản chỉ ảnh hưởng đến phế quản mà không ảnh hưởng đến phế nang và mô phổi. Phế quản của người bị hen rất nhạy cảm với mọi kích thích gây bệnh. Kích thích đó có thể là các dị nguyên từ bên ngoài như phấn hoa, hóa chất, bụi sinh vật, nấm, mốc, vi khuẩn, bụi vô cơ…, hay có nguồn gốc nội tại trong cơ thể người bệnh: các nội tiết tố, những thay đổi của môi trường bên trong cơ thể… Phòng tránh bệnh chủ yếu là phải loại trừ được các yếu tố gây bệnh như tránh lạnh, tránh bụi bậm, ký sinh vật, nấm mốc, phấn hoa… Điều trị bệnh phải nhanh, có hiệu quả, cắt được cơn hen trong thời gian ngắn nhất, không để cơn hen phát triển thành ác tính.

Viêm khí – phế quản cấp: Các tác nhân gây viêm khí – phế quản cấp mùa đông xuân thường là virut cúm, virut influenza A và B, các virut parainfluenza, virut hợp bào hô hấp, virut hạch, virut đường mũi và các loại khác. Phòng bệnh bằng cách giữ ấm, không để bị lạnh, có thể dùng kháng sinh chống bội nhiễm.

Viêm phổi: Yếu tố gây bệnh là S. pneumoniae, Mycoplasma pneumoniae, các virut hô hấp, Chlamydia pneumoniae, H. influenzae, trực khuẩn Gram (-) ái khí, tụ cầu vàng và các loại khác. Bệnh viêm phổi rất nguy hiểm đối với người cao tuổi và trẻ nhỏ vì sức đề kháng cũng như khả năng chịu lạnh kém. Việc phòng viêm phổi vì thế rất quan trọng. Ngoài giữ ấm, tránh lạnh, tránh ẩm, tránh gió lùa… nếu thấy có các triệu chứng như ho nhiều, sốt cao kéo dài, khó thở… bệnh nhân cần đến bệnh viện càng sớm càng tốt.

Đợt cấp của tâm phế mạn: Tâm phế mạn là bệnh tim do bệnh phổi mạn tính gây ra. Bệnh thường đột ngột trở nặng trong mùa lạnh. Tuy là bệnh tim nhưng do nguyên nhân phổi nên muốn khỏi bệnh cần điều trị chủ yếu về phổi, điều trị nhiễm khuẩn phổi.  Bệnh tâm phế mạn sau vài đợt cấp sẽ dẫn đến tử vong, do vậy, việc phòng chống không để xảy ra đợt cấp của tâm phế mạn mùa lạnh là vấn đề sống còn đối với người bệnh.

Suy hô hấp: Suy hô hấp mùa lạnh thường do nhiễm khuẩn, ở người có bệnh phổi – phế quản mạn tính, ở người nhiễm virut (cúm…). Suy hô hấp do nhiễm khuẩn điều trị đơn giản, hiệu quả hơn suy hô hấp ở người bị bệnh phổi mạn tính. Suy hô hấp sau cúm thường rất nặng, tử vong cao.

Giãn phế quản ướt là giãn phế quản xuất tiết, người bệnh ho khạc nhiều đờm. Mùa đông xuân là mùa giãn phế quản ướt biểu hiện rõ nhất. Nguyên nhân là thời tiết lạnh kích thích phế quản xuất tiết niêm dịch, ứ đọng trong các phế quản giãn là môi trường thuận lợi cho cho nhiễm khuẩn phát triển. Vì thế, trong bệnh này, chống lạnh, chống nhiễm khuẩn cần được đặc biệt chú ý.

Ho ra máu: Ho ra máu chịu ảnh hưởng rất nhiều của yếu tố thời tiết. Trong 3 yếu tố: độ ẩm, khí áp, nhiệt độ thì sự thay đổi về nhiệt độ và khí áp ảnh hưởng đến ho ra máu rõ rệt nhất. Phòng chống bệnh này chỉ có cách duy nhất là giữ ấm cơ thể, đặc biệt là vùng mũi, họng.

BS. Nguyễn Thanh Xuân

Nước tiểu trẻ màu vàng

 Con trai tôi 6 tháng tuổi, cháu nặng 8,5kg, cao 67cm. Thỉnh thoảng cháu đi nước tiểu rất vàng, tiểu ít. Điều này có đáng lo không?

Trả lời:

Cân nặng và chiều cao của cháu đạt chuẩn.

tieu-it
Cháu đi tiểu có màu vàng nếu không thường xuyên và không kèm theo mộtsố triệu chứng khác như sút cân, vàng da, hay quấy khóc… thì không đáng lo. Nước tiểu của trẻ có màuvàng có thể do trẻ uống thiếu nước hoặc bú chưa đủnên nước tiểu cô đặc hơn khiến trẻ tiểu ít, nước tiểu trông sậm màu.

Vì vậy, nếucháu còn bú chưa đủ cữ thì chị tăng cường cho cháu bú thêm. Nếu cháu ăn  hoàn toàn sữa ngoài thì mẹ cần đảm bảocho trẻ bú khoảng 150ml sữa /kg/ ngày. Ví dụ với cháu nặng 8,5 kg cần uống khoảng 1200-1300ml sữa/ngày.

Cha mẹ cần biết rằng, nguyên nhân nước tiểu của trẻ có màu vàng ngoàiuống thiếu nước còn có thể do ảnh hưởng bởi cácloại thuốc bé uống trực tiếp hoặc mẹ uống rồi cho con bú. Hoặc cũng có thể do thức ăn mẹ ăn có nhiềuchất phụ gia màu vàng thì trẻ bú mẹ cũng có nướctiểu màu sậm hơn.

Tuy nhiên, nếu trẻ đi tiểu màu vàng kèm vàng da, quấy khóc, sụt cân…thì có thể là bệnh lý của viêm gan, nghẽn đườngmật… cần cho trẻ đi làm xét nghiệm sớm.

Theo Afamily

Bệnh nhiễm trùng tiểu ở trẻ

Nhiễm trùng tiểu là bệnh lý gây ra do sự hiện diện của vi trùng trong nước tiểu, thường gặp là vi trùng E.coli.

E.coli là vi trùng của đường tiêu hóa, đi từ đường ruột là hậu môn sang lỗ tiểu ngoài, đi ngược dòng vào đường niệu. Nhiễm trùng tiểu còn có thể do nhiễm trùng huyết gây ra, vi trùng từ máu bệnh nhân bị nhiễm đi khắp cơ thể, đến đường niệu và gây nhiễm trùng tiểu. Dạng này rất nặng và nguy cơ cao.  Ở trẻ không bị bệnh thận hoặc tim, nên cho trẻ uống nhiều nước rải ra trong ngày.

Ngoài ra, bệnh nhi có sức đề kháng kém hoặc có dị dạng đường niệu thì dễ mắc nhiễm trùng tiểu hơn. Nhiễm trùng tiểu thường gặp ở trẻ gái nhiều hơn ở trẻ trai do niệu đạo ở trẻ gái ngắn hơn, vi trùng dễ dàng vào cơ thể và gây nhiễm trùng. Tương tự, đàn bà, phụ nữ cũng dễ mắc nhiễm trùng tiểu hơn đàn ông, nam giới.
nhiem-trung-duong-tieu-o-tre
Để có thể nhận biết bệnh, chúng ta cần lưu ý những dấu hiệu sau đây: Ở trẻ sơ sinh và trẻ nhủ nhi, triệu chứng thường không rõ ràng, do trẻ nhỏ không diễn tả và biểu hiện được cho chúng ta biết, nên cần tìm những dấu hiệu gián tiếp như sốt không rõ nguyên nhân, sốt kéo dài, bỏ bú, rối loạn tiêu hóa, không tăng cân hoặc vàng da kéo dài trong thời kỳ sơ sinh.

Nhiễm trùng tiểu rất nguy hiểm do biến chứng thường gặp là sẹo thận. Sau một đợt nhiễm trùng tiểu nặng hoặc nhiễm trùng tiểu tái phát nhiều lần, 10 đến 15% trẻ sẽ bị tổn thương ở thận dưới dạng sẹo thận. Sẹo thận có thể gây cao huyết áp và dẫn đến suy thận mãn sau này. Để phòng ngừa nhiễm trùng tiểu, ở trẻ nhỏ và trẻ gái, sau mỗi lần đi tiêu tiểu, nên rửa vệ sinh và lau chùi đúng cách. Lau chùi đúng cách có nghĩa là lau chùi từ trước ra sau, chứ không từ sau ra trước, do lỗ tiểu ở phía trước và hậu môn nằm phía sau. Động tác làm vệ sinh phải đúng cách để không đưa vi trùng từ đường tiêu hóa vào đường niệu. Ngoài ra, các bà mẹ nên thường xuyên kiểm tra tã lót và nên thay tã ngay sau khi bé tiêu tiểu.

Nhịn đi tiểu do e ngại hoặc không có chỗ đi vệ sinh rất nguy hiểm vì nước tiểu gồm các chất cơ thể cần thải ra ngoài, khi bị ứ lại trong bàng quang, các chất này sẽ là môi trường cho vi trùng dễ xâm nhập vào cơ thể và gây nhiễm trùng tiểu. Do vậy mà các khu vui chơi giải trí, trường học cần có nhà vệ sinh sạch sẽ, nguồn nước đầy đủ, giúp trẻ không phải nhịn tiểu do tâm lý ngại đi tiểu.

Khi trẻ ngại đi vệ sinh sẽ làm cho trẻ không dám uống nhiều nước, điều này rất hại cho cơ thể. Mỗi ngày cơ thể cần 1,5 – 2 lít nước cung cấp từ thức ăn và nước uống. Uống nhiều nước sẽ giúp thận thải tốt các chất bã, làn da sẽ tươi tắn hơn. Nên cho trẻ mang theo bình nước khi đi học hoặc đi chơi xa, cũng như khi vận động thể lực, trẻ cần nghỉ một chút và uống từng ngụm nước nhỏ. Khi ở trong phòng có máy lạnh, nên cho trẻ uống nhiều nước hơn do máy điều hòa không khí hút nước của cơ thể và làm khô da.

Lời khuyên của chúng tôi là ở trẻ bình thường, không mắc bệnh thận hoặc bệnh tim, thì nên cho trẻ uống nhiều nước, luôn luôn giữ nước tiểu thật trong và không nên nhịn đi tiểu.

Theo sức khỏe đời sống

Viêm tai xương chũm cấp ở trẻ nhỏ vì chủ quan

Viêm tai xương chũm cấp (VTXCC) là bệnh hay gặp ở trẻ nhỏ, nhất là khi trời nắng nóng, giao mùa như hiện nay. Các bác sĩ (BS) cho biết, đây là biến chứng của bệnh viêm tai giữa do không điều trị kịp thời hoặc điều trị không đúng cách.

Bệnh nặng vì chủ quan

Em N.N.B.M. (hai tuổi, ngụ Biên Hòa, Đồng Nai) vừa nhập viện tại Bệnh viện (BV) Nhi Đồng 2 (TP.HCM) trong tình trạng sốt, sưng rãnh sau tai bên trái nhưng không chảy mủ. Người nhà cho biết, trước đó bé bị sốt, chảy nước mũi, bề mặt rãnh sau tai sưng đỏ, nhưng không đưa đi khám mà chỉ mua thuốc cho bé uống. Sau ba-bốn ngày sốt cao, rãnh sau tai của bé M. sưng đỏ hơn, cảm giác đau nhiều hơn khi chạm vào.
viem-tai-xuong-chum-cap-o-tre-nho
BS Cao Minh Thức – Trưởng khoa Tai Mũi Họng, BV Nhi Đồng 2 cho biết, trường hợp của bé M. là viêm sào bào xương chũm cấp (hay còn gọi là VTXCC). Tuy nhiên, chính vì tai không bị chảy mủ nên nhiều phụ huynh chủ quan cho rằng bé chỉ bị sốt, chảy nước mũi thông thường như mọi khi mà bỏ qua các dấu hiệu của VTXCC như bề mặt rãnh sau sưng, nề đỏ.

Tại BV Nhi Đồng 1 (TP.HCM), em H.N.T.A. (17 tháng tuổi, ngụ Khánh Hòa) cũng nhập viện trong tình trạng sốt, rãnh sau tai sưng to. Theo anh Hồ Nghĩa Chiến – cha của bé A., cách đây một tháng, A. có biểu hiện sốt, rãnh sau tai sưng đỏ, đụng vào bé cứ khóc. Anh Chiến đưa con đến phòng khám gần nhà, BS cho biết bé bị viêm tai giữa và cho thuốc uống. Vài ngày sau, bé hết sốt, vết sưng cũng xẹp nên anh chủ quan không đưa bé đi tái khám đúng hẹn, khiến bệnh trở nặng.

Dễ tái phát

BS Cao Minh Thức cho biết, xương chũm là một khối xương nằm lồi gần ngay sau vành tai. Nguyên nhân gây bệnh thường gặp nhất là do bệnh viêm tai giữa không được điều trị hoặc điều trị không đúng cách như: người nhà không đưa đến BS chuyên khoa tai mũi họng khám kịp thời khi bé bị sốt, sổ mũi, đau tai; lỗ thủng không dẫn lưu được mủ; hoặc do mắc một số bệnh nhiễm trùng (sởi, cúm) làm bé mất sức đề kháng; cơ thể trẻ ốm yếu, suy dinh dưỡng; độc tố của vi khuẩn quá mạnh… nên tình trạng sưng viêm không ở tai giữa mà tiến vào xương chũm.

Lý giải nguyên nhân bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ này, ThS-BS Nguyễn Thị Thanh Thúy – Phó trưởng khoa Nhi tổng hợp BV Tai Mũi Họng TP.HCM cho biết, ở trẻ nhỏ, do các vách xương rất mỏng nên từ bệnh viêm tai giữa thông thường rất dễ diễn biến thành VTXCC. Vi trùng từ tai giữa đã xâm nhập vào phần xương chũm phía sau tai, tạo ổ mủ và có thể tạo áp-xe lan ra cả phía sau tai. Triệu chứng là trẻ thường sốt, đau tai, chảy mủ tai, sưng sau tai, mất rãnh sau tai. Nếu chụp phim có thể thấy hình ảnh mờ xương chũm; thử máu sẽ thấy bạch cầu tăng trong bệnh cảnh nhiễm trùng.

Bệnh VTXCC thường gặp nhất vào lúc giao mùa, trời nắng nóng. Bởi, khí hậu thay đổi dễ làm trẻ bị ho, sổ mũi, cảm tạo điều kiện cho siêu vi trùng, vi trùng tấn công tai giữa làm viêm tai giữa cấp. Trung bình mỗi tháng, khoa Nhi tổng hợp BV Tai Mũi Họng tiếp nhận điều trị khoảng 10 – 20 ca, trong đó số nặng phải mổ từ ba-năm ca.

Theo BS Thanh Thúy, việc đánh giá trẻ bị VTXCC đang trong giai đoạn nào để điều trị nội khoa theo dõi hay phải mổ cấp cứu là điều rất quan trọng, bởi vẫn có thể xảy ra tình trạng mổ lầm không cần thiết hay mổ quá trễ để xảy ra biến chứng. Nếu bệnh diễn tiến cấp trong vòng ba ngày đầu, chưa tạo áp-xe, có thể điều trị nội khoa tích cực: kháng sinh – kháng viêm đầy đủ, bệnh có thể giảm dần rồi hết. Nếu trẻ đến muộn hơn hay diễn tiến tự nhiên dẫn đến tạo ổ áp-xe lan ra sau tai, lúc đó bắt buộc phải mổ cấp cứu để dẫn lưu mủ. Biến chứng có thể xảy ra nếu không xử lý kịp thời là: liệt mặt; áp-xe lan vào não, màng não; nhiễm trùng huyết…

BS Nguyễn Thế Huy, Phó trưởng khoa Tai Mũi Họng BV Nhi Đồng 1 cho biết, bệnh VTXCC nếu được điều trị đúng phác đồ và kịp thời sẽ không để lại di chứng. Trong bệnh viêm tai giữa cấp, nhiều trường hợp khoảng năm ngày sau khi điều trị, trẻ hết bệnh, ngưng chảy mủ, không đau nên người nhà thường có tâm lý chủ quan không tiếp tục điều trị và theo dõi, vì thế chỉ vài ngày sau bệnh tái phát từ đó rất dễ biến chứng thành VTXCC. Đối với những trẻ có tiền sử viêm tai giữa, khi trẻ bị cảm cúm thì bệnh dễ tái phát và có thể tái phát thành nhiều đợt trong năm.

“Khi thấy trẻ có dấu hiệu ôm tai vì đau, sốt, sưng sau tai, phụ huynh nên đưa trẻ khám ngay tại BV chuyên khoa tai mũi họng vì đây là tình trạng nặng. Nếu trẻ chỉ viêm mũi họng, sổ mũi, chảy mủ tai thì cũng nên khám tại BS chuyên khoa nhi hoặc tai mũi họng để xử trí kịp thời, tránh biến chứng nặng hơn” – BS Thanh Thúy khuyến cáo.

Theo sức khỏe

Bé chậm nói vì nguyên nhân gì ?

Lên mạng, chị ngỡ ngàng khi những dấu hiệu có ở con “hao hao” với trẻ tự kỷ. Anh chị suy sụp và cấp tốc cho con đi khám.
Mẹ vô tâm khiến con tự kỷ

Ngay khi còn nhỏ, Duy Anh đã tỏ ra là một cậu bé thông minh nhưng vô cùng lầm lỳ, khép kín, lúc nào bé cũng thích chơi tha thẩn một mình. Thế giới của cậu luôn chỉ là tivi và cái tầu hỏa mà bố mua cho.

Vì bận rộn nên sau khi sinh con, chị Hoa (Đống Đa, Hà Nội) – mẹ của bé trở lại với công việc, tất thảy việc trông nom Duy Anh, chị Hoa dựa hoàn toàn vào cô giúp việc.

Khi Duy Anh được khoảng 16 tháng, cô giúp việc đôi lần tâm sự với chị nên đưa bé đi khám bởi dường như bé “lờ tịt” với bất kỳ lời nói nào của người khác. Ngoài ra, bé không bao giờ ngồi bô hay để người lớn xi mà phải đóng bỉm, lên giường nằm rồi bé mới ị hay tè được.

Chị Hoa lại cười xòa và khẳng định không thể nào lại có chuyện đó, xem tivi là một tín hiệu tốt cho thấy bé ham thích tìm hiểu mọi thứ xung quanh mình.

Mãi đến khi 2,5 tuổi nhưng bé chẳng nói chẳng rằng suốt ngày ngẩn ngơ không chơi một mình thì cũng cắm mặt vào màn hình tivi, những lúc chị tìm cách ôm ấp thì bé nằng nặc từ chối, tránh né, chị mới đưa con đi khám thì đã quá muộn, tại đây, bác sĩ chẩn đoán Duy Anh bị hội chứng tự kỷ.

Nghe xong, chị òa khóc vì sự vô tâm của mình, chị tự trách bản thân nếu sớm phát hiện ra thì con đâu có khổ như thế này.

Bị điếc bẩm sinh, mẹ tưởng con ngoan, ít nói

Ai nhìn vào nhà chị Thanh Ngọc (Định Công, Hà Nội) cũng khen chị “đẻ khéo” vì bé Khoai xinh xắn lại rất ngoan ngoãn, đáng yêu thế nhưng sau 1 thời gian, chị mới biết cái sự ngoan ngoãn ấy có “vấn đề”.

“Ngay từ khi mới sinh, cháu đã ngoan ngoãn, ít quấy khóc, không giật mình. Mình cứ ngỡ đó là bình thường, giống gen bố ‘lầm lì ít nói’, vậy mà khi được 18 tháng, tình trạng này vẫn không khá hơn là bao. Dù mình đứng gần gọi và thu hút sự chú ý của bé thế nào, bé vẫn không có biểu hiện gì. Lúc này linh cảm mách bảo sự chẳng lành, đưa con tới khám thì cũng muộn…”, chị vừa khóc vừa tâm sự.

Tại bệnh viện, các bác sĩ chẩn đoán bé bị điếc bẩm sinh mức nặng, khả năng câm là rất lớn.

Con chậm nói tưởng nhầm thành tự kỷ
tu-ky
Bé Minh Thư – con gái chị Thúy (Tây Hồ, Hà Nội) xinh đẹp như thiên thần. Vì mãi mới được một mụn con nên ai trong nhà cũng chiều chuộng, yêu quý bé.

Nhưng đến 3 tuổi mà con chưa nói được lời nào, thêm vào đó, chiều hôm vừa rồi cô giáo mời chị đến trường vì Thư cào bạn Mạnh rách cả mặt, tóm lại Thư không chơi với ai ở lớp, bé suốt ngày đập phá, quăng đồ chơi, chị đâm lo. Lên mạng, chị ngỡ ngàng khi những dấu hiệu có ở con “hao hao” với trẻ tự kỷ. Anh chị suy sụp và cấp tốc cho con đi khám.

Nhưng may mắn làm sao bé không bị hội chứng này mà chỉ bị rối loạn cảm xúc và chậm nói mà thôi.
Cha mẹ cần chú ý tới hành vi của con

Trả lời về vấn đề này, bác sĩ Nguyễn Thị Anh Thư (Khoa Nhi, Bệnh viện Việt Pháp) cho rằng cha mẹ nên chú ý đến hành vi của con, nếu thấy con mình có bất kỳ những dấu hiệu bất thường nào về ngôn ngữ, về phản xạ, hãy nhanh nhất đưa con tới bệnh viện để được các bác sĩ có chuyên môn can thiệp kịp thời.

Dấu hiệu của trẻ tự kỷ:

Trên 10 tháng tuổi, bé ngoan, khó ngủ, bé thu mình, không quan tâm đến người khác, một mình mình một thế giới, không thích chơi với bạn cùng lứa tuổi, tránh tiếp xúc tối đa, khó khăn khi tham gia các trò chơi, thích thú khi chơi đồ chơi một cách khác thường, hung hăng, dễ tự làm tổn thương bản thân, không phản ứng với tiếng gọi, ánh mắt đờ đẫn, không biết đáp lại khi có người gọi tên, mất kỹ năng ngôn ngữ hoặc xã hội….

Nguyên nhân gây nên hội chứng này có thể do các yếu tố sinh học hoặc môi trường, hoặc cả hai, bao gồm cả các yếu tố nhiễm khuẩn lúc mang thai, các khiếm khuyết của hệ thống miễn dịch, gen.

Dấu hiệu trẻ bị điếc bẩm sinh:

Trẻ từ 4 tháng tuổi trở lên không có bất kỳ phản ứng nào với âm thanh lạ (dù rất to); không trao đổi ê a, không quay đầu lại với người thân (do bé không nghe được hoặc nghe thấy âm thanh vô cùng nhỏ); phát triển mạnh ngôn ngữ nét mặt, điệu bộ, cử chỉ (vì không thể biểu lộ mình bằng lời nói); bé không thích đập, ném đồ chơi (thường những bé có thính lực tốt, bé sẽ rất thích nghe những âm thanh của những vật phát ra)…

Nguyên nhân khiến bé bị điếc bẩm sinh có thể do di truyền từ người thân trong gia đình; do trong quá trình mang thai và sinh nở người mẹ gặp bất thường (sinh non, đẻ khó, bé bị ngạt trong quá trình ra đời); hoặc do bé bị bệnh viêm tai, viêm màng não, sởi, quai bị…

Bên cạnh đó, có rất nhiều em bé bị mắc bệnh về tâm lý như rối loạn tâm lý, rối loạn hành vi, chậm nói; hay điếc bẩm sinh… bị nhầm là tự kỷ hoặc ngược lại.

Bác sĩ Anh Thư nhấn mạnh, đúng là những biểu hiện của bệnh tự kỷ và điếc bẩm sinh có sự giống nhau như chậm nói; sống thu mình song những bé tự kỷ không bị điếc, bé vẫn nghe thấy những âm thanh, tiếng ồn phát ra xung quanh mình nhưng bé “lờ đi”, chắc chắn nếu có tiếng động bất ngờ, bé tự kỷ vẫn bị giật mình.

Còn với em bé không may bị điếc bẩm sinh thì khả năng nghe và phản ứng lại với âm thanh là hoàn toàn không có.

Trẻ chậm nói thường sống khép kín vì không biết chia sẻ thế nào với người khác, hoặc cũng có thể tìm cách “gây hấn” bằng những hành động “cào cấu”, điều này càng dễ bị hiểu lầm là trẻ tự kỷ.

Tóm lại, cha mẹ cần chú ý tới sự phát triển của con theo từng mốc giai đoạn cụ thể, khi phát hiện ra có những dấu hiệu lạ về hành vi, ngôn ngữ của con, cha mẹ cần bình tĩnh đưa con tới bệnh viện để thăm khám.

Theo sức khỏe gia đình

Dùng mỹ phẩm có tốt cho bé hay không

Để bé thơm tho, tươi mát, các bậc cha mẹ thường “cầu viện“ sữa tắm, lotion… Song, các sản phẩm này cũng gây dị ứng, ho, vô sinh…

Sản phẩm nồng hương

Trẻ sau khi sinh ra đã có mọi nhu cầu về tắm rửa, gội đầu dù tóc chỉ mới loe hoe vài cọng. Thông thường, các bậc phụ huynh mua sản phẩm có hương thơm mình yêu thích để tắm gội cho bé. Hương thơm tuy khiến người lớn thích thú, nhưng với trẻ em, có thể là nguồn gây kích ứng da, viêm da, đỏ da… nhất là các loại làm từ hóa chất.
my-ham-be

Theo BS Đinh Tấn Phương – Khoa Cấp cứu – BV Nhi Đồng 1 TP.HCM, các sản phẩm có mùi hương nồng nặc có khả năng gây mệt cho bé, nhẹ thì dị ứng, hắt hơi, ho… còn nặng thì bị suyễn. Một số hương thơm còn “kích hoạt” nội tiết tố nữ nếu dùng cho bé trai. BS Hồ Mạnh Tường – Hội Nội tiết sinh sản và vô sinh TP.HCM cho biết: “Trên thế giới có các báo cáo ghi nhận một số bé trai khi tiếp xúc với tinh dầu lavender thường xuyên có một số biểu hiện nữ hóa. Nguyên nhân là tinh dầu lavender có thể làm rối loạn hoạt động nội tiết tố nam (androgen) và tác động như một nội tiết tố nữ (estrogen). Vì thế, người ta khuyến cáo không cho trẻ trai tiếp xúc nhiều với tinh dầu lavender. Ngoài lavender, các mùi khác cũng là nguồn gây bệnh cho bé”.

Phấn rôm

Ngày nay, việc vệ sinh của bé cũng được “bó gọn” trong tã giấy. Để bé khỏi bị hăm da khi mặc tã, các vị phụ huynh dùng phấn rôm để làm da khô thoáng. Nhưng, việc sử dụng phấn cũng mang lại nhiều bất trắc. Cũng theo BS Phương: “Các bé có thể hít phải những hạt phấn rất nhỏ, mắt thường không nhìn thấy được vì chúng bay lẫn vào không khí. Những gì dùng ngoài da mà vào cơ thể đều gây hại: dị ứng, tăng tiết đàm nhớt…”.

Lotion dưỡng ẩm

Chỉ dùng cho các bé có da bị khô do trời lạnh (nằm phòng điều hòa nhiệt độ) hoặc có cơ địa da khô. Với một số trẻ bị bệnh chàm (nổi các vết mẩn đỏ), khi điều trị bác sĩ cũng sẽ cho dùng kem dưỡng ẩm để bảo vệ. Tuy nhiên, BS Huỳnh Huy Hoàng – BV Da liễu TP.HCM khuyên, nên có sự định bệnh của bác sĩ trước khi thoa bất kỳ sản phẩm nào lên da đang bệnh. Trường hợp bé ra mồ hôi nhiều, cần lau người và làm sạch lotion trên người bé, vì chất cặn bã trong cơ thể và kem dưỡng ẩm sẽ làm bít lỗ chân lông dễ gây bệnh.

Kem đuổi muỗi

Là giải pháp được chọn lựa để bảo vệ bé khỏi các bệnh nguy hiểm: sốt xuất huyết, sốt rét… Nhưng theo BS Lê Đức Thọ – Trưởng khoa Da liễu, Bệnh viện Fortis Hoàn Mỹ TP.HCM, đối với trẻ em, nhất là trẻ dưới năm tuổi, không nên sử dụng hoặc cho tiếp xúc với các sản phẩm thuốc xịt diệt côn trùng, nhang trừ muỗi, kem bôi da chống muỗi. Ngoài ra, kem chống muỗi chỉ có tác dụng ngắn hạn, khi thuốc bay hết lại phải bôi tiếp để duy trì tác dụng. Việc bôi kem nhiều lần và bôi trong thời gian kéo dài sẽ dễ gây kích ứng, có hại cho làn da non của các bé.

Làm đẹp

Các bé gái, khi được ba-bốn tuổi thường được mẹ làm đẹp bằng các loại mỹ phẩm hoặc cho uốn tóc, xịt keo, xịt nước hoa… Điều này không nên vì da đầu bé mỏng, tóc cũng yếu. Các loại hóa chất này dễ dàng thấm vào da đầu gây kích ứng hoặc bệnh mãn tính làm hư da đầu. BS Nguyễn Trọng Hào, BV Da liễu TP.HCM khuyên: “Da bé mỏng manh, nhạy cảm hơn người lớn và khó xác định “thủ phạm”. Khi phát hiện bị mẩn đỏ, dị ứng… cần ngưng dùng những loại hóa mỹ phẩm thường dùng với tần suất cao. Nếu ngưng dùng vẫn không thuyên giảm, cần đi khám để tìm nguyên nhân điều trị.

Bệnh thiếu máu ở trẻ em nguy hiểm như thế nào

Chứng thiếu máu ở trẻ từ 1 đến 3 tuổi dễ khiến bé xanh xao, gầy gò, khóc đêm. Thiếu máu do nhiều nguyên nhân, trong đó có do bệnh lý và sinh lý.

Theo Ths.BS Lê Bích Liên, Phó giám đốc BV Nhi Đồng 1,bệnh lý thiếu máu ở trẻ gồm có thiếu máu sinh lý và thiếu máu bệnh lý. Phụ huynh cần phân biệt rõ để có hướng xử trí hợp lý.

Bác sĩ Liên cho biết, tình trạng thiếu máu sinh lý có thể xảy ra ở trẻ nhũ nhi (dưới 1 tuổi). Trẻ có số lượng hồng cầu thấp hơn bé lớn một chút. Ở tuổi này các cơ quan tạo máu có sự thay đổi. Gan lách là cơ quan tạo máu chủ yếu trong thời kỳ bào thai sẽ được thay thế bằng tủy.
thieu-mau-tre-em
“Hemoglobin là yếu tố quan trọng trong cấu tạo hồng cầu, giúp hồng cầu chuyên chở oxy cũng thay đổi. Thời kỳ bào thai Hemoglobin chủ yếu là HbF , sau sinh  Hb này sẽ được thay thế dần bằng HbA trong thời gian 6-12 đầu sau sinh ”, bác sĩ Liên nói.

Ở tuổi này trẻ cũng bắt đầu làm quen với chế độ ăn dặm với thức ăn đặc dần và đủ bốn nhóm thực phẩm (bột, dầu, đạm, rau) thay thế từ từ cho chế độ ăn bằng sữa. Chính vì điều này, trẻ dễ thiếu các chất cần thiết cho việc tạo máu do khả năng tiêu hóa, hấp thu các chất chưa hoàn chỉnh (chất sắt, chất đạm, acid forlic…)

Tình trạng thiếu máu sinh lý ở trẻ chỉ nhẹ, không ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ. Trẻ vẩn có thể ăn bú tốt, chơi, vân động, phát triển bình thường. Thông thường sau 2 tuổi, nếu trẻ có chế độ dinh dưỡng đúng, tình trạng thiếu máu này sẽ hết.

Đối với các trường hợp thiếu máu bệnh lý, trẻ sẽ có các dấu hiệu của bệnh thiếu máu. Trẻ thường biếng ăn, ít chơi, mau mệt khi vận động, khó thở, đánh trống ngực khi gắng sức, khó ngủ, ít tập trung. Trẻ có thể than nhức đầu, chóng mặt, ù tai. Nhìn lòng bàn tay thấy nhạt màu, móng tay nhạt.

Thiếu máu có rất nhiều nguyên nhân. Do đó, về điều trị thiếu máu trước hết chúng ta cần tìm xem trẻ thiếu máu do nguyên nhân gì, nguyên nhân đó có chữa được không.

“Ví dụ trẻ thiếu máu do thiếu sắt, chúng ta cần điều chỉnh chế độ ăn sao cho đảm bảo cung cấp đủ chất sắt cho trẻ, đồng thời uống chất sắt bổ sung tình trạng thiếu máu thiếu sắt sẽ khỏi”, bác sĩ Liên cho hay.

Theo sức khỏe gia đình

Cải thiện thị lực cho con bằng cách nào

Để cải thiện thị lực cho trẻ, tốt nhất là nên sử dụng các phương pháp tự nhiên vì chúng không gây ra bất cứ tác dụng phụ nào.

Những ánh sáng nguy hiểm với mắt trẻ: Nhiều cha mẹ nghĩ rằng mổ mắt là phương pháp duy nhất có thểtăng cường thị lực cho con của mình. Thế nhưng sự thật là có rất nhiều phương pháp tự nhiên khác có thể giúp cải thiện thị lực cho trẻ. Dưới đây là một vài cách cụ thể mà các bậc cha mẹ có thể áp dụng để cải thiện thị lực cho con của mình.
1. Bảo vệ mắt con bằng kính mát
Kính mát có thể giúp bảo vệ đôi mắt và cải thiện thị lực cho trẻ. Thông thường, mặt trời phát ra các tia tử ngoại có thể khiến tầm nhìn của trẻ tiến triển theo chiều hướng xấu đi khi tiếp xúc trong quãng thời gian dài. Vì vậy, bố mẹ nên chọn mua cho con cặp kính mát tốt nhất và đảm bảo con sẽ đeo bất cứ khi nào đi ra ngoài vào ban ngày.
cai-thien-thi-luc
Hơn nữa, khuyến khích con đeo kính mát sẽ bảo vệ được đôi mắt tránh khỏi những đợt gió mạnh, ngăn cản những hạt bụi nhỏ và các dị vật khác tác động xấu tới mắt của con.
2. Giúp con thực hiện một số bài tập với mắt
Nếu bố mẹ muốn cải thiện thị lực cho trẻ,cách tốt nhất là hãy hướng dẫn con một số những bài tập với mắt. Để con có ý thức hơn về điều này, cha mẹ cũng nên là tấm gương, để con có thể học tập và giữ gìn đôi mắt thật tốt.

Bố mẹ có thể bắt đầu với bài tập đơn giản như: Tập trung nhìn vào vật gì đó ở phía xa, quan sát vật đó trong vòng 10 đến 15 giây. Sau đó, từ từ đưa đôi mắt tập trung vào một vật nào đó thật gần. Lặp lại điều này 3-5 lần.

3. Rửa mắt cho con sau khi thức giấc
Buổi sáng khi con thức dậy, ngoài việc đánh răng, rửa mặt, cha mẹ hãy khuyến con rửa mắt cẩn thận. Dùng khăn sạch hoặc gạc y tế thấm ướt rồi lau mắt theo chiều từ ngoài vào trong, từ trên xuống dưới.

Đối với mi mắt thì cha mẹ có thể hướng dẫn con tự vệ sinh bằng cách soi gương và dùng tăm bông sạch chà phần chân lông mi. Tuyệt đối tránh chà vào phần kết mạc màu hồng. Và hãy chắc chắn con của bạn không dùng nước nóng để rửa mắt.
4. Khuyến khích con của bạn ngủ sớm
Việc thức khuya vốn dĩ không tốt cho mắt. Cho nên cha mẹ phải tập cho con có thói quen đi ngủ sớm và đúng giờ. Trong trường hợp con bạn có thói thức khuya, cha mẹ nên đảm bảo cho trẻ uống một chén nước sau mỗi giờ, như vậy sẽ phần nào hạn chế tình trạng giảm thị lực ở trẻ.
5. Cố gắng duy trì đại tiện thường xuyên
Tình trạng táo bón kéo dài có thể làm thị lực của trẻ yếu đi. Do đó, cha mẹ nên cân bằng chế độ ăn uống cho trẻ và khuyến khích con uống nhiều nước để tránh táo bón. Cha mẹ cũng nên để ý đến chuyện đại tiện của con mỗi ngày phòng trường hợp trẻ mải chơi mà quên đại tiện.
6. Cải thiện chế độ ăn uống của con
Hãy khuyến khích trẻ ăn nhiều trái cây tươi, rau xanh (đặc biệt là những loại rau có lá màu xanh đậm). Mẹ có thể tăng cường cho trẻ ăn nhiều thực phẩm giàu Omega-3, beta carotene. Vitamin A là thành phần trực tiếp chịu trách nhiệm đảm bảo độ sáng cho mắt. Vì thế, mẹ phải khuyến khích con ăn những món giàu vitamin A: khoailang, rau bina, thịt bò nạc, họ cam quýt, sữa, cá hồi, cà rốt… mỗi ngày để tăng cường thị lực. Bên cạnh đó, các loại ngũ cốc nguyên hạt cũng giúp giảm nguy cơ thoái hóa điểm vàng ở mắt trẻ.
7. Không để mắt con quá căng thẳng
Nếu con của bạn lúc nào cũng nhìn chằm chằm vào tivi, màn hình vi tính, sách hay chơi trò chơi điện tử… thì đồng nghĩa với việc trẻ đang phá hoại thị lực đôi mắt của mình. Thực tế tất cả những hoạt động này không cho mắt có thời gian thư giãn.

Cũng giống như tất cả bộ phận cơ thể, mắt cũng phải gánh những căng thẳng nhất định cho nên cũng cần phải được nghỉ ngơi. Nếu con bạn dồn quá nhiều áp lực lên đôi mắt trong thời gian dài sẽ dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng về mắt như cận thị, chứng viễn thị hoặc chứng loạn thị.

Vì vậy, để cải thiện thị lực cho con, cha mẹ hãy khuyến khích con chọn hoạt động ngoài trời thay vì ngồi hàng tiếng đồng hồ ở phía trước máy tính xách tay hay tivi
8. Giải độc gan và đại tràng cho con
Nếu gan của con tồn tại quá nhiều độc tố, sẽ kéo theo thị lực bị giảm sút. Bên cạnh đó, lối sống hiện đại làm cho điều đó trở nên tồi tệ hơn khi trẻ ăn quá nhiều thức ăn nhanh gây ra gánh nặng cho hệ tiêu hóa, đặc biệt là đại tràng. Vì vậy, cha mẹ hãy giải độc gan và đại tràng cho con, thay thế các loại thức ăn nhanh bằng trái cây tươi và rau quả tươi.
9. Làm con của bạn mỉm cười nhiều hơn
Mỉm cười sẽ giúp cơ thể con tiết ra các hoóc – môn làm cơthể hạnh phúc, được thư giãn. Mỉm cười cũng giúp cơ mắt được thư giãn. Vì vậy, cha mẹ nên mang lại niềm vui cho con, đảm bảo con luôn vui và cười thật nhiều!

Theo sức khỏe gia đình

Chữa đau mắt bằng sữa mẹ là cách tốt nhất

Mình thật không ngờ ‘thần dược’ trị bệnh cho con lại đơn giản, thân quen thế.
Các kháng thể trong sữa mẹ có tác dụng trừ khử một số bệnh nhiễm trùng về mắt cho bé đấy!

Mẹ nào có con rồi thì biết, lúc sơ sinh gần như bé nào cũng từng bị đau mắt đúng không? Tí Anh nhà mình hồi bé cũng đau mắt đến mấy lần ấy, thương lắm cơ! Vì Tí Anh là con đầu nên hồi ấy mình chả có kinh nghiệm gì cả, thấy con bị vậy là chỉ biết tá hỏa ôm bé tới bệnh viện thôi.

Được bác sĩ cho thuốc về nhỏ và hướng dẫn vệ sinh mắt cho con bằng nước muối sinh ly, mình cẩn thận làm theo rồi mà không thấy khỏi. Cứ vài tiếng mắt con lại bị gỉ dính bết lại, không mở ra được. Con khó chịu, thi thoảng lại cho tay lên dụi dụi làm mẹ cứ phải ngồi canh suốt, đến là khổ.
tri-dau-mat-cho-be-1
Hồi ấy bà ngoại Tí Anh cứ bảo mình là nhỏ sữa mẹ vào mắt bé thì sẽ mau khỏi. Nhưng mình giãy nảy lên gạt đi. Ai đời mắt con đang đau thế, nhỏ thuốc còn không xong chứ cho sữa vào để tạo môi trường cho vi khuẩn nó phát triển thêm à. Vậy nên dù bà có thuyết phục rằng đó là kinh nghiệm dân gian mình cũng nhất quyết không nghe. Mình là chủ trương dựa vào khoa học, chứ mấy kinh nghiệm đó chẳng có cơ sở nào đáng tin cậy cả.
Nhưng khổ nỗi là nhỏ thuốc mãi mà Tí Anh vẫn chưa hết đau mắt làm mình lo đến mất ăn mất ngủ các mẹ ạ.

Lần nào cũng vậy, bệnh dai dẳng khiến con khó chịu, quấy khóc còn mẹ thì xót vô cùng. Bà ngoại Tí Anh cũng xót cháu nên giận cả mình vì không chịu nghe lời. Bà nói, ngày xưa toàn nhỏ sữa mẹ cho cả mấy chị em mình mà khỏi bệnh chứ đâu có cần tới thuốc men. Vậy là mình đành đánh liều làm theo, dù chẳng mấy tin tưởng. Chỉ tại nhỏ thuốc lâu khỏi quá nên mình mới phải làm như thế…

Mình vắt rồi nhỏ trực tiếp một giọt sữa nhỏ vào mắt Tí Anh, lòng phấp phỏng lo lắng. Nhưng mẹ mình an ủi rằng cứ yên tâm vì sẽ thấy tác dụng nhanh thôi. Quả là như vậy, ngay ngày hôm sau đã thấy con ít rỉ mắt hơn hẳn rồi. Mình bắt đầu thấy yên tâm và tiếp tục nhỏ sữa, thật tuyệt, mắt con khỏi nhanh đến không ngờ. Những lần sau đó con cứ bị đau mắt là mình lại dùng sữa, hiệu quả lắm các mẹ ạ.

Bây giờ mình mới biết là dùng sữa trị đau mắt không đơn giản chỉ là kinh nghiệm dân gian đâu nhé. Vì đợt sinh Tí Em thì nhà mình sống ở nước ngoài, lần con bị đau mắt cô y tá bên đó cũng hướng dẫn cách chữa tương tự như thế. Đó là vắt sữa vào bông sạch, mềm rồi lau mắt cho bé. Cũng chỉ mất chừng 3 – 4 ngày là hết bệnh luôn.

Không chỉ vậy mà có lần Tí Em bị viêm tai, cô y tá cũng bảo mình nhỏ vài giọt sữa mẹ vào mà không cần loại thuốc nào cả. Mình làm theo và thấy hiệu quả tốt lắm các mẹ ạ, thật tuyệt vời phải không?

Quả là sữa mẹ có nhiều công dụng hơn mình tưởng các mẹ nhỉ? Đó là vì Immunoglobulin A trong sữa mẹ có thể tấn công các nhân tố gây nhiễm trùng và loại bỏ chúng nhanh chóng. Vì thế, nếu bé nào bị đau mắt thì các mẹ đừng chần chừ nhé, hãy dùng sữa mẹ để bé mau mau hết bệnh thôi.

Các mẹ có thể kết hợp vệ sinh mắt mũi cho con bằng nước muối sinh lí hàng ngày để tăng hiệu quả nhé! Mình thì áp dụng cách này cho cả Tí Anh và Tí Em rồi nên các mẹ không phải lo lắng và băn khoăn nữa.

À, mình còn nghe nói sữa mẹ có thể trị gàu và cứt trâu cho bé nữa nhưng chưa thử, mẹ nào có kinh nghiệm rồi thì chia sẻ cho mình với nhé.
Cảm ơn các mẹ nhiều, chúc các mẹ và bé luôn khỏe mạnh!

Theo sức khỏe gia đình

Cách điều trị ngạt mũi cho trẻ sơ sinh

Nếu trẻ không thở được bằng mũi do ngạt, tắc mũi, trẻ phải thở bằng miệng thì tất cả vi trùng, bụi bậm trong không khí… sẽ đi theo vào họng thanh, khí, phế quản. Hơn nữa, tắc mũi còn làm cho thông khí ở phổi kém do thở nông, dẫn đến thiếu oxy. Tuy không phải là một bệnh nặng, nghiêm trọng nhưng ngạt tắc và chảy mũi lại thường lặp đi lặp lại nên ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe của đứa trẻ, trẻ quấy khóc, ăn ngủ kém…Dưới đây là nguyên nhân và cách điều trị ngạt mũi cho trẻ dưới 1 tuổi.
Nguyên nhân gây bệnh

Tuy không phải là một bệnh nặng, nghiêm trọng nhưng ngạt tắc và chảy mũi lại thường lặp đi lặp lại nên ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe của đứa trẻ, trẻ quấy khóc, ăn ngủ kém… khiến các bậc cha mẹ lo lắng.

Bình thường nếu trẻ thở được qua đường mũi, không khí sẽ được lọc sạch, sưởi ấm và tăng độ ẩm; bụi, vi trùng cũng như các dị vật nhỏ bị chặn lại ở tiền đình mũi, bởi lông mũi và niêm mạc mũi. Như vậy, khi không khí vào đến phổi nó đã được thanh lọc ở mức đáng kể.
nho-mui
Nếu trẻ không thở được bằng mũi do ngạt, tắc mũi, trẻ phải thở bằng miệng thì tất cả vi trùng, bụi bậm trong không khí… sẽ đi theo vào họng thanh, khí, phế quản. Hơn nữa, tắc mũi còn làm cho thông khí ở phổi kém do thở nông, dẫn đến thiếu oxy.

Thở bằng mũi có lợi hơn thở bằng miệng, vì những vi khuẩn bụi khí khi đi qua mũi sẽ bị chất nhày của mũi làm mất độc lực hoặc bị hủy diệt. Chất nhày của mũi còn có khả năng trung hòa tác hại của khói, chất hóa học… Sự tắc nghẽn hoàn toàn hoặc một phần của mũi có thể dẫn đến một số bệnh của đường hô hấp như V.A, viêm họng, VTG cấp, viêm phế quản…

Ở trẻ em đặc biệt là trẻ nhỏ do đặc điểm giải phẫu của hố mũi hẹp nên dễ bị ngạt, tắc mũi và rất nhanh chóng chuyển thành viêm mũi do ngạt tắc mũi, viêm V.A (Végetation Adenoide) hay đi cùng viêm mũi.

Biểu hiện của bệnh

– 2 lỗ mũi trẻ bị tắc vì xung huyết, vì tiết nhày làm trẻ thở khó khăn phải thở bằng miệng, có tiếng khò khè khi thở. Trẻ khó bú, mỗi lần ngậm vú thì bị ngạt thở vì thế trẻ phải bỏ bú, quấy khóc, ngủ không yên giấc, ảnh hưởng toàn thân, gầy sút…

– Có thể sốt 38-39oC, nhiều khi cao hơn nữa, có khi gây co giật.

– Đôi lúc có thể nôn hoặc rối loạn tiêu hóa. Bệnh kéo dài vài ba ngày, sau đó nhiệt độ giảm, mũi bớt chảy.

– Bệnh hay gây ra các biến chứng: VTG cấp, viêm phế quản… Nếu kéo dài có thể gây rối loạn tiêu hóa, suy dinh dưỡng.

Điều trị bệnh

– Việc cần thiết là làm thông 2 lỗ mũi. Mũi có thở thông thì sức đề kháng của niêm mạc mũi mới hồi phục và trẻ mới bú được (hút tiết nhày bằng quả bóng cao su có ống hút hiện nay loại này có bán rộng rãi ở nhiều cơ sở bán dụng cụ y tế.

– Nếu có máy hút dịch chuyên dụng của y tế là lý tưởng nhất, nhưng điều này chỉ thực hiện được ở cơ sở y tế.

– Ngoài ra, trong dân gian có nơi vẫn áp dụng phương pháp dùng miệng bà mẹ hút dịch mũi cho con, điều này áp dụng được nhưng với điều kiện bà mẹ không có bệnh về đường hô hấp và truyền nhiễm.

– Nhỏ mũi bằng các loại thuốc thông thường sau:

+ Efedrin 1%.

+ Aogyrol 1%

+ Otrivin 0,05%

– Nếu có nhiều dịch tiết nhày có thể dùng Narivion 0,025%, Pivalon.

– Nếu dịch tiết có nhày, đục là có bội nhiễm có thể dùng Pivalondomyxin nếu trẻ hơn 6 tháng tuổi.

(Tuyệt đối không dùng các loại thuốc nhỏ mũi mà thành phần có chất cacain hay menthol cho bé.
Kháng sinh chỉ nên dùng khi có chỉ dẫn của y bác sĩ sau khi đã khám và xác định có VA, VTG, VP quản…)
Phòng bệnh cho trẻ

– Không nên để người lạ bế bồng, hôn hít trẻ.

– Ở các vườn trẻ, mẫu giáo, khi có trẻ bị cảm mạo nên nhất loạt nhỏ mũi tất cả các cháu bằng 1 trong các loại thuốc trên ngày 2-3 lần.

– Trẻ ngạt tắc mũi, nếu có điều kiện nên đến khám tại các cơ sở y tế để đề phòng các biến chứng.

Khuyến cáo

Để bảo vệ chức năng sinh lý của mũi, tuyệt đối các bà mẹ không nên tự ý nhỏ thuốc mũi cho con những thuốc có nồng độ hoặc thành phần không thích hợp như đã nói trên. Và tuyệt đối không tự pha lấy thuốc nhỏ mũi để dùng cho trẻ.

Cho trẻ đến khám tại các bác sĩ chuyên khoa khi trẻ ngạt tắc mũi vài ba ngày mà không thuyên giảm. Đó là cách để phòng biến chứng nặng một cách hiệu quả nhất.

Theo sức khỏe gia đình

Những ánh sáng nguy hiểm với mắt trẻ

Có những loại ánh sáng người lớn tưởng như không nguy hiểm và không tác động xấu tới mắt của trẻ. Tuy nhiên thực tế thì không phải loại ánh sáng nào cũng được coi là an toàn với thị lực còn non yếu của bé.
Trong cuộc sống hàng ngày, có rất nhiều loại  ánh sáng mà trẻ phải tiếp xúc như ánh sáng của đèn huỳnh quang, ánh sáng của màn hình máy tính, tivi, ánh sáng từ điện thoại di động, đèn phòng tắm hay từ đèn của các loại xe. Có những loại ánh sáng người lớn tưởng như không nguy hiểm và không tác động xấu tới mắt của trẻ. Tuy nhiên thực tế thì không phải loại ánh sáng nào cũng được coi là an toàn với thị lực còn non yếu của bé.

Ngay từ khi còn ở trong bụng mẹ, từ tuần thai thứ 6 thì các dây thần kinh thị  giác đã bắt đầu được hình thành và võng mạc đã được “kết nối” với bộ  não qua các dây thần kinh. Mặc dù vẫn còn ở trong bụng của mẹ, tuy nhiên, trẻ đã bắt đầu phản ứng được với các loại ánh sáng.
nhung-anh-sang-nguy-hiem-voi-mat-tre
Sau khi ra đời, tầm nhìn của trẻ chỉ được bằng 1/30 so với người lớn và mắt của bé phải phát triển dần dần mới hoàn thiện. Khi trẻ được 8 tuổi thì thị giác mới được coi là phát triển hoàn thiện.

Trong mắt của trẻ có một vùng được gọi là  “điểm vàng”, đây là vùng nhạy cảm. Vùng “điểm vàng” này sẽ có những phản ứng với các loại ánh sáng. Nếu ánh sáng quá mạnh, điểm vàng sẽ rơi vào tình trạng bị sưng, và nhiều trường hợp nghiêm trọng sẽ dẫn đến mù lòa.

Khi dưới 3 tuổi, đây là giai đoạn rất nhạy cảm với thị giác của trẻ. Trên rất nhiều các phương tiện thông tin đại chúng đã từng đưa ra lời cảnh báo rằng không nên để trẻ xem tivi lâu vì ánh sáng chói này dễ dàng gây tổn hại tới thị lực non yếu của các bé.

Ngoài ra, ánh sáng trong phòng tắm và hệ thống đèn chiếu sáng có màu xanh đã được chứng minh là có thể xuyên qua thủy tinh thể tới võng mạc, gây nên tổn thương quang học cho võng mạc, hơn nữa còn đẩy nhanh quá trình oxy hóa của các tế bào điểm vàng. Vì thế, ánh sáng xanh đã được nghiên cứu chứng thực cho thấy là thứ ánh sáng gây nguy cơ mù cao nhất.

Trẻ sơ sinh có đôi mắt dễ bị  tổn thương bởi loại ánh sáng màu xanh. Khi trẻ  được từ 1 đến 2 tuổi thì có khoảng 70 đến 80% ánh sáng xanh có thể xuyên qua thủy tinh thể tới võng mạc. Đây chính là nguyên nhân mà khi dùng ánh sáng xanh để điều trị căn bệnh vàng da cho trẻ sơ sinh nhất thiết phải dùng vải đen để che mắt. Hơn nữa, với trẻ nhỏ, nhất là với những trẻ sơ sinh thích “tìm chỗ sáng”, việc bảo vệ cho đôi mắt không bị tổn thương từ ánh sáng xanh là hết sức quan trọng.

Khi đưa con ra ngoài đường, cha mẹ nên cho con đeo kính mát vì ánh đèn huỳnh quang hay một số  loại đèn khác có thể phát ra tia cực tím khiến mắt con khó chịu. Ánh sáng phát ra từ các máy hàn cũng có thể tác động gây hại cho mắt trẻ. Ngoài ra, không nên để con ngủ gần cửa sổ có ánh sáng mạnh vào mùa hè.

Để mắt trẻ phát triển tốt cha mẹ nên chú ý đến chế độ dinh dưỡng cho con:

– Protein: Đây là thành phần chính giúp tái tạo các mô biểu bì. Protein có rất nhiều trong thịt nạc, nội tạng động vật, cá, tôm, sữa, trứng và các loại đậu.

– Vitamin A: Khi cơ thể thiếu vitamin A thì sẽ giảm khả năng thích nghi với môi trường sáng tối của mắt, không những thế còn gây ra khô giác mạc. Vitamin A có nhiều trong gan động vật, dầu gan cá, sữa, trứng, đậu xanh, đậu đỏ và các loại quả màu vàng.

– Vitamin C: Vitamin C là một trong những thành phần tạo nên thủy tinh thể ở nhãn cầu của mắt, nếu thiếu vitamin C sẽ rất dễ dẫn đến bệnh đục thủy tinh thể. Vitamin C có nhiều trong táo xanh, bắp cải, súp lơ, ớt xanh, mướp đắng, rau cải, cà chua, giá đỗ, đậu, củ cải, cam, dây tây,…

– Canxi: Canxi có tác dụng giảm nhức mắt. Canxi có rất nhiều trong các loại đậu, sữa, cá, tôm, mực, lạc, hạt sen, hạnh nhân, nấm hương, mộc nhĩ, rau dền, rau thơm, rau cải…

Theo sức khỏe gia đình

Ăn nhiều đồ ăn sẵn trẻ có nguy cơ bị huyết áp, bệnh tim và đột quỵ

Những sản phẩm cho trẻ em từ 1-3 tuổi như bim bim lại chứa hàm lượng natri cao hơn là sản phẩm dành cho trẻ sơ sinh. Hấp thụ quá nhiều muối – cấu tạo chủ yếu từ natri dẫn tới cao huyết áp, bệnh tim và đột quỵ.

Theo đánh giá của Trung tâm Kiểm soát và Phòng bệnh Hoa Kỳ, có tới 1.115 loại đồ ăn sẵn cho trẻ không ghi hàm lượng natri trên nhãn sản phẩm.  Sự xuất hiện ngày càng nhiều của các thực phẩm “tiện dụng” mà được chuyên gia dinh dưỡng gọi là “bất kì cái gì họ cũng đóng chai, đóng hộp”, là do thời gian ngày càng hạn hẹp của bố mẹ đi cùng với sự gia tăng thu nhập khiến cho hoa quả hay ngũ cốc ngày càng yếu thế.
do-an-san-co-the-khien-tre-bi-huyet-ap-benh-tim-va-dot-quy
Tại cuộc họp của hội tim mạch Hoa kì vào thứ Năm vừa qua, bà Joyce Maalouf- làm việc tại bộ phận CDC về bệnh tim mạch và phòng ngừa đột quỵ cho biết: “Thật không may những sản phẩm cho trẻ em từ 1-3 tuổi như bim bim lại chứa hàm lượng natri cao hơn là sản phẩm dành cho trẻ sơ sinh. Hấp thụ quá nhiều muối- cấu tạo chủ yếu từ natri dẫn tới cao huyết áp, bệnh tim và đột quỵ”.

Hiệp hội Tim mạch Mỹ khuyến cáo lượng natri hấp thụ nên ít hơn 1.500 mg/ngày nhưng một số sản phẩm đã chứa tới 630mg- tương đương 40% trong tổng lượng natri nói trên. Khi lựa chọn ngẫu nhiên các đồ ăn như bim bim, pho-mát, bánh quy giòn, các nhà khoa học phát hiện ra lượng natri trong mỗi sản phẩm trên  là 310 mg.

Trong khi đó, theo quy định chúng không được vượt quá con số 210 mg natri/sản phẩm. Điều đáng nói là các sản phẩm cùng một công ty sản xuất cũng không có lượng natri giống nhau vì vậy rất khó kiểm soát.

Hiện tại, một số công ty thực phẩm đã phát biểu rằng họ đang nỗ lực giảm lượng muối từ 30% trong năm 2011 tới 80% trong năm 2013, song song với việc giữ nguyên hương vị của thực phẩm mà trẻ em yêu thích.

Để giảm muối, chuyên gia dinh dưỡng đề nghị phụ huynh nên cân bằng ăn trưa với thực phẩm đóng gói với một bữa ăn tối lành mạnh thấp natri. Đối với đồ ăn nhẹ, hãy chọn hoa quả, chẳng hạn như một quả táo thay vì pho mát đóng gói và bánh quy giòn.

Bên cạnh đó, khi kết quả này được công bố rộng rãi, cần có một chế độ ăn có natri nghiêm ngặt hơn bởi bữa ăn của bạn dù chỉ đơn giản là một lát bánh mì, pho mát và salad cũng chỉ nên chứa 140 mg muối.

(Theo Anninhthudo)

Nhận dạng trẻ thiếu vitamin

Thừa vitamin sẽ nguy hiểm cho trẻ nhưng thiếu hụt cũng nguy hiểm không kém. Do đó, nên theo dõi trẻ có biểu hiện thiếu vitamin hay không để có cách bổ sung hợp lý nhất.

Theo báo cáo của Tổ chức Sức khỏe Thế giới (WHO), hiện ở các nước chậm tiến mỗi năm vẫn có trên nữa triệu trẻ em bị mù vì thiếu vitamin A. Trong khi phương thức phòng ngừa tình trạng thiếu hụt viatmin A lại rất đơn giản. Để đề phòng tình trạng thiếu hụt viatmin A ở con, bạn nên quan sát những triệu chứng, những biến đổi bất thường ở trẻ.

Khi đó, bạn chỉ cần điều chỉnh một chút chế độ ăn uống, tăng cường bổ sung cho trẻ các loại thực phẩm chứa nhiều vitamin mà trẻ thiếu hụt là được.

– Vitamin A:

+Triệu chứng thiếu: Trẻ chậm lớn, hay mệt mỏi, biếng ăn, biếng chơi, bị khô mắt, sợ ánh sáng, ít nước mắt, da không mịn màng thường khô ráp, bông vảy, sần sùi.

nhan-biet-tre-bi-thieu-vitamin

+ Cách điều trị: Cho trẻ ăn nhiều rau củ có màu đỏ như gấc, đu đủ, cà rốt, bí đỏ,…ăn nhiều gan, trứng gà.

– Vitamin B1:

+ Triệu chứng thiếu: Bị tổn thương các chức năng thần kinh, hay rối loạn tiêu hóa (tiêu chảy, táo bón thường xuyên), không tăng cân,..

+ Cách điều trị: Cho trẻ uống nhiều sữa tươi, ăn nhiều ngũ cốc, trứng,..Tham khảo ý kiến bác sĩ về việc uống bổ sung vitamin B1.

– Vitamin B3:

+ Triệu chứng thiếu: Bị rối loạn tiêu hóa thường xuyên, viêm miệng lưỡi, không ngủ được.

+ Cách điều trị: Cho trẻ ăn nhiều thịt, cá, ngũ cốc, rau xanh. Không lạm dụng kháng sinh vì sẽ làm rối loạn hệ vi sinh trong đường ruột, làm giảm hấp thụ vitamin B3. Đồng thời cho trẻ uống vitamin B3 theo hướng dẫn của bác sĩ.

– Vitamin C:

+ Triệu chứng thiếu: Bị viêm nướu, sưng lợi, răng vàng và yếu, dễ sún răng, hay đau mỏi toàn thân.

+ Cách điều trị: Bổ sung cho trẻ 1 trái cam tươi hoặc 1 ly cam vắt mỗi ngày. Cho trẻ ăn nhiều bưởi, cà chua…Đồng thời, cho trẻ uống viên sủi vitamin C nếu có chỉ định của bác sĩ.

– Vitamin D:

+ Triệu chứng thiếu: Bị còi xương, hay đổ mồ hôi trộm, tóc rụng, răng mọc chậm, khi ngủ hay bị giật mình.

+ Cách điều trị: Cho trẻ ăn trứng gà, dầu cá, tắm nắng mỗi ngày. Bổ sung vitamin D theo chỉ định của bác sĩ.

– Vitamin E:

+ Triệu chứng thiếu: Bị thiếu máu

+ Cách điều trị: Cho trẻ ăn nhiều sinh tố bơ, bổ sung dầu hướng dương, dầu cải vào các món canh cho trẻ.

– Vitamin K:

+ Triệu chứng thiếu: Chảy máu đường tiêu hóa, chảy máu ở da, niêm mạc, rối loạn tiêu hóa, dễ co giật, quấy khóc. Nếu ở tuổi sơ sinh có nguy cơ xuất huyết não.

+ Cách điều trị: Cho trẻ ăn đậu hủ, uống sữa bò tươi.

Điều thuận lợi ở nước ta là có nhiều loại rau củ quả với đầy đủ các chất cần thiết cho cơ thể. Bạn chỉ cần tìm hiểu thông tin, xin tư vấn của bác sĩ là có ngay một thực đơn rất đa dạng để trẻ ăn không ngán mà vẫn đều đặn bổ sung vitamin mỗi ngày.

Nguồn sưu tầm

Trẻ bị táo bón – đề phòng và chữa trị

Táo bón là hiện tượng ruột co bóp kém hoặc không đủ mạnh để bài tiết phân ra ngoài. Các cơ bụng và thành ruột cũng có một vai trò quan trọng trong việc gây ra táo bón. Có nhiều nguyên nhân gây táo bón như: rối loạn chuyển hóa, rối loạn tuyến nội tiết, có sự bất thường ở đường tiêu hoá…

Khi trẻ bị táo bón, phân thường cứng và khô. Táo bón là một triệu chứng hay gặp ở trẻ em khi thức ăn có quá nhiều mỡ, chất đạm và ít chất khoáng, cũng có khi do uống nhiều sữa bò, sữa bột vì ít sữa mẹ hoặc do ăn quá nhiều thức ăn cứng hoặc không đủ lượng vitamin B1 cần thiết.

Bạn hãy cho cháu uống nhiều nước và nước ép trái cây. Các loại nước mận ép hoặc nước luộc củ cải cũng có tác dụng chống táo bón.

Hãy cố đưa nhiều chất xơ hơn và chế độ ăn của con bạn. Chất xơ đem lại khối lượng độn giúp cho ruột bám chặt và chuyển được những gì có trong ruột. Việc cho trẻ ăn nhiều rau quả sẽ giúp cho cơ bụng và thành ruột co bóp tốt hơn.

Đối với những trẻ còn bú thì pha sữa loãng hơn bình thường một chút, có thể pha thêm một thìa cà phê nước quả (cam, quýt) vào cốc sữa cho trẻ, hoặc dùng nước cháo pha sữa. Có một điều cũng khá quan trọng là mẹ bị táo bón mà cho con bú thì trẻ cũng sẽ bị táo bón. Vì vậy cần phải điều trị táo bón cho mẹ trước.

Khi trẻ bị táo bón, ngoài việc điều chỉnh chế độ ăn uống bạn nên tập cho trẻ thói quen đi ngoài vào một giờ cố định trong ngày. Nên chọn thời gian lúc trẻ không vội vã, thời gian sau bữa ăn là lúc thích hợp nhất, vì lúc này nhu động ruột hoạt động tăng.
taobonotre
Bạn đừng có hối thúc con bạn khi cháu đang ngồi bô nhưng cũng đừng bỏ mặc cháu ở đó quá lâu. Nếu cháu có vẻ bị táo bón, bạn hãy thoa vaseline quanh hậu môn cho cháu trước khi cho cháu ngồi bô, để làm cho cháu đi cầu dễ hơn.

Bạn đừng quá lo lắng khi con bạn bị táo bón nhất thời, chứng đó sẽ không gây hại gì cho cháu. Nhưng nếu bé bị táo bón kéo dài trên 3 ngày, khóc kêu đau khi đi cầu hoặc có những vệt máu trong phân, trong tã hay đũng quần thì bạn nên đưa trẻ đi khám bệnh để được điều trị ngay, tránh trường hợp bé bị táo bón nặng đến độ phân quá to và khô cứng, gây tổn thương nặng ở hậu môn.

Nguồn st

Đổ mồ hôi trộm ở trẻ em

Con của tôi được 1 tháng tuổi, cháu hay vặn vẹo người, hay đổ mồ hôi đầu, tối ngủ hay bị giật mình thức giấc khóc, lại hay bị trớ sữa sau khi bú. Như vậy cháu có bình thường không, cháu có bị thiếu can-xi không? Cháu vẫn bú sữa mẹ tốt, thỉnh thoảng có bú dặm thêm sữa bình. Bé lên cân và tăng chiều dài lẫn vòng đầu tốt khi đi khám định kỳ.

Đây là câu hỏi rất thường gặp; có thể nói là gần như tất cả các bà mẹ nào có con ở lứa tuổi sơ sinh đều thắc mắc như vậy, và thường họ không được giải thích kỹ càng hoặc thậm chí có khi được giải thích không chính xác nguyên nhân. Tất cả những biểu hiện như bạn mô tả của bé ở tuổi này đều là bình thường. Con người sinh ra vốn không hoàn chỉnh và luôn được hoàn thiện dần về thể chất và thần kinh trong lúc lớn lên. Em bé sơ sinh nói riêng và các bé nhũ nhi (dưới 1 tuổi) nói chung được sanh ra với hệ thống thần kinh cũng như nhiều hệ thống khác như tiêu hóa chưa được hoàn thiện, và sẽ được hoàn thiện khi bé lớn dần lên. Bởi vì hệ thần kinh của bé chưa hoàn thiện nên bé sẽ có những cử động không bình thường như uốn vặn mình, hay bị giật mình chới với tay chân, có thể bị giật mình thức giấc trong lúc ngủ và khóc ré lên. Thậm chí có bé bị giật cứng người khi nghe tiếng động bất thình lình. Ngoài ra, các bé sơ sinh còn có thể có các biểu hiện khác như hay nấc cụt, rặn khi đi tiêu (có khi rặn đỏ mặt tía tai) mà phân vẫn mềm hoặc hay đánh hơi (đánh rắm). Tất cả các biểu hiện trên có thể gặp ở tất cả những trẻ dưới 3-4 tháng tuổi và là biểu hiện bình thường ở tuổi này mà không phải do thiếu can-xi như nhiều người hay nhầm tưởng, và các biểu hiện này sẽ tự hết lúc 3-4 tháng tuổi mà không cần phải uống thêm các thuốc có can-xi.
700-01199016
Còn việc bé hay bị ọc sữa hay trớ sữa cũng là biểu hiện bình thường ở lứa tuổi nhũ nhi. Đó là do hệ thống tiêu hóa của trẻ chưa được hoàn chỉnh, dạ dày của bé nằm thẳng đứng hơn so với lứa tuổi lớn hơn, do đó trẻ dễ bị trào sữa ngược từ dạ dày lên thực quản và trớ ra miệng. Một lần nữa, đây cũng không phải là do thiếu can-xi như một số người nhầm tưởng, và tình trạng này sẽ giảm sau khi trẻ được 6-12 tháng tuổi.

Tôi cũng hay nghe các bà mẹ than phiền rằng con của họ hay bị đổ mồ hôi đầu và cũng được chẩn đoán là hạ can-xi máu. Thật ra điều này cũng không đúng. Đa số các trẻ em đều bị đổ mồ hôi đầu. Đó là do hệ thống thần kinh giao cảm của trẻ em hoạt động mạnh hơn ở người lớn, sự chuyển hóa ở trẻ em cao hơn ở người lớn, và nhiều lý do khác nữa.

Nếu như bé được bú mẹ (tỉ lệ can-xi trong sữa mẹ là tỉ lệ tối ưu cho việc hấp thụ) và bé lên cân, tăng chiều dài và vòng đầu bình thường thì không cần lo lắng gì nhiều về tăng trưởng của bé cả. Có điều bạn nên cho bé tắm nắng mỗi ngày khoảng 15-30 phút buổi sáng hoặc có thể bổ sung Vitamin D nếu không tắm nắng để giúp cho việc hấp thu và sử dụng can-xi được tốt nhất. Các bác sĩ có thể cho bé uống Vitamin D liều cao mỗi 6 tháng hoặc bổ sung Vitamin D liều thấp mỗi ngày (trong các chế phẩm thuốc gồm nhiều loại vitamin khác nữa như vitamin A, các loại vitamin B, …). Nếu bạn đang cho bé bú sữa mẹ thì hãy tiếp tục duy trì việc nuôi con bằng sữa mẹ. Một số bà mẹ lo sợ rằng sữa mẹ không đủ chất dinh dưỡng cho bé, nhất là các chất được quảng cáo là “làm cho bé thông minh” như DHA hay “làm cho bé cao hơn”. Thực ra, tất cả các chất như DHA đều có sẵn trong sữa mẹ, và các sữa nhân tạo đều cố gắng sản xuất chế phẩm sữa càng giống sữa mẹ càng tốt mà không làm được, nhất là các sữa nhân tạo đều không thể cung cấp cho bé các kháng thể để giúp bé chống lại bệnh tật.

Nguồn st

Sữa hữu cơ – lựa chọn tốt cho trẻ tăng trưởng

Trong thời buổi an toàn vệ sinh thực phẩm phức tạp  như hiện nay, các bà mẹ thường tìm đến những loại sữa được quảng cáo là “sạch” cho con, với mong muốn đảm bảo hệ tiêu hoá non nớt của trẻ sẽ không bị ảnh hưởng sau này. Nhưng một thực tế rằng, “sữa sạch” là một khái niệm khá mù mờ, và hầu như chỉ là một chiêu thức quảng cáo của các hãng sữa chứ không hề là một đảm bảo vàng cho sự phát triển sức khỏe lâu dài của trẻ.

Sữa sạch là gì? Thật bất ngờ là khi đặt câu hỏi này cho các chuyên gia dinh dưỡng cũng như các cơ quan quản lý đều nhận được một câu trả lời rằng: Không hề có khái niệm “sữa sạch”. Trên thị trường hiện nay chỉ có 2 loại: sữa an toàn và sữa không an toàn. Sữa không an toàn có thể được hiểu là các loại sản phẩm trôi nổi, không có nguồn gốc xuất xứ, không được công bố các tiêu chuẩn chất lượng cũng như tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm.
sua-36_0bafd
Còn lại, tất cả các sản phẩm sữa được lưu hành trên thị trường dưới sự kiểm định về chất lượng và các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm… thì đều là sữa an toàn. Điều quan trọng là lựa chọn sản phẩm nào thì phù hợp cho đối tượng nào, lứa tuổi nào, thể trạng nào… Riêng đối với trẻ em, cuộc tranh luận về chọn loại sữa an toàn nào thì phù hợp cho sự phát triển lành mạnh, tự nhiên của trẻ, đồng thời, nâng cao sức đề kháng, hệ thống miễn dịch tự nhiên, bảo vệ trẻ trước những nguy cơ bệnh tật về sau mới là điều khiến cho các bà mẹ Việt Nam thực sự phải đau đầu.

Tuy nhiên, trên thị trường sữa còn một loại sản phẩm khá đặc biệt với những ưu điểm hoàn toàn vượt trội hơn các sản phẩm “sữa an toàn” thông thường, và có thể là một lựa chọn dễ dàng hơn đối với các bà mẹ. Đó là sữa hữu cơ – organic milk. Hiện nay ở Việt Nam, chưa có một đơn vị nào sản xuất được loại sản phẩm này vì quá trình sản xuất yêu cầu một sự đầu tư rất bài bản, quy mô và tốn kém.

Khác biệt lớn nhất của sữa hữu cơ so với các loại sữa an toàn thông thường khác chính là nguồn nguyên liệu từ một quy trình sản xuất tự nhiên khép kín. Tại các trang trại nuôi bò sữa hữu cơ, nguồn thức ăn chăn nuôi phần lớn dựa vào sản phẩm tại trang trại – nguồn cỏ nuôi trồng tự nhiên không sử dụng thuốc trừ sâu, không phân bón hóa học, không chất bảo quản hay chất tạo màu và không có hạt giống biến đổi gen (GMO). Việc chọn giống bò cũng được tuân thủ theo quy trình nghiêm ngặt, nhằm chọn được giống có khả năng thích ứng được với điều kiện môi trường và khí hậu, góp phần xây dựng một quy trình chăn nuôi an toàn nhằm mang lại sản lượng sữa cao, sức khỏe tốt cho bò sữa và giới hạn nguy cơ nhiễm bệnh. Và thường thì bò được nuôi thả trên đồng cỏ tự nhiên. Vào mùa đông, khi nguồn cỏ tươi ít hơn thì động vật được ăn thêm cỏ khô hoặc ngũ cốc. Theo quy định thì đàn bò chỉ được chăm sóc một cách tự nhiên, nhằm mục đích giúp người chăn nuôi tránh xa với kháng sinh, chỉ có thể được sử dụng thuốc chống ký sinh trùng khi thật sự cần thiết. Người nuôi bò cũng cần phải trau dồi thường xuyên kiến thức về canh tác cũng như chăm sóc vật nuôi khỏe mạnh và mang lại sản lượng sữa cao.

Tuy nhiên, trên thực tế, sản lượng sữa của đàn bò được chăm nuôi bằng phương pháp organic thường không cao như khi được nuôi trồng bằng phương pháp công nghiệp thông thường. Điều này khiến cho giá thành của loại nguyên liệu này thường đắt đỏ hơn, khiến cho sản phẩm cuối cùng đến tay người tiêu dùng cũng không có giá cạnh tranh.

Đổi lại, người tiêu dùng có thể hoàn toàn yên tâm về chất lượng của nguồn nguyên liệu này.

Hơn thế, quy trình sản xuất sau thu hoạch đối với loại sữa hữu cơ cũng ngặt nghèo không kém. Để có được dòng sữa siêu sạch, an toàn cho sức khỏe toàn diện của con người, nhất là trong những sản phẩm dành cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, mọi khâu sản xuất sữa đều phải được tiến hành nghiêm chỉnh theo đúng tiêu chuẩn đặt ra của Luật Organic Food và phải có chứng nhận của các tổ chức quốc tế từ châu Âu và Mỹ.

Quy trình sản xuất này đảm bảo cho mọi nguy cơ nhiễm khuẩn, nhiễm kim loại nặng hay bất kỳ một thành phần vật lý – hóa học không cho phép nào khác thâm nhập vào sản phẩm cuối cùng, trước khi đưa ra thị trường. Theo lưu ý của các nhà sản xuất, người tiêu dùng khi lựa chọn các sản phẩm sữa hữu cơ cần quan tâm tới một số tính chất vật lý và hóa học quan trọng trong việc sản xuất sữa bột organic, bao gồm: hàm lượng nước, chất béo, độ tách béo, hàm lượng protein, hàm lượng chất khoáng, độ acid, tính hòa tan, số dư oxy trong bao bì sản phẩm (nhằm ngăn chặn tình trạng oxy hóa sản phẩm),… Điều quan trọng nhất là lựa chọn những nhãn hiệu sữa organic uy tín. Bởi như đã phân tích, giá thành sản phẩm này khá cao lại đang nhận được sự tin tưởng lựa chọn của người tiêu dùng nhưng hầu như không có điều gì ngăn cản được các nhà sản xuất hay phân phối gian trá lợi dụng các phương pháp mang lại lợi ích cho mình.

Có một tin vui đối với người tiêu dùng là Nature One – loại sữa hữu cơ hàng đầu của Mỹ với những tiêu chuẩn chất lượng quốc, sẽ sớm có mặt tại Việt Nam. Các bà mẹ sẽ không còn phải chờ đợi lâu nữa để có thể yên tâm lựa chọn một loại sữa thực sự an toàn với chất lượng vượt trội cho những đứa con thân yêu của mình.

Theo sức khỏe đời sống

Nước đối với trẻ em

Trẻ trong giai đoạn dưới 6 tuổi là giai đoạn não bộ phát triển nhanh nhất, vì thế nguồn dinh dưỡng cho giai đoạn này đóng vai trò rất quan trọng cho trẻ sau này. Trong đó, nước đóng vai trò quan trọng vì rất nhiều chất dinh dưỡng sau khi tan trong nước mới được phân giải; quá trình trao đổi chất của cơ thể cũng rất cần đến nước.

Nhu cầu nước của trẻ

Trẻ ở những độ tuổi khác nhau thì nhu cầu về lượng nước cũng khác nhau, từ 1 – 2 tuổi cần khoảng 600 – 1.000ml nước/ngày, 3 – 6 tuổi 1.000 – 1.500ml/ngày. Các chuyên gia khuyên nên cho trẻ uống một ly nước vào lúc sáng sớm ngay sau khi thức dậy, sau đó chia ra làm 5 – 6 lần để uống trong ngày lượng nước còn lại. Nên tập cho trẻ thói quen uống nước một cách chủ động, nên uống nước đã được đun sôi để nguội trong vòng từ 12 – 24 tiếng đồng hồ, không nên uống nước đã được để qua đêm, khi uống tốt nhất nên sử dụng ly thủy tinh, vừa bảo vệ môi trường, vừa tốt cho sức khỏe.
nuoc-doi-voi-tre-em_6339c
Trong vòng 24 tiếng đồng hồ, nếu thấy trẻ đi tiểu ít hơn 5 – 6 lần hoặc nước tiểu có màu vàng, hơi nặng mùi chứng tỏ trẻ đang bị thiếu nước. Uống ít trước khi ngủ và uống nhiều sau khi thức dậy. Khi vừa thức dậy cho trẻ uống nước khi bụng trống sẽ giúp ích cho tuần hoàn máu, thúc đẩy đại não tỉnh táo nhanh chóng.

Có nhiều người sai lầm khi cho rằng trong sữa mẹ hay sữa bò đã chứa lượng nước lớn hơn nữa lại có nhiều dinh dưỡng vì thế không cần cho trẻ uống thêm nước. Tuy nhiên, trẻ nhỏ cũng có nhu cầu uống nước như người lớn vì nước chiếm 65% thể trọng cơ thể đối với người trưởng thành và từ 70 – 75% đối với trẻ nhỏ. Do quá trình trao đổi chất ở trẻ diễn ra mạnh nên nhu cầu về lượng nước của trẻ nhiều hơn so với người lớn. Thông thường lượng nước trẻ cần mỗi ngày vào khoảng 150ml/kg thể trọng. Ngoài việc cho trẻ bú sữa thì việc cung cấp thêm lượng nước thích hợp cho trẻ là một điều rất cần thiết.

Do chức năng thận của trẻ vẫn chưa hoàn thiện, nếu không uống đủ nước sẽ làm cô đặc sữa, hay khi cho trẻ ăn lượng muối cho vào thức ăn quá lượng sẽ làm tăng gánh nặng lên bộ phận thận của trẻ.

Thời gian thích hợp cho trẻ uống nước

Thời gian tốt nhất nhắc nhở trẻ uống nước là giữa hai cữ bú, vừa mới thức dậy hay trẻ vừa mới vận động vui chơi, vừa mới tắm xong… Những thời điểm trên cũng là khoảng thời gian trẻ dễ hấp thu nhất.

Việc uống nước trước khi ăn cũng cần quan tâm uống sao cho đúng cách. Nên cung cấp cho cơ thể lượng nước nhất định trước ba bữa ăn khoảng 1 tiếng đồng hồ vì quá trình tiêu hóa thức ăn cần có sự hỗ trợ của dịch tiêu hóa của cơ quan tiêu hóa. Uống nước trước khi ăn thì lượng nước đó sẽ ở trong dạ dày từ 2 – 3 phút sau đó sẽ nhanh chóng vào ruột non, được hấp thu vào máu khoảng 1 tiếng đồng hồ sau sẽ cung cấp cho toàn bộ các tế bào cần cung cấp nước. Uống nước trước khi ăn có thể đảm bảo lượng dịch tiêu hóa tiết ra đầy đủ, mặt khác sẽ giúp cho việc hấp thu dinh dưỡng của cơ thể đồng thời không gây ảnh hưởng hàm lượng nước sinh lý trong các tổ chức tế bào cơ thể. Hơn nữa, trước khi ăn sáng càng nên uống nước vì khi ngủ một đêm cơ thể đã bị mất lượng nước lớn, huyết dịch bị cô đặc lại; do đó nước sẽ làm giảm độ cô đặc của máu, làm huyết quản giãn nở về trạng thái bình thường. Khi bụng trống nên uống nước ấm, cũng có thể dùng nước trái cây, trà nhạt, nước rau quả… sữa bò, sữa đậu nành, các món canh không nên dùng khi bụng trống mà nên dùng sau khi bụng đã no.

Những lưu ý khi cho trẻ uống nước

Không khát cũng phải uống. Đối với trẻ thường có tâm lý chỉ uống nước khi thấy khát, nhưng một khi miệng thấy khát thì lượng nước trong cơ thể đã bị mất cân bằng, trung khu thần kinh phát ra tín hiệu đòi hỏi cơ thể phải cung cấp nước. Khát mới uống nước ví như đất trồng bị khô nứt mới tưới nước, điều này sẽ ảnh hưởng đến năng suất trồng trọt, do đó khi chưa có cảm giác khát nước cũng cần phải uống nước.

Trẻ nên hạn chế sử dụng ly nhựa, ly giấy, hạn chế uống nước suối, nước đóng chai, không nên uống nước chưa được đun sôi hay nước được nấu đi nấu lại nhiều lần. Hiện nay nhiều bậc cha mẹ thay thế nước bằng các loại nước ngọt có ga, sữa tươi cho trẻ, việc này là một sai lầm làm cho trẻ dễ bị béo phì, khi trưởng thành dễ mắc các bệnh mãn tính như: đái tháo đường, cao huyết áp…

Trước khi cho trẻ bú không nên cho trẻ uống nước, càng không nên cho uống nước ngọt nếu không sẽ làm cho trẻ giảm cảm giác thèm ăn hay bú sữa nữa.

Nước tốt nhất là loại đun sôi để nguội vì chúng sẽ lập tức được cơ thể hấp thu và sử dụng, tham gia vào quá trình trao đổi chất của cơ thể, thúc đẩy bài tiết, hơn nữa không gây gánh nặng cho thận.

Một số thời điểm quan trọng

Tiêu chảy: khi trẻ bị tiêu chảy thì các nguyên tố khoáng bị mất đi, đặc biệt là Natri và Kali do vậy cần bổ sung cho trẻ uống bổ sung nước oresol pha đúng theo chỉ dẫn trên bao bì, vừa bù lại lượng nước mất đi do tiêu chảy và chống thất thoát chất điện giải cho cơ thể.

Khi vào mùa hè: ngoài việc cho trẻ uống nhiều nước ấm còn có thể cho trẻ uống thêm nước đậu xanh, xi-rô mơ và nước dưa hấu… giúp trẻ bổ sung lượng nước được kịp thời, còn có tác dụng tán nhiệt, điều tiết nhiệt độ cơ thể. Ngoài ra, xi-rô mơ còn là thức uống khai vị cho trẻ, nước dưa hấu có tác dụng lợi tiểu, giải nhiệt. Thời tiết oi bức làm trẻ ra mồ hôi nhiều dễ gây nóng trong người, lúc này có thể cho trẻ uống thêm nước bí đao.

Khi trẻ bị sốt, ho: khi trẻ bị sốt hay ho đều cần bổ sung nước kịp thời cho trẻ. Nước sẽ có tác dụng thanh phế, thanh nhiệt; quả lê hay củ mã thầy nấu chung với nước có tác dụng bồi lại lượng nước, thanh phế, trị ho… Đối với trẻ lớn hơn có thể cho uống nước trái cây ép trong đó có chứa nhiều vitamin sẽ nâng cao hệ miễn dịch cho trẻ.

Nguồn sức khẻo đời sống

Dị ứng thực phẩm ở trẻ

Trong khi hầu hết trẻ em đều có thể ăn nhiều thực phẩm khác nhau mà không gặp bất kỳ rắc rối nào, một số ít trẻ nhỏ lại bị dị ứng thức ăn. Dị ứng thức ăn tưởng chừng không có gì nguy hiểm nhưng lại có thể gây tử vong. Do đó, các bậc cha mẹ nên làm quen với các triệu chứng cũng như tìm hiểu cách điều trị khẩn cấp khi bé bị dị ứng.

Dấu hiệu của dị ứng thực phẩm

Khi sử dụng một thực phẩm nào đó, ngay cả với một lượng rất nhỏ, ta có thể bị các phản ứng dị ứng như nổi mẩn ở da, chảy mũi hay ngứa mắt. Một loại thực phẩm nào đó có thể gây phản ứng dị ứng được gọi là dị nguyên thực phẩm, nó thường là thành phần protein (đạm) trong thực phẩm.Cơ thể phản ứng với các thực phẩm gây dị ứng có thể nhanh hoặc chậm, sau vài phút, thậm chí vài giờ. Các triệu chứng thường biểu hiện nhẹ và mạn tính hơn là xuất hiện đột ngột, tuy nhiên, triệu chứng dị ứng ở mỗi người khác nhau.
di-ung-thuc-pham
Dị ứng không phải là bệnh di truyền. Tuy nhiên, nếu một trong 2 người (bố hoặc mẹ) bị dị ứng, nguy cơ dị ứng ở các con là 50%; nếu cả bố và mẹ bị dị ứng, nguy cơ dị ứng ở con lên đến 75%.

Một số thực phẩm dễ gây dị ứng cho trẻ

Hải sản: Các loại hải sản là tác nhân gây dị ứng nhiều nhất, bao gồm một số loại cá có hàm lượng thủy ngân cao (cá trích, cá chình, lươn, cá tầm, cá ngừ, cá thu…), nghêu sò, tôm, cua…

Thực phẩm chua: Một số loại trái cây rất tốt cho sức khỏe như dâu tây, cà chua… lại có thể là tác nhân gây dị ứng thực phẩm ở trẻ do hàm lượng axít cao. Nhiều trẻ ăn những thực phẩm này thường bị mẩn đỏ quanh miệng. Đây là loại dị ứng nhẹ, các chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo trẻ dưới một tuổi không nên ăn đồ chua.

Trứng: Trong lòng trắng trứng gà có một loại protein có thể gây dị ứng cho một số bé mẫn cảm với loại chất này.

Một số loại rau xanh: Một số loại rau xanh có hàm lượng nitrat cao có thể phản ứng không tốt với cơ địa của trẻ nhỏ. Do vậy, trẻ nhỏ nên thận trọng khi ăn củ cải, cà rốt, củ cải xanh…

Ngũ cốc: Trong số ngũ cốc có thể gây dị ứng thì lạc là nguyên nhân gây hậu quả xấu đặc biệt với trẻ bị hen suyễn. Sau đó là đậu nành và lúa mì.

Sữa bò: Dị ứng sữa bò cũng là tình trạng hay gặp. Đó là tình trạng cơ thể của trẻ mẫn cảm với thành phần đạm sữa bò, gây ra phản ứng dị ứng. Dị ứng xảy ra có thể rất đột ngột: nôn mửa, thở khò khè, nổi ban đỏ, mặt sưng phù, hay nặng hơn là phản ứng phản vệ toàn thân. Cũng có trường hợp dị ứng diễn ra khó phát hiện hơn như trẻ khó chịu, nôn mửa, đau bụng, tiêu chảy…

Phân biệt dị ứng thực phẩm với không dung nạp thực phẩm

Đôi khi phản ứng khó chịu với một số loại thực phẩm xảy ra ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ không hẳn là dị ứng, đó là triệu chứng không tiêu hóa được thực phẩm. Nguyên nhân của triệu chứng này có thể là do cơ thể không có khả năng tiêu hóa một số thành phần nhất định của loại thức ăn đó, nó không liên quan đến phản ứng của hệ miễn dịch. Triệu chứng này không nguy hiểm đến tính mạng.

Không dung nạp lactose là một ví dụ điển hình của triệu chứng này. Chính vì vậy, khi có biểu hiện của dị ứng thực phẩm, cần đưa trẻ tới các cơ sở y tế để được thăm khám, xác định chính xác trẻ bị dị ứng thức ăn hay chỉ đơn thuần là không dung nạp thức ăn.

Cách phòng tránh dị ứng cho trẻ

Những trẻ được sinh ra trong gia đình có người mắc các bệnh dị ứng sẽ dễ bị dị ứng thức ăn nên cần được bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu. Khi trẻ bước sang tuổi ăn dặm, không nên vội vã cho ăn nhiều loại thức ăn mới cùng lúc. Nên bắt đầu với các thức ăn ít dị ứng như gạo và các loại củ. Tránh cho trẻ dùng các loại thức ăn chế biến theo lối công nghiệp như thịt lợn xông khói, thịt lợn muối, các chất nhuộm màu, gia vị nhân tạo.

Nên tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa dị ứng khi bạn nghi ngờ con mình dị ứng với một loại thức ăn nào đó. Khi biết trẻ dị ứng với một loại thức ăn nào đó, nên loại bỏ nó ra khỏi thực đơn của trẻ. Không nên chế biến hoặc đựng thức ăn của trẻ trong các dụng cụ có dính các thức ăn mà trẻ dị ứng.

Tuy nhiên, dị ứng thức ăn không kéo dài suốt cả đời, chính vì thế bạn không cần bắt trẻ kiêng khem kéo dài một loại thực phẩm nào cả. Sau một thời gian, bạn có thể cho trẻ ăn lại thức ăn đó (ngoại trừ những món gây phản ứng dị ứng cấp tính như sốc phản vệ).

Theo sức khỏe đời sống

Lackid – Giải pháp mới cho bé kém hấp thu

Men vi sinh được các bà mẹ hiện đại nhắc đến nhiều như một liệu pháp giúp giải quyết vấn đề tiêu hóa, kém hấp thu ở trẻ. Thông thường mỗi loại men vi sinh có chứa các thành phần chất dinh dưỡng khác nhau, nhưng hầu hết đều có điểm chung là giúp hỗ trợ tiêu hóa, tăng hấp thu. Men vi sinh Lackid của công ty Rexgene Biotech (Hàn Quốc) vừa đưa vào Việt Nam không chỉ là sản phẩm duy nhất trên thị trường hiện nay có chứa thành phần sữa non chuẩn hóa (CBP) mà còn kết hợp một cách khoa học năm loại lợi khuẩn giúp tăng hấp thu, phát triển chiều cao tối ưu và tăng sức đề kháng.

Được Tổ chức Y tế Thế giới khuyên dùng
fitnesslines-Kids-e64c2
Theo các chuyên gia dinh dưỡng nhi khoa, biểu hiện của trẻ khi gặp vấn đề kém hấp thu là trẻ ăn nhiều và đủ chất nhưng lại không tăng cân, còi cọc. Thông thường vấn đề kém hấp thu ở trẻ thường xảy ra vào lứa tuổi từ 6 tháng đến 3 tuổi, đặc biệt đối với trẻ ở độ tuổi ăn dặm. Nguyên nhân là khi bắt đầu chuyển từ chế độ ăn sữa sang những thức ăn khác sữa, sự thay đổi chế độ ăn đột ngột này thường dẫn đến việc thiếu men vi sinh hỗ trợ tiêu hóa làm cho khả năng hấp thu của trẻ yếu đi.

Khi trẻ hấp thu kém thì vô hình đã bỏ qua một số dưỡng chất quan trọng giúp cho sự phát triển toàn diện của trẻ. Đặc biệt, khi trẻ kém hấp thu nước, các chất dinh dưỡng, điện giải, muối, sinh tố, các nguyên tố vi lượng, sau một thời gian nếu không được giải quyết kịp thời thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và sự phát triển của trẻ. Việc trẻ kém hấp thu sẽ khiến cơ thể không thể tiếp nhận được nguồn dinh dưỡng tối ưu trong thời gian dài từ đó dẫn đến việc trẻ bị suy dinh dưỡng, nhất là thể suy dinh dưỡng thấp còi, kém thông minh và sức đề kháng yếu.

Theo một số nghiên cứu của các chuyên gia của WHO cùng Hiệp hội Thực phẩm và Nông nghiệp của Liên Hợp quốc, men vi sinh Lackid có sự kết hợp một cách khoa học của năm loại lợi khuẩn sẽ giúp trẻ hấp thu tốt, đồng thời hỗ trợ tiêu hóa. Nhóm nghiên cứu trên cũng cho thấy rằng nếu thiếu một loại lợi khuẩn cũng sẽ làm suy giảm khả năng hấp thu ở trẻ, do vậy với sự kết hợp trên, men vi sinh Lackid sẽ giúp trẻ hấp thu tối đa dưỡng chất.

Bên cạnh đó, nhờ vào công nghệ bào chế hiện đại, năm loại lợi khuẩn của Lackid được bảo vệ bằng lớp bao vi nang giúp bảo vệ lợi khuẩn không chết trong dịch vị dạ dày giúp lợi khuẩn phát huy được tối đa tác dụng.

Phát triển chiều cao và tăng sức đề kháng

Nhiều người vẫn cho rằng yếu tố nòi giống quyết định rất lớn đến việc phát triển cân nặng và chiều cao của trẻ. Tuy nhiên, chiều cao của trẻ lại chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố khác như dinh dưỡng và thể thao. Một số nghiên cứu khoa học do nhóm giáo sư Hàn Quốc thực hiện đã chứng mình rằng sữa non là một hỗn hợp của những thành phần hoạt chất sinh học giúp thúc đẩy quá trình tăng trưởng chiều cao của trẻ do sữa non chứa các thành tố tăng mật độ, thể trọng và trọng lượng xương, thúc đẩy sự hình thành xương và ngăn chặn sự phá hủy cấu trúc của xương.

Hiện nay, các nhà khoa học Hàn Quốc đã nghiên cứu được việc ứng dụng những lợi ích vượt trội của sữa non, tạo ra sữa non chuẩn hoá (CBP) để giúp trẻ tăng trưởng chiều cao tối ưu và hệ miễn dịch tốt và đưa vào sản phẩm men vi sinh Lackid. Thành phần sữa non chuẩn hoá trong sản phẩm men vi sinh Lackid được chiết xuất từ sữa non của bò sữa sau quá trình tiệt trùng, chuyển hóa để có được thành phần tối ưu nhất. Sau khi hoàn thành, sữa non chuẩn hoá có trong Lackid chính là chất giúp bé tăng trưởng chiều cao và sức đề kháng tốt nhất. Các thành phần hoạt chất có trong sữa non được xác định cung cấp nhiều dưỡng chất giúp kích thích sự phát triển của đường tiêu hóa nhiều hơn so với những loại sữa thông thường. Nó giúp trẻ hấp thu nhiều chất dinh dưỡng hơn qua chế độ ăn uống, việc này sẽ có tác động sớm và gián tiếp đến tốc độ tăng trưởng chung của trẻ.

Theo sức khỏe đời sống

Công dụng thực sự của DHA, ARA, cholin?

Nhiều bà mẹ vẫn cho rằng, trẻ phải uống sữa bò bổ sung DHA, ARA, cholin mới “khỏe và thông minh” nên cứ bắt trẻ phải uống sữa theo định mức mình tự đặt ra (thường khá cao) mà không chú ý cho trẻ ăn đủ cân đối các chất khác hoặc cho trẻ  uống no sữa nên biếng ăn các chất khác. Đây là cách  làm vừa không khoa học vừa tốn tiền.

Công dụng thực sự của DHA, ARA, cholin?

Có một số acid béo thiết yếu: Omega-3 gồm DHA (docosopentanoic acid); EPA (eisosapentaenoic acid), ALA (alphalinoleic acid)- Omega-6 là linoleic acid, tiền chất của ARA (arachiodinic acid).Trong cơ thể người, ALA có thể chuyển thành DHA và Omega-6 có thể chuyển thành ARA. DHA là thành phần căn bản cấu tạo nên tế bào não, giúp cho não phát triển, hoàn thiện. ARA là tiền chất sinh ra chất kháng viêm prostaglandin. Cả DHA, ARA đều tăng cường khả năng miễn dịch.
aacsua2-3c0b0
Cholin là nguyên liệu tạo ra chất cấu tạo màng tế bào (phosphatidylcholin), tham gia vào việc tạo ra mật để chuyển hóa chất béo, cũng là nguyên liệu tạo ra chất dẫn truyền thần kinh acetylcholin.

Theo báo cáo, công bố trên PASEP Journal: cho chuột mới lớn ăn thực phẩm chứa DHA, ARA, cholin thì  nhóm chuột này vượt qua ma trận (các lối đi rắc rối) tốt hơn, có tế bào thần kinh phát triển hoàn thiện hơn so với nhóm chuột chứng không ăn các chất này. Sơ bộ nhận xét: DHA, ARA, cholin làm cho tế bào thần kinh chuột phát triển tốt hơn, nhận thức khá hơn. Tuy nhiên, chưa có thể suy ra trực tiếp cho người, chưa có thực nghiệm nào trên người.

DHA, ARA, cholin giúp cho não trẻ dưới 2 tuổi  phát triển, hoàn thiện và qua đó  mà hoàn thiện hoạt động não bộ. Não của thai nhi 24 tuần tuổi chỉ nặng có 100g chưa hoàn chỉnh, lúc sinh ra nặng 350 – 400g, đến 2 tuổi nặng 1.000g với các tế bào thần kinh khá hoàn chỉnh. Nhu cầu về năng lượng, chất dinh dưỡng thiết yếu cho não trẻ nhỏ rất cao. Mặt khác, khả năng miễn dịch của trẻ nhỏ kém. Các chất DHA, ARA, cholin… vừa giúp cho sự phát triển não bộ, vừa làm cho trẻ có khả năng chống lại bệnh tật. Nhưng khi trẻ trên 2 tuổi, tế bào thần kinh đã phát triển hoàn thiện, chỉ cần cung cấp thức ăn để chúng có đủ lượng DHA, ARA, cholin cần thiết, giúp cho sự hoạt động của não và cơ thể bình thường, chứ không dùng thuốc cholin kích thích hay cho trẻ ăn thật nhiều DHA để thông minh hơn.

Về lý thuyết, vì cholin là nguyên liệu tạo ra chất dẫn truyền thần kinh acetylcholin, nên có thể dùng cholin chữa bệnh sa sút trí tuệ Alzheimer. Tuy nhiên, trong thử nghiệm đã dùng với liều cholin 16g/ngày (hay với liều tiền chất của nó lecithin là 25 – 100g/ngày) vẫn không cải thiện tình trạng bệnh. Tuy vậy, người ta vẫn dùng cholin alfocerat (biệt dược: gliatilin)để phục hồi trí nhớ, phòng ngừa các biến đổi thần kinh trong trường hợp thiểu năng tuần hoàn não (hoa mắt, nhức đầu, chóng mặt, mất định hướng, giảm vận động, hay quên do tuổi già), sau tai biến mạch máu não, sau chấn thương não, sa sút trí tuệ (Alzheimer). Ngoài đó ra, riêng cholin còn được dùng trong một số dạng hội chứng ngoại tháp (EPS = Extra  pyramidal  symtomps) do làm tăng chất dẫn truyền acetylcholin nhưng hiệu quả lâm sàng cũng hạn chế. Tuy những thử nghiệm này thực hiện trên người lớn nhưng các bà mẹ nuôi con cũng có thể rút ra kết luận: cholin chỉ giúp cho dẫn truyền thần kinh, nhằm đảm bảo hoạt động bình thường chứ không phải là thuốc làm tăng trí nhớ, tăng sự thông minh. Sự thông minh phụ  thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có yếu tố di truyền dân tộc, dòng họ, gia đình và môi trường giáo dục, môi trường sống, chứ không thể tạo ra chỉ bằng DHA, ARA, cholin.

Sữa bò bổ sung DHA, ARA, cholin có tốt hơn sữa mẹ không?

Sữa bò (và các loại sữa dê, trâu) không có hàm lượng DHA, ARA, cholin bằng  sữa mẹ. Dựa trên nồng độ các chất này trong sữa mẹ mà FDA (Mỹ) quy định nồng độ DHA, ARA, cholin trong sữa bò bổ sung nhằm làm cho những chất này trong sữa bò có hàm lượng bằng với hàm lượng trong sữa mẹ, chứ không phải loại sữa bò bổ sung DHA, ARA, cholin là tốt hơn sữa mẹ. Thêm nữa, cho dù có bổ sung các chất này vào sữa bò cho có hàm lượng bằng sữa mẹ chăng nữa, sữa mẹ vẫn tốt hơn sữa bò vì sữa mẹ có chứa các kháng thể giúp cho trẻ có khả năng chống lại bệnh tật trong thời kỳ đầu, khi trẻ chưa có khả năng sản xuất ra kháng thể. Ngoài ra, các thành phần khác trong sữa mẹ thích hợp với sự hấp thu của trẻ hơn.

Tiền chất khác với chất DHA, ARA, cholin thế nào?

Cơ thể người có thể chuyển một số tiền chất thành DHA, ARA, cholin: ăn nhiều cá béo (thu, ngừ, trích, nhám, mực, cua, chép, trê, mè, lươn, tôm), nhiều dầu (đậu nành, hướng dương, vừng, dầu bắp) chứa omega-3, omega-6 và các loại acid oleic khác sẽ giúp cơ thể có nhiều DHA, ARA, cholin. Ăn lòng đỏ trứng, sữa, não, tủy, các loại đậu sẽ giúp cơ thể có nhiều cholin. Người Việt Nam (và châu Á) trước đây ít dùng sữa nhưng trẻ em lớn lên vẫn khỏe mạnh về thể chất và tinh thần một phần là nhờ vào tập quán ăn uống và sự chuyển hóa này.

Tuy nhiên, quá trình chuyển từ tiền chất thành các chất trên rất phức tạp. Chẳng hạn từ alphalinoleic acid (ALA), một phân tử chỉ có 18 C với 3 nối đôi, chuyển thành DHA, một phân tử có 23 C với 6 nối đôi, phải qua 6 bước chính, với sự tham gia của nhiều enzym. Cơ thể người lớn có khả năng, nhưng có thể trẻ nhỏ không có khả năng thực hiện sự chuyển hóa này. Ngay với người lớn, quá trình chuyển hóa này cũng lệ thuộc vào cơ địa từng người, thường thấp, không hoàn toàn chắc chắn. Tạp chí American Journal Clinic Nutrient – 2003 dẫn một nghiên cứu cho biết: dùng acid anpha linoleic (ALA) liều cao (mỗi ngày 9,5g) trong 3 – 6 tháng vẫn không thấy gia tăng DHA- máu, trong khi đó dùng DHA liều thấp hơn (mỗi ngày 0,8gam) thì thấy tăng rõ rệt DHA- máu. Trong một số trường hợp cần (như trẻ dưới 2 tuổi, người có thai cho con bú, người sau khi sinh đẻ) nên dùng các sản phẩm chứa sẵn DHA, ARA, cholin. Hơn là loại sản phẩm chỉ chứa các tiền chất của chúng.

Vận dụng các hiểu biết vào thực tế như thế nào?

DHA, ARA, cholin rất cần cho trẻ dưới 2 tuổi  để phát triển và hoàn thiện tế  bào thần kinh, qua đó mà phát triển và hoàn thiện sự hoạt động của não bộ. Do vậy, việc  cung cấp cho trẻ DHA, ARA, cholin ở thời điểm này là hết sức cần thiết, bằng mọi cách cần cung cấp đủ cho trẻ. Bình thường sữa mẹ có nồng độ DHA, ARA, cholin  cao hơn sữa bò cho nên phải coi sữa mẹ là nguồn cung cấp tốt nhất các chất này. Bà mẹ cần ăn đủ và cân đối chất để có nguồn sữa tốt có đủ hàm lượng DHA, ARA, cholin cho con. Trong trường hợp bà mẹ mất sữa hoặc không đủ sữa, hoặc có sữa nhưng chất lượng kém hoặc vì lý do nào đó mà không có điều kiện cho con bú đủ bữa sữa mẹ hoặc cai sữa sớm thì cần thiết  phải dùng sữa bò có bổ sung đủ hàm lượng DHA, ARA, cholin thay thế vào phần thiếu hụt sữa mẹ. Chương trình chăm sóc bà mẹ trẻ em có khuyến cáo, bà mẹ nên cho con bú sữa mẹ đủ 24 tháng và chỉ thay sữa mẹ bằng sữa khác khi thật cần thiết là  dựa trên cơ sở khoa học này.

Trẻ  trên 2 tuổi hay lớn hơn thì vẫn cần DHA, ARA, cholin nhưng lúc này tế bào thần kinh đã phát triển, hoàn thiện nên nhu cầu đó không còn cao và bức bách như khi dưới 2 tuổi. Cho nên chỉ cần cho trẻ ăn đủ, cân đối chất  thì sẽ có đủ DHA,  ARA, cholin cho hoạt động bình thường của  não và cơ thể. Nhiều bà mẹ chưa hiểu kỹ điều này mà vẫn cho rằng trẻ phải uống sữa bò bổ sung DHA, ARA, cholin mới “khỏe và thông minh” nên cứ bắt trẻ phải uống sữa theo định mức mình tự đặt ra (thường khá cao) mà không chú ý cho trẻ ăn đủ cân đối các chất khác hoặc cho trẻ  uống no sữa nên biếng ăn các chất khác.

Về mặt ăn uống: nước ta có các loại cá béo như  thu, ngừ, trích, nhám, chép, trê, mè, mực, cua, lươn, tôm… có chứa omega-3, và các loại trứng (gà, vịt) chứa nhiều cholin. Ăn mỗi tuần hai bữa các loại cá, trứng thì cũng có đủ  DHA, cholin. Nước ta cũng có một nguồn dầu (đậu nành, hướng dương, vừng, dầu bắp) chứa omega-3, omega-6 và các loại acid oleic khác sẽ giúp cơ thể có nhiều DHA, ARA, cholin (với trẻ lớn hay người lớn có khả năng chuyển hóa).

Về chất lượng sữa: trên thị trường vẫn có loại sữa bò không bổ sung hay chỉ bổ sung tiền chất hay có bổ sung các chất DHA, ARA, cholin nhưng không đủ hàm lượng. Khi đã dùng sữa bò thay cho phần thiếu hụt sữa mẹ thì phải dùng đúng loại sữa bò bổ sung đủ hàm lượng các chất DHA, ARA, cholin. Nồng độ được coi là đủ trong 100g sữa bột gồm: DHA = 74mg (tức là 17mg/100kcalo); ARA = 152mg (tức 34mg/100kcalo); cholin = 160mg/lít (tức 24mg/100kcalo).

Về sản phẩm: với đối tượng cần dùng sữa (trẻ dưới 2 tuổi), sản phẩm tốt nhất là sữa bò bổ sung DHA, ARA, cholin đủ hàm lượng. Với đối tượng không cần hay không thích dùng sữa (như trẻ lớn tuổi, bà mẹ nuôi con bú, bà mẹ có sữa nhưng nghi ngờ sữa chưa tốt, bà mẹ sau sinh có rối loạn tâm thần, những người có bệnh về não, mắt, gan, da…) thì có thể dùng loại thực phẩm chức năng Natural omega 3-6-9. Loại này chứa omega-3 từ dầu cá hồi nguyên chất và omega 6-9, làm thành dạng viên nang, không trộn với sữa. Dùng loại này sẽ đủ DHA, ARA, cholin song tiện lợi và tiết kiệm hơn.

DS.CKII. BÙI VĂN UY

Theo sức khỏe đời sống

Không nên cho trẻ uống mật ong khi còn quá nhỏ

Mật ong chứa khá nhiều chất dinh dưỡng, nên có tác dụng tốt với sức khoẻ, như bù đắp năng lượng, tăng sức đề kháng, sát trùng, chữa viêm loét dạ dày – tá tràng, an thần, cải thiện giấc ngủ, làm mềm da, liền sẹo, chữa phỏng nhẹ, vết côn trùng đốt… Tuy nhiên, mật ong dù tốt nhưng không phải ai dùng cũng thích hợp.

Nhiều bà mẹ có thói quen khi trẻ bị tưa lưỡi thì dùng mật ong rơ lưỡi trẻ, hay lúc trời trở lạnh cho con uống mật ong để mát phổi, tăng đề kháng, bổ não… Đây là những cách làm có thể gây hại cho trẻ. Một số công trình nghiên cứu phát hiện trong đất và bụi có vi khuẩn clostridium botulinum, trong quá trình ong đi lấy mật có thể mang phấn hoa và mật chứa loại vi khuẩn này về tổ, khiến mật ong bị nhiễm khuẩn. Trẻ dưới 12 tháng tuổi, do đường ruột chưa hoàn thiện, đề kháng còn yếu nên uống mật ong rất dễ ngộ độc botulism, là độc tố của vi khuẩn clostridium botulinum, với những biểu hiện yếu cơ, khó thở, táo bón, mệt mỏi, bỏ bú sữa, khóc dai dẳng, suy khả năng vận động… Nếu nặng sẽ ảnh hưởng đến hệ thần kinh và có thể gây tử vong. Ngoài ra, trong mật ong còn có hàm lượng hormone nhất định, uống thời gian dài dễ khiến trẻ dậy thì sớm.
cho-nen-cho-tre-uong-mat-ong
Để an toàn, không nên cho trẻ uống mật ong khi còn quá nhỏ (dưới 12 tháng tuổi). Bé đã hơn một tuổi chỉ thi thoảng dùng một ít. Trẻ đã trên mười tuổi thì có thể cho uống nhiều hơn. Khi cho trẻ uống mật ong nên pha với nước ấm, sẽ dễ hấp thụ hơn là uống trực tiếp. Nên cho trẻ uống mật ong trước bữa ăn chừng một tiếng đồng hồ hoặc sau bữa ăn 2 – 3 tiếng. Mật ong có tính hơi lạnh, tác dụng tăng cường co bóp đường ruột, giúp rút ngắn thời gian đại tiện, vì vậy với những trẻ có đường tiêu hoá không tốt, đầy bụng hoặc đi ngoài cũng cần thận trọng khi sử dụng.

Nguồn sức khỏe đời sống

Phòng bệnh viêm phổi ở trẻ

Viêm phổi là tình trạng tổn thương cấp tính, gây rối loạn trao đổi khí, dẫn đến suy hô hấp tiến triển nặng.

Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh viêm phổi do nhiều nguyên nhân gây nên như vi khuẩn, virus, nấm, ký sinh trùng… Bệnh có thể lây truyền từ người này sang người khác, từ súc vật sang người. Trẻ em có thể bị bệnh sau khi tiếp xúc với người lớn mắc bệnh 2 – 3 tuần.

Viêm phổi do virus có thể gây thành dịch nguy hiểm. Ở trẻ càng nhỏ, diễn biến bệnh càng nhanh và nặng. Những trẻ suy dinh dưỡng, suy giảm miễn dịch, có dị tật bẩm sinh về tim mạch, phổi, lồng ngực, đẻ thiếu cân… rất dễ mắc bệnh.
phong-benh-viem-phoi-o-tre
Biểu hiện của bệnh

– Giai đoạn sớm: Có thể trẻ chỉ sốt nhẹ, ho húng hắng, chảy nước mắt và nước mũi, khò khè, ăn kém, bỏ bú, quấy khóc…

– Giai đoạn sau: Nếu trẻ không được điều trị đúng và theo dõi sát, bệnh sẽ diễn biến nặng hơn với biểu hiện sốt cao, ho tăng lên, có đờm, khó thở, thở nhanh, rút lõm lồng ngực, bỏ bú hoặc bú kém, tím môi, tím đầu chi…

Ngoài ra, trẻ có thể bị tiêu chảy, nôn, đau bụng… Tình trạng này kéo dài sẽ gây thiếu oxy cung cấp cho não, trẻ sẽ li bì hoặc bị kích thích, co giật…

Nguyên tắc điều trị:

Để điều trị viêm phổi ở trẻ các bậc cha mẹ cần chống nhiễm khuẩn, chống suy hô hấp, chăm sóc tốt:

– Ở tuyến cơ sở: Cần nhỏ mũi bằng dung dịch sát khuẩn nhẹ natri cloxit 9%o, súc miệng hằng ngày. Có thể dùng một số loại kháng sinh khi có tình trạng nhiễm trùng như penicillin, amoxicillin, erythromycin… Tốt nhất nên dùng đường uống, dạng siro. Khi tình trạng bệnh của trẻ không cải thiện, cha mẹ nên chuyển bé lên tuyến trên.

– Khi trẻ viêm phổi nặng: Nên nằm điều trị nội trú tại bệnh viện, theo dõi sát diễn biến của bệnh và có biện pháp xử trí kịp thời. Nếu tìm được nguyên nhân gây bệnh nên dùng kháng sinh dựa theo kháng sinh đồ. Nếu không có kháng sinh đồ nên dựa vào lứa tuổi, diễn biến của bệnh mà lựa chọn các loại kháng sinh phổ rộng như: gentamicin, amoxicillin, cefotaxime, cefuroxim…

– Điều trị hỗ trợ: Hạ nhiệt bằng paracetamol, chườm mát… làm thông thoáng đường thở bằng cách hút đờm dãi, nằm đầu cao, nới rộng quần áo. Cho thở oxy khi trẻ có biểu hiện suy thở. Nếu tím tái nặng, ngừng thở thì có thể đặt ống nội khí quản, hô hấp hỗ trợ… Khi trẻ sốt cao kéo dài, có biểu hiện mất nước, cần truyền dịch.

– Chăm sóc: cho trẻ ăn lỏng, dễ tiêu, đủ chất, số lượng vừa phải, tránh trào ngược. Đảm bảo vệ sinh sạch sẽ và cần phải theo dõi sát tình trạng khó thở, tím tái.

Đề phòng viêm phổi ở trẻ:

Các bậc cha mẹ cần chú ý những lưu ý sau để giúp trẻ không bị viêm phổi:

– Nơi ở phải đầy đủ ánh sáng, thoáng mát, lưu thông không khí tốt, ấm áp về mùa đông. Vệ sinh sạch sẽ cho trẻ, cho súc miệng hàng ngày. Không hút thuốc, đun nấu trong phòng có trẻ nhỏ. Cách ly trẻ với người bị bệnh để tránh lây lan thành dịch.

– Phát hiện sớm các biểu hiện sớm của bệnh viêm đường hô hấp nói chung như: ho, sốt, chảy nước mũi, khó thở… và các rối loạn khác như tiêu chảy, ăn kém, chậm tăng cân…

– Đảm bảo cho trẻ có một sức khỏe tốt. Khi mang thai, bà mẹ phải khám thai đầy đủ, đảm bảo thai nhi phát triển tốt, có chế độ ăn đủ chất dinh dưỡng như protid, lipid, các loại vitamin, muối khoáng… Nên cho trẻ bú mẹ từ ngay sau khi sinh đến 2 tuổi để cơ thể trẻ phát triển toàn diện và khả năng chống lại bệnh tật tốt hơn.

– Tiêm chủng đầy đủ cho trẻ theo hướng dẫn của cán bộ y tế cơ sở theo chương trình tiêm chủng mở rộng. Nếu tiêm một số loại vắc-xin phòng viêm đường hô hấp ngoài chương trình, cần có sự hướng dẫn và tư vấn của cán bộ Y tế nhằm bảo đảm hiệu quả và tránh những tai biến đáng tiếc có thể xảy ra.

– Lập sổ theo dõi sức khỏe, khám sức khỏe định kỳ và lưu giữ sổ sau mỗi lần khám nhằm giúp nhân viên y tế nắm được diễn biến sức khỏe, bệnh tật của trẻ mà có hướng điều trị, phòng bệnh tốt.

Ths Đỗ Kiều Hoa

Nguồn st

Phòng ngừa phát ban khi dùng tã cho trẻ

Chứng phát ban khi dùng bỉm, là một trong số vấn đề phổ biến nhất ở trẻ nhỏ. Dưới đây là cách giúp bạn ngăn chặn được điều này xảy ra với con yêu.

Phát ban khi dùng tã, bỉm là gì?

Đây là hiện tượng thường xuất hiện với những đốm đỏ nhỏ và rải khắp vùng da tiếp xúc với tã. Nếu như vùng phát ban bị nhiễm trùng, nó sẽ có màu đỏ tươi và da sẽ bị sưng. Trong một vài trường hợp nguy hiểm, nó có thể gây ra các nốt mụn nhọt trên da, phồng rộp, lở loét và có thể lan ra cả những vùng da lân cận.

phong-ngua-phat-ban-khi-dung-ta-cho-tre
Nguyên nhân

Phát ban khi dùng bỉm thường xảy ra do kết quả của sự kích thích trên da. Sự kích thích có thể gây ra bởi loại bỉm mà các bậc phụ huynh mặc cho bé quá chật hoặc mặc quá lâu khiến chúng cọ xát vào da. Nếu bạn đang sử dụng tã lót bằng vải cho trẻ thì xà phòng giặt hoặc các sản phẩm giặt ủi khác có thể là nguyên nhân.

Nấm có thể gây ra phát ban khi dùng bỉm. Trong trường hợp này, vùng da sẽ bong tróc và thường không có phản ứng với những phương pháp điều trị thông thường.Các bác sỹ sẽ kê đơn thuốc chống lại sự phát triển của nấm để kiểm soát hiện tượng này.

Chứng phát ban khi dùng bỉm sẽ thường tự biến mất mà không cần điều trị gì, đặc biệt nếu bạn thay bỉm cho con ngay khi bỉm ướt. Nhưng nếu các nốt ban không bay sau vài ngày, các bác sỹ đưa ra các loại thuốc mạnh hơn để tránh sự nhiễm trùng.

Cách ngăn chặn và điều trị

– Thay bỉm thường xuyên. Kiểm tra bỉm của trẻ mỗi giờ một lần, và thay ngay khi chúng bị ướt.

– Giữ cho vùng da tiếp xúc với bỉm sạch sẽ, thoáng mát và khô ráo. Khi thay bỉm, hãy đảm bảo da của trẻ khô sạch trước khi mặc chiếc bỉm mới. Tránh các loại quần có chất liệu từ nhựa bởi chúng sẽ làm tắng nhiệt độ và độ ẩm của da.

– Đừng sử dụng phấn thơm bởi hạt phấn sẽ làm ảnh hưởng đến phổi của bé.

– Giặt sạch tã lót bằng vải với giấm và các chất trừ độc. Nếu bạn đang cho bé dùng tã lót thì hãy dùng một chén giấm để làm sạch tã sau mỗi lần sử dụng. Độ pH trong giấm sẽ giúp tăng khả năng đề kháng với chứng phát ban. Bên cạnh đó, sau khi giặt xong, bạn hãy đem tã đi luộc trong 15 phút để các hóa chất còn sót lại sẽ được lọc sạch.

– Thay đổi xà phòng giặt, hoặc loại tã bỉm. Nếu phát ban vẫn “ngoan cố” ở lại, bạn hãy tránh các loại xà phòng giặt, khăn lau mà trước đây bạn vẫn dùng cho bé. Khi thay bỉm, hãy lau sạch sẽ vùng da với nước mát và thoa một chút thuốc mỡ để da không bị khô.

Nguồn st

Một số vấn đề tiêu hóa thường gặp ở trẻ nhỏ

Đối với nhũ nhi, sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho sức khỏe và sự phát triển toàn diện của bé. Tuy nhiên, trong trường hợp mẹ không có điều kiện cho con bú thì trẻ dễ gặp các vấn đề về tiêu hóa do sữa công thức không phù hợp.

 Nôn trớ, quấy khóc, đầy hơi

Như bao bà mẹ khác, bạn hẳn rất lo âu khi bé thường xuyên quấy khóc, trướng bụng, nôn trớ hoặc khó chịu mà không rõ nguyên nhân. Dù đã thử rất cách để xoa dịu bé như thay tã, đung đưa, chườm bụng, vỗ cho ợ hơi… nhưng tình hình vẫn không được cải thiện.

Theo nghiên cứu tại Việt Nam, nôn trớ, quấy khóc, đầy hơi, tiêu chảy hoặc táo bón là những triệu chứng rối loạn tiêu hóa rất thường gặp ở trẻ 0 – 6 tháng.
mot-so-van-de-tieu-hoa-thuong-gap-o-tre-nho
Nguyên nhân chủ yếu gây rối loạn tiêu hóa nhẹ ở trẻ là kém dung nạp lactose (một loại đường sữa có trong sữa mẹ và sữa công thức thông thường); khó tiêu hóa đạm hoặc cả 2 nguyên nhân trên. Trẻ không tiêu hóa hết lactose và đạm do thiếu men lactase và một số men cần thiết khác dẫn đến nôn trớ, khó chịu, quấy khóc, tiêu phân lỏng và đầy hơi.

Trong những trường hợp đó, mẹ đừng quá lo lắng. Vấn đề tiêu hóa thường gặp của trẻ có thể giảm trong 24h nếu bạn cho bé dùng sản phẩm dinh dưỡng có thành phần đặc biệt như:

– Đạm thuỷ phân một phần giúp dễ tiêu hoá.

– Hàm lượng lactose loại bớt khoảng 80%. Lượng lactose vừa đủ này phù hợp với hệ tiêu hóa chưa hoàn thiện của bé, giúp duy trì sản sinh men lactase cần thiết cho sự phát triển bình thường, tăng hấp thu canxi và tạo năng lượng cho bé.

Ngoài ra, sản phẩm có hàm lượng DHA (17mg trên 100kcal) và ARA (34mg trên 100kcal) đã được chứng minh lâm sàng là có thể hỗ trợ sự phát triển trí não và hệ miễn dịch của trẻ.

Tiêu chảy do bất dung nạp Lactose

Việc bé có bị tiêu chảy hay không có thể khó xác định. Phân lỏng nhiều khi là bình thường, nhất là khi bé chưa bắt đầu có phân rắn. Việc thỉnh thoảng bé đi phân lỏng cũng không có gì đáng lo, nhưng sự thay đổi đột ngột thói quen đi tiêu của bé có thể báo hiệu điều bất thường. Nếu bé bị tiêu chảy, banhãy cân nhắc một công thức sữa không chứa lactose dành cho trẻ nhũ nhi, được đặc chế để giúp giải quyết vấn này.

Thêm đó, bạn hãy tìm một công thức sữa có hàm lượng DHA đúng (17mg trên 100kcal) và ARA (34mg trên 100kcal). Thành phần sữa như vậy đã được chứng minh lâm sàng là có thể giúp phát triển trí não và hệ miễn dịch của trẻ. Hàm lượng DHA 17mg trên 100 kcal phù hợp với khuyến nghị của Tổ chức lương nông, Y tế thế giới (FAO/WHO) là dành cho trẻ nhũ nhi.

Tiêu chảy khiến bé dễ bị mất nước, vì vậy bạn cần lưu ý cho bé uống đủ nước để tránh tình trạng mất nước gây suy kiệt cho trẻ.

Bé bị dị ứng với đạm sữa bò

Đôi khi chứng quấy khóc, mẩn ngứa, tiêu chảy hay nôn trớ là triệu chứng dị ứng với đạm trong sữa bò (thành phần chính của hầu hết các loại sữa công thức) hoặc dị ứng với những loại đạm khác như sữa dê hay đạm đậu nành. Dị ứng là phản ứng của hệ miễn dịch trước một chất bên ngoài.

Theo nghiên cứu, khoảng 2-3% trẻ nhũ nhi bị dị ứng sữa thật sự. Nhiều bé dị ứng đạm sữa cũng dị ứng với đạm đậu nành. Để kiểm soát điều này, các bà mẹ hãy tham khảo ý kiến bác sĩ về một công thức sữa thuỷ phân đạm toàn phần đã được kiểm tra an toàn và hiệu quả với hơn 70 kiểm nghiệm lâm sàng. Ngoài ra, mẹ nên cho bé sử dụng loại sữa có chứa hàm lượng đúng DHA để hỗ trợ sự tăng trưởng và phát triển trí não và thị lực của bé.

Tìm hiểu đạm thủy phân một phần

Đạm thủy phân một phần là thành phần đạm được trải qua quá trình cắt nhỏ đặc biệt làm đạm trở nên dễ tiêu hóa hơn. Khi trẻ gặp vấn đề tiêu hóa thông thường, cho trẻ dùng sản phẩm chứa đạm thủy phân một phần sẽ giúp bé dễ tiêu hóa.

Về mùi vị, sản phẩm chứa đạm thủy phân một phần có vị đặc trưng nhưng thông thường vẫn được trẻ dễ dàng chấp nhận. Đây là vị đặc trưng của đạm thủy phân nên các mẹ có thể an tâm.

Nguồn vnexpress

Cho trẻ ăn sữa chua hiệu quả

Bổ sung lợi khuẩn, vitamin, giúp tăng cường sức đề kháng… nên sữa chua rất tốt cho sức khỏe. Song dùng thực phẩm này mỗi ngày sao cho hiệu quả, nhất là với trẻ em, vẫn là băn khoăn của nhiều người.

Hiện nay, nhiều gia đình có thói quen cho con ăn sữa chua hằng ngày. Tuy nhiên, liều lượng, cách dùng và hiệu quả của chúng thì không phải ai cũng biết.

Những lợi ích khi trẻ dùng sữa chua hằng ngày

Sữa chua là sữa nguyên được lên men bởi các chủng vi khuẩn có lợi cho đường ruột như probiotics. Ngoài việc bổ sung các chất dinh dưỡng như đạm, béo, vitamin…, sữa chua còn có khả năng phòng và điều trị một số bệnh. Thực phẩm này có tính acid cao nên có tác dụng tiêu diệt một số vi khuẩn có hại trong hệ tiêu hóa. Đối với trẻ nhỏ, sữa chua ngăn ngừa một số bệnh đường ruột, bổ sung thêm acid cho dịch dạ dày, giúp việc tiêu hóa thức ăn của bé được dễ dàng hơn.

cho-tre-an-sua-chua-hieu-qua
Trong thành phần sữa chua, các chất như protein, lipid có sẵn trong sữa đã được tiêu hóa một phần, rút ngắn thời gian hấp thụ trong hệ thống tiêu hóa. Đường lactoza có trong sữa chua cũng đã được lên men, làm giảm lượng đường tồn đọng lại ở hệ tiêu hóa, từ đó tránh được tiêu chảy, giúp cơ thể hấp thụ canxi và một số khoáng chất khác dễ dàng hơn.

Sữa chua có giá trị dinh dưỡng đáng kể: trong 100g sữa chua chứa khoảng 100Kcal; 15,4g chất đường; 3,1g chất đạm; 3g chất béo; canxi và một số loại vitamin. Một số loại sữa chua còn có thêm DHA, giúp trẻ sáng mắt và tăng chỉ số phát triển trí tuệ.

Các bác sĩ nhi khoa khuyên cha mẹ nên cho bé ăn sữa chua như một trong những món ăn dặm đầu tiên (vào thời điểm 6 tháng trở lên). Nếu ngại vị chua, người lớn có thể cho bé dùng trễ hơn, khoảng 7-8 tháng. Trong đó, sữa chua nguyên kem rất tốt với trẻ, vì bé cần chất béo để phát triển đầy đủ.

Cách dùng sữa chua mỗi ngày cho trẻ

Thời gian đầu khi mới ăn, bé chỉ nên dùng khoảng 50g mỗi ngày và một tuần dùng không quá 3 lần. Thời gian sau, lượng dùng có thể tăng lên, như từ một đến 2 tuổi, trẻ có thể dùng liều lượng gấp rưỡi lúc đầu và trên 2 tuổi dùng đến 100g một ngày.

Mỗi tuần, mẹ có thể cho bé ăn khoảng 2-3 lần, nếu dùng quá nhiều, bé cũng có thể bị rối loạn tiêu hóa do mất cân bằng men vi sinh hoặc đau dạ dày. Tuy vậy, nếu sau một đợt bé ốm và buộc phải dùng kháng sinh, cha mẹ nên bổ sung men vi sinh cho bé qua sữa chua dùng hằng ngày trong khoảng 5 ngày đến một tuần.

Ngoài ra, sữa chua không nên dùng nóng vì khi đun sôi hoặc bị cho thêm nước nóng vào, sữa chua sẽ bị mất đi các chất dinh dưỡng và khả năng kích thích tiêu hóa cũng giảm đi đáng kể. Đặc biệt, cha mẹ không được dùng sữa chua chung với các loại thuốc vì thuốc có thể làm phá vỡ hoặc tiêu diệt vi khuẩn có lợi trong thực phẩm này.

Sữa chua dành riêng cho trẻ em

Theo các chuyên gia dinh dưỡng, cho bé ăn bổ sung sữa chua hằng ngày là một việc nên làm. Tuy nhiên, thị trường hiện nay có rất nhiều loại sữa chua, để chọn được sản phẩm tốt, phù hợp với trẻ là điều không đơn giản.

Khi chọn sữa chua cho bé, cha mẹ nên chọn những loại ít thành phần nguyên liệu, chủ yếu sữa và vi khuẩn sống lên men. Sữa chua có đường cần bổ sung vị ngọt bằng trái cây tươi, tránh các chất ngọt nhân tạo như siro, đường hóa học…

Khi mua, người lớn cần đọc kỹ bảng giá trị dinh dưỡng trên nhãn mác sản phẩm, sữa chua tốt cần có hàm lượng lợi khuẩn và canxi cao, không nên chọn những loại đã qua xử lý nhiệt. Bởi khi đó, những vi khuẩn có lợi trong sữa chua có thể bị “giết chết”, lactase cần thiết cho cơ thể cũng bị phá hủy, gây nên những tác dụng ngược cho trẻ.

Trong số các loại sữa chua dành riêng cho trẻ em đang bán trên thị trường hiện nay, một trong những sản phẩm được nhiều mẹ tin dùng là sữa chua Kidsmix. Thực phẩm này được sản xuất tại nhà máy Bauer – một trong những nhà máy sản xuất sữa lớn nhất châu Âu, được đặt tại Đức. Sản phẩm được sử dụng công nghệ lên men từ sữa tươi tự nhiên và đã vượt qua những tiêu chuẩn kiểm định chất lượng ngặt nghèo, nghiêm khắc của châu Âu. Là sữa chua nhập khẩu dành riêng cho trẻ em, các sản phẩm sữa chua Kidsmix bổ sung lợi khuẩn và vitamin cần thiết, giúp tăng cường sức khoẻ cho hệ tiêu hoá, tăng sức đề kháng và giúp trẻ ăn ngon miệng

Nguồn vnexpress

Nấm miệng candida ở trẻ em

Nấm miệng Candida là nguyên nhân thường gặp của trẻ đến khám tại các phòng khám Nhi, cũng như là lý do các bà mẹ đưa bé đến mua thuốc tại các hiệu thuốc tây. Bệnh có thể được phát hiện tình cờ qua thăm khám, hay do  những triệu chứng khó chịu của bé mà bà mẹ mang bé đến khám.

Mặc dù chẩn đoán và điều trị không khó, tuy nhiên vẫn còn những trường hợp bị bỏ sót có thể gây diễn tiến bệnh nặng hơn, hay không phải là nấm miệng nhưng một số bà mẹ vẫn tự ý dùng thuốc rơ miệng kháng nấm không cần thiết trong thời gian dài. Bài này chia sẻ kiến thức về nấm miệng candida ở trẻ em với các bà mẹ, bạn đọc  để giúp tránh bỏ sót bệnh nấm miệng candida, cũng như tránh lạm dụng thuốc rơ miệng trong các tình trạng không cần thiết.
nam-mieng-candida-o-tre-em-254ca
Nấm candida có những đặc điểm gì?

– Bình thường nấm candida thường trú trên cơ thể và không xâm lấn gây bệnh.

– Có 40 – 60%  dân số là người lành mang Candida trên cơ thể.

– Candida bình thường tồn tại ở da, hệ tiêu hóa, cơ quan sinh dục nữ… và có nhiều chủng khác nhau, trong đó chiếm tỉ lệ cao nhất là chủng candida albicans 70%.

– Trẻ  thường nhiễm candida trong lúc sinh khi mẹ bị nấm candida âm đạo lúc mang thai.

– Miệng trẻ sơ sinh có pH thấp thuận lợi cho nấm phát triển.

– Nấm candida có 0,5 – 20% số nhũ nhi khỏe mạnh và 50% trẻ nhiễm HIV-AIDS.

Yếu tố thuận lợi nào cho nấm candida ở miệng phát triển gây bệnh?

– Hệ miễn dịch của trẻ chưa trưởng thành.

– Vệ sinh răng miệng kém, đặc biệt ở các bé đang điều trị chỉnh hình nha có mang các dụng cụ chỉnh nha gây khó khăn cho vệ sinh răng miệng.

– Các bệnh gây suy giảm hệ miễn dịch:  HIV – AIDS, ung thư.

– Dùng thuốc corticoid – kháng sinh kéo dài – thuốc ức chế miễn dịch – hóa trị liệu ung thư.

– Suy dinh dưỡng.

– Chấn thương tại chỗ.

– Đái tháo đường.

– Giảm chức năng tuyến nước bọt.

Nấm candida ở miệng gây ra những triệu chứng gì ở trẻ em?

– Không triệu chứng, có thể do phát hiện tình cờ trong khi thăm khám một bệnh khác hay do tình cờ thấy những mảng trắng trên niêm mạc má hay lưỡi.

– Trẻ biếng ăn, hay có thể thay đổi vị giác ăn không cảm thấy ngon miệng.

– Đau rát họng, kích thích.

– Nôn ói.

– Nếu nặng: gây khó nuốt (nếu nấm lan xuống thực quản) hay khàn giọng (nếu nấm lan xuống thanh quản).

Khám miệng bé bị nấm miệng candida sẽ thấy những hình ảnh gì?

– Các mảng trắng như sữa, hay kem, phủ trên nền hồng ban – dính chặt vào niêm mạc lưỡi, má… khó bóc tách và khi cố bóc tách có thể gây chảy máu.

Đa số biểu hiện dưới dạng giả mạc trắng, một số biểu hiện với dạng bạch sản, tăng sản lưỡi, hay dạng viêm lưỡi có dạng hình thoi ở giữa lưỡi. Với trẻ hay dùng thuốc corticoid hít, hay xông trong điều trị  dự phòng suyễn mà không súc miệng sau xịt, cũng có thể bị nấm miệng candida dưới dạng hồng ban thường thấy ở vùng vòm họng.

Chẩn đoán dựa vào gì? Có cần thiết phải làm xét nghiệm không?

– Chẩn đoán chủ yếu dựa khám lâm sàng.

– Xét nghiệm hiếm cần thiết và chỉ thực hiện trong trường hợp khó chẩn đoán, kém đáp ứng điều trị… sẽ thấy các tế bào hạt men nẩy mầm, sợi tơ nấm giả khi nhuộm Gram, soi tưoi, hay sinh thiết và có thể định danh chủng nấm candida khi quệt cấy bệnh phẩm.

Các tình trạng hay bệnh lý nào có thể bị chẩn đoán nhầm là bị nấm miệng?

Lưỡi bản đồ: đây là tình trạng mà bà mẹ hay thường bị nhầm lẫn với nấm miệng candida nhất, và hay tự ý mua thuốc kháng nấm rơ miệng cho trẻ. Tình trạng rơ miệng không đúng này không những không cần thiết, mà đôi khi làm tăng thêm tình trạng khó chịu, tổn thương lưỡi và thậm chí biếng ăn của bé vì làm tổn thương các nụ vị giác trên lưỡi do rơ lưỡi không cần thiết và không đúng. Điều cần lưu ý là lưỡi bản đồ không phải là tình trạng nhiễm nấm candida miệng,  với mảng có bờ giới hạn rõ trên lưỡi, và đôi  khi gây loét lưỡi.

Dính sữa hay thức ăn: các mảng trắng dễ dàng làm sạch khi rơ miệng bằng gạc  sạch. Dính sữa và thức ăn thường gặp tuổi ăn dặm và đặc biệt ở trẻ bú sữa công thức.

Loét miệng dạng aptơ: có thể kèm theo sốt, đau họng và khó nuốt. Điều trị tình trạng này chủ yếu là nâng đỡ, giảm sốt, giảm đau và bổ sung vitamin.

Trẻ bị bệnh tay chân miệng: trẻ có lở, loét miệng và thường kèm hồng ban mụn nước ở lòng bàn chân, bàn tay, gối,  mông và có thể kèm sốt và/ hoặc các biến chứng nặng khác về thần kinh, tim, phổi… Trong điều trị giảm đau họng của bệnh tay chân miệng có thể dùng thuốc ngậm hỗn dịch kháng acid và đôi khi sự dính các thuốc này trên miệng, lưỡi bé có thể bị chẩn đoán nhầm là bị nhiễm candida ở miệng.

Nguồn st

Ung thư dương vật

Tỷ lệ ung thư dương vật rất thấp ở các nước Do Thái do ở nơi đây có tập tục cắt bao qui đầu cho trẻ nhỏ vào ngày rửa tội đầu tiên. Tại Việt Nam, ung thư dương vật chiếm khoảng 3,4% các ung thư ở nam giới.

Các yếu tố nguy cơ.

Cho đến nay người ta chưa xác định được chắc chắn nguyên nhân gây bệnh ung thư dương vật tuy nhiên người ta đề cập đến một số yếu tố nguy cơ có liên quan đến sự phát sinh và phát triển các khối u này:

– Hẹp bao qui đầu:

– Kém vệ sinh tại chỗ:

– Nhiễm virus HPV (Human papillome virus):

HPV có nhiều nhóm khác nhau trong đó có một vài nhóm có khả năng gây ung thư cao là 16,18,33,35,45. HPV cũng là nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung ở phụ nữ. Chúng lây qua đường giao hợp không an toàn (quan hệ tình dục sớm, nhiều bạn tình, quan hệ với người có nhiều bạn tình, không sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục). Đối với ung thư dương vật HPV nhóm 16 có ảnh hưởng lớn nhất.

Nhung-dieu-can-biet-ve-ung-thu-duong-vat

– Hút thuốc lá: Trong khói thuốc lá có nhiều chất gây ung thư, các chất này ngấm vào máu sau đó chúng được đào thải qua nước tiểu, các chất này góp phần gây ung thư dương vật đặc biệt ở người có nhiễm HPV.

– Điều trị bệnh vảy nến bằng tia cực tím

– Nhiễm HIV/AIDS: những người bị HIV/AIDS có nguy cơ cao bị ung thư dương vật, có thể do sự suy giảm miễn dịch kết hợp với lối sống gây nên tình trạng dễ bị viêm nhiễm và mắc các bệnh lây truyền khác qua đường sinh dục.

Chẩn đoán:

Phát hiện bệnh:

Dương vật là bộ phận sinh dục ngoài, chỉ cần quan sát bằng mắt thường đã có thể phát hiện ra các tổn thương từ rất sớm. Các bệnh nhân ung thư dương vật phát hiện muộn khi bệnh nhân tự phát hiện ra bệnh nhưng xấu hổ không đến cơ sở y tế để khám bệnh bởi các thuốc chuyên khoa, hoặc bệnh nhân đến các cơ sở y tế nhưng được chẩn đoán nhầm với một số tổn thương lành tính như viêm loét mạn tính, các u sùi lành tính.

Cần chú ý tới những phát triển bất thường đối với dương vật như: đau, vết loét lâu liền điều trị kháng sinh dai dẳng không đỡ, vết bạch sản, mụn cóc. Nếu có các tổn thương này nên đến các cơ sở y tế chuyên khoa để được khám chẩn đoán chính xác.

Hầu hết trong các trường hợp không hẹp bao qui đầu, dấu hiệu đầu tiên là da dương vật dày lên và thay đổi màu sắc, tiếp theo là xuất hiện loét không đau hoặc phát triển thành u đặc biệt ở qui đầu và bao qui đầu, cũng có khi ở thân dương vật. Các tổn thương này hầu hết không gây đau.

Một số trường hợp thì xuất hiện như ban hơi đỏ hoặc thẫm màu, mảng nhỏ giòn, rát phẳng màu nâu xanh nhạt.

Với trường hợp có hẹp bao qui đầu thì các dấu hiệu thường bị che lấp khó chẩn đoán sớm. Giai đọan đầu u nhỏ thường kín đáo, ngứa do viêm nhiễm kéo dài, chảy dịch hôi điều trị nội khoa không khỏi. Khi đến khám phải mở bao qui đầu mới thấy u với đặc điểm u dễ chảy máu, rất hôi. Giai đoạn muộn thì dương vật có hình lắc chuông hay hình dùi trống.

Khi bệnh nhân đến ở giai đoạn muộn, u có thể lan rộng gây bít tắc niệu đạo, bệnh nhân có thể bí đái hoàn toàn hoặc khó đi tiểu, có thể kèm theo các triệu chứng của viêm nhiễm đường tiết niệu như đái buốt, đái dắt, đái máu.

Có thể sờ thấy hạch bẹn một bên hoặc cả hai bên, hạch có thể di động hoặc cố định.

Các triệu chứng lâm sàng trên có giá trị gợi ý cho bệnh nhân và thầy thuốc hướng tới chẩn đoán ung thư dương vật và cần thiết phải làm xét nghiệm chẩn đoán mô bệnh học để khẳng đinh chắc chắn:

Các xét nghiệm cận lâm sàng như chẩn đoán hình ảnh giúp đánh giá trước mổ, giai đoạn bệnh.

– Siêu âm ổ bụng xem có di căn hạch và các tạng ổ bụng không ?

– Chụp X quang phổi đánh giá tình trang xem có di căn phổi không?

– Chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ và một số xét nghiệm khác khi cần

thiết để xác định tình trạng lan rộng của khối u, các tổn thương di căn nếu có.

Đánh giá giai đoạn trước điều trị rất quan trọng, giai đoạn sẽ quyết đinh các phương pháp điều trị áp dụng trên từng bệnh nhân cụ thể.

Ngoài ra các xét nghiệm cận lâm sàng khác như xét nghiệm đánh giá chức năng gan, thận, hệ tạo huyết và chức năng một số cơ quan khác giúp hỗ trợ cho các phương pháp điều trị như phẫu thuật, tia xạ và hóa chất.

Chẩn đoán giai đoạn tuỳ theo mức độ lan rộng của khối u, di căn hạch và tình trạng di căn xa, người ta chia thành các giai đoạn 0, 1, 2, 3 và 4.

Điều trị:

Phẫu thuật:

Phẫu thuật là phương pháp điều trị cơ bản và hiệu quả nhất. Ung thư dương vật giai đoạn sớm thì chỉ cần cắt bỏ u và bảo tồn dương vật, với ung thư giai đoạn muộn thì phải cắt cụt dương vật và vét hạch bẹn 2 bên.

Điều trị tia xạ.

Có thể dùng xạ trong khi bệnh giai đoạn sớm cần điều trị bảo tồn hoặc xạ ngoài khi di căn hạch bẹn, tia xạ triệu chứng chống chèn ép, chống đau khi bệnh ở giai đoạn muộn, u hạch xâm lấn rộng.

Điều trị hóa chất

– Bôi hóa chất tại chỗ cho những ung thư tại chỗ và những tổn thương tiền ung thư (kem 5-FU)

– Điều trị hóa chất toàn thân: chỉ định hóa chất tiền phẫu với ung thư phát triển nhanh, độ mô học cao, u có kích thước lớn giúp thu nhỏ khối u làm cho phẫu thuật thuận lợi hơn. Hóa chất toàn thân có thể phối hợp với tia xạ điều trị triệu chứng kéo dài thời gian sống thêm khi bệnh nhân ở giai đoạn không phẫu thuật được.

Tiên lượng:

– Kết quả điều trị bệnh phụ thuộc rõ rệt vào giai đoạn bệnh ban đầu được chẩn đoán, bệnh càng được chẩn đoán sớm càng có tiên lượng tốt. Nếu được chẩn đoán khi khối u còn nhỏ, chưa có di căn hạch và di căn xa thì tỷ lệ chữa khỏi là 95%.

– Sau khi kết thúc điều trị bệnh nhân được theo dõi định kỳ, đến bệnh viện khám lại 3 tháng/lần trong 2 năm đầu, 6 tháng 1 lần trong 3 năm tiếp theo. Sau đó khám lại hàng năm. Các bác sỹ sẽ khám lâm sàng và làm một số xét nghiệm cần thiết để chẩn đoán bệnh tái phát nếu có.

Phòng bệnh

– Kiểm tra bao qui đầu cho trẻ từ khi trẻ còn nhỏ, nếu có hẹp bao quy đầu nên cắt bao qui đầu bị hẹp càng sớm càng tốt.

– Giữ gìn vệ sinh cá nhân, bộ phận sinh dục

– Quan hệ tình dục an toàn: chung thủy một vợ một chồng, sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục.

– Tiêm vacxin phòng HPV typ 16,18

– Không nên hút thuốc lá.

Nguồn thanh niên