Tag Archives: bệnh đái tháo đường

Bệnh tắc động mạch ngoại biên

Bệnh động mạch ngoại biên (BĐMNB) là bệnh lý tương đối phổ biến ở người cao tuổi. Phần lớn động mạch bị tắc thường là động mạch đùi, tiếp theo là động mạch khoeo, động mạch chày sau, động mạch chày trước. Nguyên nhân thường gặp nhất của bệnh là do các mảng vữa xơ, gây hẹp hoặc gây tắc lòng mạch, làm giảm lượng máu đến hai chân. BĐMNB nếu không được phát hiện và điều trị sớm có thể dẫn đến hoại tử đầu ngón chân, thậm chí phải tháo khớp hoặc cắt cụt chân.

benh-tac-dong-mach-ngoai-bien

Người bị BĐMNB có những biểu hiện gì?
Triệu chứng thông thường của BĐMNB là đau chân cách hồi, tức là đau, khó chịu, bị chuột rút ở hông, đùi, bắp chân khi đi bộ, khi tập thể dục hoặc leo cầu thang. Triệu chứng này sẽ giảm khi ngừng vận động, mặc dù điều này có thể mất một vài phút. Bệnh dễ bị bỏ sót vì nhiều người cho rằng đau chân là dấu hiệu bình thường của lão hóa, hoặc nghĩ rằng do bệnh viêm khớp, đau thần kinh tọa. Hơn nữa, chỉ 1/3 bệnh nhân có BĐMNB là có biểu hiện triệu chứng, còn lại bệnh diễn biến thầm lặng. Có thể nói tắc ĐMNB là kẻ giết người thầm lặng.

Những ai có nguy cơ bị BĐMNB?
Người hút thuốc lá: những người hút thuốc lá có nguy cơ bị bệnh cao gấp 4 lần những người không hút thuốc.
Người thừa cân béo phì: thường có nguy cơ cao mắc các bệnh tim mạch và đột quỵ ngay cả khi họ không có yếu tố nguy cơ khác.
Người mắc bệnh đái tháo đường: bệnh đái tháo đường làm gia tăng nguy cơ bị BĐMNB cũng như các bệnh tim mạch khác.

Người bị cholesterol trong máu cao: cholesterol cao góp phần gia tăng các mảng bám trong động mạch, làm giảm đáng kể lưu lượng máu chảy. Tình trạng này được gọi là xơ vữa động mạch.
Người bị tăng huyết áp: tăng huyết áp cũng là một trong những nguyên nhân gây BĐMNB.

Chẩn đoán bằng cách nào?
Xét nghiệm chỉ số mắt cá chân – cánh tay (ABI): Được tính bằng huyết áp cao nhất ở cổ chân chia cho trị số huyết áp cao nhất ở cánh tay. Đây là một xét nghiệm thực hiện đơn giản, chỉ mất vài phút và có giá trị, có thể dùng để tầm soát bệnh trong cộng đồng. Khi nghỉ, ABI bình thường trong khoảng 0,9 – 1,3; chỉ số lớn hơn 1,3 thường gợi ý động mạch chày không đè xẹp được; chỉ số 4,1 – 9,0 là bệnh mạch máu ngoại biên nhẹ và vừa; chỉ số dưới 4,0 thường chỉ ra có bệnh mạch máu ngoại biên nặng.

Siêu âm mạch máu Doppler: Nhằm phát hiện hình thái, giải phẫu, huyết động của tổn thương.
Chụp cắt lớp vi tính động mạch (CT): đặc biệt hữu ích ở những bệnh nhân với máy tạo nhịp tim.
Chụp cộng hưởng từ động mạch: cung cấp thông tin tương tự như chụp CT mà không sử dụng tia X.
Xquang mạch máu xóa nền (DSA – Digital Substraction Angiography): được sử dụng khi có chỉ định can thiệp, sau các xét nghiệm không xâm lấn.

Bệnh có điều trị và dự phòng được không?
Điều trị BĐMNB chủ yếu là nội khoa bằng các thuốc điều trị triệu chứng đau cách hồi như cilostazol 100mg, dùng 2 viên một ngày; naftidrofuryl oxalat: uống 2 – 3 lần một ngày, mỗi lần 1 viên.

Điều trị tái thông: can thiệp nội mạch và phẫu thuật mạch máu, được chỉ định trong trường hợp:
– Cần can thiệp sớm với những trường hợp có thiếu máu đe dọa chi như đau khi nghỉ, loét chân do thiếu máu, hoại thư.
– Không đáp ứng với phương pháp luyện tập chức năng và thuốc.
– Đau chân nghiêm trọng, ảnh hưởng đến hoạt động hàng ngày.
Việc lựa chọn tái thông bằng can thiệp nội mạch hay phẫu thuật phụ thuộc tuổi, bệnh mắc kèm, dạng tổn thương.

Để dự phòng và làm giảm nhẹ triệu chứng của BĐMNB, cần lưu ý:
Kiểm soát các yếu tố nguy cơ: bỏ thuốc lá, giảm cân nếu quá cân (bằng tập luyện thể thao và chế độ ăn hợp lý, tăng cường rau quả, hạn chế mỡ động vật); kiểm soát huyết áp (thường xuyên đo huyết áp và uống thuốc theo chỉ định của bác sĩ khi bị tăng huyết áp); kiểm soát đường máu bằng đo đường máu hằng ngày; điều trị tăng lipid máu và giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim, đột quỵ ở bệnh nhân BĐMNB bằng các thuốc kháng tiểu cầu.

Có chế độ luyện tập thể dục thường xuyên: tập thể dục thường xuyên giúp giảm mức độ nghiêm trọng và tần số của các triệu chứng của BĐMNB, đồng thời làm giảm nguy cơ phát triển bệnh tim mạch khác. Có thể bắt đầu từ từ bằng đi bộ cho đến khi thấy đau thì nghỉ một lát rồi lại tiếp tục bài tập, ít nhất 30 phút đi bộ. Mỗi đợt tập 3 lần một tuần và kéo dài trong 3 tháng. Việc luyện tập thời gian đầu có thể đau và khó chịu, tuy nhiên nếu kiên trì, sẽ dần dần cải thiện đáng kể các triệu chứng và có thể đi lâu hơn mà không bị đau.

Tóm lại, BĐMNB là bệnh lý nguy hiểm, tuy nhiên bệnh tiến triển âm thầm, triệu chứng nghèo nàn, thậm chí là không có triệu chứng dẫn đến dễ bị bỏ sót. Đối với những người tuổi cao (lớn hơn 70 tuổi), hoặc lớn hơn 50 tuổi kèm theo các yếu tố nguy cơ hoặc có triệu chứng đau chân cách hồi nên đi kiểm tra sức khỏe, làm các xét nghiệm để chẩn đoán sớm BĐMNB…

Nguồn sức khỏe đời sống

Bệnh thận và bệnh đường tiết niệu do đái tháo đường

Đái tháo đường ngày nay đã được chứng minh là nguyên nhân chính gây suy thận giai đoạn cuối, vượt qua “hai đối thủ” là tăng huyết áp và bệnh cầu thận. Những người suy thận do đái tháo đường (ĐTĐ) thường có nhiều biến chứng khác, thời gian sống ngắn hơn, tỷ lệ tử vong cao hơn. Đối với những người bị ĐTĐ thì biến chứng gây tổn thương gặp ở tất cả các vùng của quả thận.

Nhiễm khuẩn tiết niệu

Đối với phần kẽ thận tiết niệu, chúng ta có thể thấy biến chứng cơ bản nhất là nhiễm khuẩn tiết niệu. Ở những người bị ĐTĐ thì nguy cơ bị nhiễm khuẩn cao hơn rất nhiều. Nguyên nhân chính là các loại vi khuẩn Gram âm chiếm tới 90%. Vi khuẩn thường đi ngược từ niệu đạo vào bàng quang rồi ngược lên bể thận. Nhiễm khuẩn tiết niệu ở những người bị ĐTĐ hay gặp các loại vi khuẩn Escera Coli, liên cầu, tụ cầu, ngoài ra còn dễ bị các nhiễm khuẩn khác mà ở người bình thường ít gặp như nhiễm nấm, nhiễm Chlamydia.

Biểu hiện chính của nhiễm khuẩn tiết niệu là đái buốt, đái dắt, đái đục, nặng hơn là đái mủ, đái máu. Người bệnh thường có cảm giác đau buốt lúc đi tiểu, đau thường nóng rát và tăng lên cuối bãi. Khi bệnh nhân thấy sốt, đau vùng hông lưng, hay đái ra mủ, đái ra máu, cần phải nghĩ nhiễm khuẩn đã ngược lên đến thận và phải tới ngay bệnh viện.

Về mặt điều trị nhiễm khuẩn tiết niệu, phải tuân thủ nguyên tắc giải phóng thông thoáng đường tiểu, uống nhiều nước, kháng sinh hợp lý theo nguyên nhân gây bệnh. Vì nhiễm khuẩn đường tiết niệu hay tái phát nên cần tuyệt đối không được lạm dụng và sử dụng bừa bãi kháng sinh, phải tuân thủ chế độ điều trị một cách hợp lý để tránh nguy cơ tái phát bệnh.

benh-than-tiet-nieu-do-dai-thao-duong

Viêm mạch thận ĐTĐ

Tổn thương mạch thận là một trong những biến chứng về mạch máu hay gặp ở người bị ĐTĐ. Triệu chứng của việc thiếu máu thận là tăng huyết áp. Bệnh lý về mạch thận do ĐTĐ cũng giống như các bệnh lý về mạch máu khác, mạch máu đến thận cũng có thể bị các biến cố của các bệnh như mạch vành hay mạch não, bao gồm xơ vữa mạch, huyết khối, huyết tắc mạch máu… Với người bị ĐTĐ, biến chứng xơ vữa mạch cao lên gấp nhiều lần, lòng mạch bị hẹp lại và gây thiếu máu đến tổ chức.

Nguy cơ tổn thương mạch thận càng cao và sớm khi người bệnh ĐTĐ có thêm rối loạn chuyển hóa lipid, hút thuốc lá, tăng huyết áp.

Bệnh cầu thận ĐTĐ

Giai đoạn đầu, đường huyết tăng cao, tổn thương thận chính là giãn khoảng kẽ, phì đại gian mạch. Lâm sàng sẽ thấy quả thận to lên về kích thước, mức lọc cầu thận tăng lên. Khi theo dõi bệnh nhân bị ĐTĐ, người ta thấy kích thước thận tăng cả về chiều rộng, chiều dài và chiều cao tới 140% so với quả thận bình thường. Trong khi mức lọc cầu thận tăng tới 150%. Nếu không được điều trị tốt sẽ tiến triển tới giai đoạn microalbumin niệu. Lúc này thận bắt đầu suy giảm chức năng. Nếu xét nghiệm mô học sẽ thấy màng đáy cầu thận dày lên, có nhiều chỗ bị “vỡ”. Nếu không được điều trị kịp thời sẽ dẫn đến xơ hóa mạch cầu thận và cuối cùng sẽ khiến thận mất chức năng hoàn toàn.

Suy thận giai đoạn cuối

Hầu hết các bệnh nhân ĐTĐ có biến chứng giai đoạn cuối đều là ĐTĐ týp II, chiếm trên 90% trong khi chỉ có dưới 10% ĐTĐ týp I. Suy thận giai đoạn cuối là kết quả của một quá trình bệnh lý kéo dài xuất phát từ những tổn thương rất sớm của thận, sau đó đến giai đoạn muộn hơn, bệnh nhân có xuất hiện các dấu hiệu lâm sàng, xuất hiện đạm niệu, chức năng thận mất đi, ure tăng lên, các thành phần nitơ phi protein và cuối cùng thận mất chức năng hoàn toàn. Khi đó bệnh nhân phải chuyển sang giai đoạn điều trị thay thế. Về điều trị suy thận giai đoạn cuối do ĐTĐ, người ta thấy rằng, có 12% những người bị ĐTĐ suy thận giai đoạn cuối được điều trị bằng thẩm phân phúc mạc (lọc màng bụng). Trên 80% được điều trị bằng thận nhân tạo, chỉ khoảng 8% được ghép thận. Điều trị thay thế thận ở người bệnh ĐTĐ có một số đặc điểm khác với những bệnh lý khác. Đó là thời gian lọc máu phải sớm hơn. Ngay khi mức lọc cầu thận ở mức 15 – 20ml/phút thì bắt buộc phải can thiệp để ngăn các biến chứng khác. Tỷ lệ biến chứng cao hơn và thời gian sống sót của bệnh nhân ngắn hơn so với nhóm bệnh khác.

Lời khuyên của thầy thuốc

Để điều trị hiệu quả biến chứng thận do ĐTĐ phải tuân thủ theo nguyên tắc chặt chẽ, phối hợp nhiều phương pháp và có sự theo dõi sát sao. Cụ thể:

Khống chế đường huyết: Nghiên cứu đa quốc gia cho thấy có sự tương quan chặt chẽ giữa nồng độ HbA1c với sự xuất hiện và khối lượng của protein niệu cũng như chức năng thận. Khống chế tốt đường huyết càng sớm càng tốt sẽ làm giảm đáng kể tần suất bệnh thận và suy thận.

Khống chế huyết áp: Con số huyết áp cần đạt được ở bệnh nhân bệnh thận ĐTĐ bao giờ cũng phải thấp hơn người tăng huyết áp khác. Theo khuyến cáo chung là 120/70mmHg. Các thuốc hay dùng là ức chế men chuyển đổi angiotensin (renitec, lisinopril) hay ức chế thụ thể angiotensin II (aprovel, telmisartan).

Hạn chế tối đa sự tăng cân: Béo phì làm nhanh chóng suy thận hơn hẳn so với người không béo phì.

Bỏ thuốc lá không chỉ ngăn suy thận mà còn giảm các biến cố tim mạch khác.

Ăn giảm đạm cũng làm giảm tiến triển bệnh thận.
Chế độ thể dục hợp lý.

ThS. Nguyễn Vĩnh Hưng

Theo SKDS

Nguy cơ biến chứng tim mạch do Ðái tháo đường

Bệnh nhân mắc đái tháo đường (ÐTÐ) thường sẽ bị tăng nguy cơ vữa xơ động mạch (VXÐM) và tăng tỷ lệ mắc tăng huyết áp cũng như bệnh động mạch vành (ÐMV). Ngoài ra, các biến chứng mạch máu lớn và mạch máu nhỏ khác ở mạch máu não, động mạch chủ, động mạch thận… đều gia tăng ở các bệnh nhân ÐTÐ.

Bệnh nhân ĐTĐ được coi là có nguy cơ tương đương như các bệnh nhân đã có tiền sử nhồi máu cơ tim (NMCT). Mảng xơ vữa ở bệnh nhân ĐTĐ thường là các mảng xơ vữa không ổn định, rất dễ bị nứt vỡ gây hẹp hoặc tắc các mạch máu. Các biến chứng tim mạch của ĐTĐ bao gồm: biến chứng vi mạch (bệnh võng mạc, bệnh thận và bệnh thần kinh); biến chứng mạch máu lớn (bệnh ĐMV, bệnh mạch máu não và bệnh mạch máu ngoại vi). Khi bệnh tiến triển thì bệnh nhân có nguy cơ bị rối loạn nhịp tim, suy tim, suy thận…

nguy-co-bien-chung-tim-mach-do-dai-thao-duong

Nhiều nghiên cứu dịch tễ đã chứng minh bệnh nhân ĐTĐ có nguy cơ bệnh ĐMV cao hơn bệnh nhân không bị ĐTĐ. Bệnh nhân ĐTĐ khi bị NMCT cấp cũng có nguy cơ sốc tim và tử vong cao hơn bệnh nhân không bị ĐTĐ; ĐTĐ làm gia tăng nguy cơ đột quỵ ở người trẻ, ĐTĐ cũng làm tăng nguy cơ đột quỵ gấp 10 lần và cũng làm tăng tỷ lệ tái đột quỵ, tăng sa sút trí tuệ.

Giảm nguy cơ tim mạch bằng cách nào?

Cần phải điều chỉnh lối sống và chế độ ăn uống.

Việc điều chỉnh lối sống bao gồm: giảm cân (nếu có thừa cân hay béo phì); tăng cường vận động (tối thiểu 30 phút/ngày); khẩu phần ăn cần phải cân đối, giảm bớt các chất đường, chất béo, tăng lượng rau xanh; ngưng hút thuốc lá, không uống rượu, bia nhiều. Các biện pháp này cần được thực hiện thường xuyên.

Ngoài ra, cần kiểm soát tốt các bệnh phối hợp khác như tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, tăng axit uric máu…

Kiểm soát đường huyết

Kiểm soát tốt đường huyết sẽ giúp giảm biến chứng vi mạch và biến chứng mạch máu lớn. Trong một số nghiên cứu, người ta đã chứng minh có mối tương quan giữa HbA1c và biến chứng vi mạch. Nếu giảm 10% HbA1c sẽ giảm được 40-50% nguy cơ xuất hiện và tiến triển bệnh võng mạc. Khi mức HbA1C giảm được 1% sẽ giảm được 25% biến chứng vi mạch. Tương quan giữa tăng đường huyết với biến chứng mạch máu lớn không thực sự rõ ràng như tương quan giữa đường huyết với biến chứng vi mạch, nhưng một số nghiên cứu cũng chứng minh khi kiểm soát tốt đường huyết cũng sẽ giúp giảm bệnh mạch máu lớn ở tim và các cơ quan khác.

Trên bệnh nhân ĐTĐ týp 2, mức HbA1c giảm 1% sẽ giúp giảm 14% tỷ lệ NMCT và tử vong. Việc giảm đường máu sau ăn là một yếu tố quan trọng giúp giảm biến cố tim mạch.

Điều trị rối loạn lipid máu

Bệnh nhân ĐTĐ týp 2 thường có tình trạng đề kháng insulin. Từ sự đề kháng insulin này cũng sẽ dẫn đến các rối loạn lipid máu trên bệnh nhân ĐTĐ: tăng TG, giảm HDL-C, tăng LDL nhỏ đậm đặc. Các yếu tố này sẽ góp phần làm gia tăng tình trạng VXĐM.

Điều trị rối loạn lipid máu trên bệnh nhân ĐTĐ ngoài việc điều chỉnh lối sống, điều chỉnh chế độ ăn uống hợp lý còn cần điều trị bằng một số nhóm thuốc điều chỉnh rối loạn lipid máu như nhóm statins, fibrates…

Điều trị tăng huyết áp ở bệnh nhân ĐTĐ thì cần phải cố gắng đưa mức huyết áp xuống dưới 130/80mmHg.

GS.TS. Nguyễn Lân Việt
Theo SKDS

Trầm cảm và đái tháo đường

Trầm cảm là tình trạng rối loạn tâm thần phổ biến nhất có liên quan với đái tháo đường (ĐTĐ). bệnh có thể xảy ra ở nhiều giai đoạn trong diễn tiến tự nhiên của ĐTĐ. Tuy nhiên, đa số người bệnh không được phát hiện và điều trị trong chăm sóc sức khỏe ban đầu.

Tỉ lệ trầm cảm trong ĐTĐ là gấp đôi so với dân số chung, với tỉ lệ gộp là 9% nếu chẩn đoán bằng phỏng vấn, và 26% nếu chẩn đoán bằng cách tự chấm điểm triệu chứng trầm cảm theo thang điểm.

tram-cam-va-dai-thao-duong

Tác hại của trầm cảm trong ĐTĐ

Trầm cảm làm tăng 37% nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ týp 2.  Ngược lại, ĐTĐ làm tăng 3 lần nguy cơ mắc bệnh trầm cảm, nhất là ở những người ĐTĐ đã xuất hiện biến chứng.

Nguy cơ tử vong tăng lên gấp 5 lần. Trầm cảm có liên quan với tử vong ngay cả khi bệnh nhân bị trầm cảm nhẹ hoặc chưa có biểu hiện lâm sàng. Bệnh nhân cao tuổi có bệnh ĐTĐ týp 2 và những người có biến chứng thuộc nhóm có nguy cơ cao.

Khi bị trầm cảm, các gánh nặng liên quan đến ĐTĐ được xem là nghiêm trọng hơn, và sự hài lòng với việc điều trị ĐTĐ là thấp hơn. Bệnh nhân có trầm cảm và ĐTĐ thường ít hoạt động thể lực, tăng xu hướng hút thuốc lá, thói quen ăn uống ít có lợi cho sức khỏe và tuân thủ điều trị ĐTĐ kém. Trầm cảm có liên quan đến cách đánh giá tiêu cực về các liệu pháp insulin ở người chưa từng sử dụng insulin, và điều này có thể gây trì hoãn việc điều trị ĐTĐ, chẳng hạn như chậm khởi đầu điều trị bằng insulin trong ĐTĐ týp 2. Trong một nhóm bệnh nhân được lựa chọn ở bệnh viện cho thấy tình trạng trầm cảm kéo dài hơn, tái phát nhiều hơn và mức độ nặng hơn ở người có bệnh ĐTĐ.

ĐTĐ là một bệnh tốn kém, và đồng mắc bệnh trầm cảm làm tăng thêm chi phí chăm sóc sức khỏe lên 4 lần.

Chẩn đoán trầm cảm ở người ĐTĐ

Việc chẩn đoán và điều trị sớm trầm cảm ở người ĐTĐ là rất quan trọng, tuy nhiên trên 50% trường hợp trầm cảm trong ĐTĐ là không được chẩn đoán. Ba lý do khiến bệnh khó phát hiện, đó là: nếu bệnh ĐTĐ là kiểm soát kém cũng có các triệu chứng tương tư như trầm cảm: mệt mỏi, sụt hoặc tăng cân, thay đổi cảm giác ngon miệng, rối loạn giấc ngủ…; người bệnh không tự nhận ra các dấu hiệu trầm cảm, hoặc có biết cũng ít khi thông báo cho bác sĩ; thầy thuốc thiếu sự quan tâm hoặc do khả năng hạn chế.

Trên thực tế, chỉ có khoảng 1/3 số trường hợp trầm cảm ở người ĐTĐ được chẩn đoán. Vì vậy, khi người thân phát hiện người bệnh có các biểu hiện hoặc hành vi bất thường thì nên sớm thông báo cho thầy thuốc.

Các dạng bệnh tâm thần đồng mắc trong ĐTĐ

Các rối loạn tâm thần khác có thể cùng tồn tại với trầm cảm trong ĐTĐ. Tỉ lệ về các rối loạn lo âu và các vấn đề về ăn uống cũng gia tăng ở bệnh nhân ĐTĐ so với những người khỏe mạnh. Vì những rối loạn này có xu hướng đồng xảy ra với trầm cảm trong dân số chung, nên điều này cũng có thể xảy ra trong bệnh ĐTĐ.

Điều trị người trầm cảm và ĐTĐ

Việc đầu tiên là tìm ra các nguyên nhân thực thể gây ra trầm cảm và loại trừ chúng. Các chiến lược đồng chăm sóc sẽ giúp cải thiện sức khỏe người ĐTĐ và trầm cảm, giúp giảm gánh nặng của bệnh. Dùng thuốc chống trầm cảm, cùng với thay đổi lối sống như tập thể lực thường xuyên, chế độ ăn… sẽ giúp cải thiện tốt cho cả bệnh trầm cảm và ĐTĐ. Ngoài ra, người trầm cảm cần có sự quan tâm giúp đỡ của người thân trong gia đình và các chuyên gia tâm lý.

Phòng ngừa trầm cảm ở người ĐTĐ

Mỗi bệnh nhân có những hoàn cảnh riêng biệt và ứng xử với bệnh hoàn toàn khác nhau. Do đó, người bệnh ĐTĐ nên sớm chấp nhận rằng mình mắc bệnh ĐTĐ và cần điều chỉnh một số hành vi sống như: bỏ ngay thuốc lá, giữ tinh thần lạc quan, duy trì luyện tập thể lực, tìm hiểu nhiều về bệnh ĐTĐ và việc điều trị bệnh. Tự chịu trách nhiệm chăm sóc cho chính mình. Đặt mục tiêu điều trị, nhưng nên hiểu rằng cần có thời gian đạt được mục tiêu đó để tránh tâm lý bi quan, chán nản, dễ dẫn đến không tuân thủ chế độ điều trị.

Chia sẻ cảm xúc với người thân trong gia đình và bạn bè, giúp họ hiểu về bệnh ĐTĐ và tạo điều kiện cho mình thực hiện chế độ ăn cũng như các chế độ điều trị và luyện tập một cách nghiêm túc.

Tìm kiếm sự giúp đỡ của bác sĩ khi có bất kỳ thay đổi nào trong cơ thể, đặc biệt là những tổn thương ở bàn chân để có các biện pháp xử trí kịp thời, tránh nguy cơ cắt cụt chi.

 

BS.CKI. NGUYỄN THANH HẢI

Theo báo công an

Bệnh đái tháo đường ở trẻ em

Hiện nay, tình trạng trẻ em mắc đái tháo đường typ 2 có xu hướng gia tăng. Đái tháo đường ở trẻ em rất khó khống chế do trẻ vẫn cần cung cấp đầy đủ dinh dưỡng để phát triển. Vậy chúng ta cần phải làm gì để ngăn chặn căn bệnh nguy hiểm này ở trẻ? Nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường ở trẻ

– Do yếu tố duy truyền: Trong gia đình có người mắc bệnh đái tháo đường, hoặc do người mẹ mắc bệnh trong khi mang thai.

– Béo phì ở trẻ: Là một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh đái tháo đường ở trẻ và nguy hiểm hơn, trẻ béo phì còn có thể mắc bệnh đái tháo đường typ 2 giống như người lớn.

– Thừa dinh dưỡng: Những trẻ ăn nhiều chất béo, nhiều đường dẫn đến thừa năng lượng và glucose máu tăng. Mặt khác, do thiếu vận động nên năng lượng thừa ngày càng nhiều và dẫn đến béo phì, đây cũng là nguyên nhân gia tăng bệnh đái tháo đường ở trẻ.

Thông thường, người mắc đái tháo đường typ 2 ngoài dùng thuốc còn phải tuân theo một chế độ ăn kiêng cực kỳ nghiêm ngặt. Nhưng với trẻ, nhất là những trẻ đang độ tuổi phát triển, không thể bắt trẻ kiêng khem quá mức. Hơn thế nữa, với trẻ, việc tạo lập một ý thức về bệnh không dễ.

dai-thao-duong-o-tre-em

Làm gì khi trẻ có nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường?

– Lập cho trẻ một kế hoạch tập luyện để trẻ giảm cân khi trẻ bị béo phì.

– Thường xuyên kiểm tra nồng độ đường trong máu để bảo đảm glucose máu luôn ổn định. Nhằm giúp cho trẻ tránh được bệnh đái tháo đường và có một cuộc sống khoẻ mạnh.

– Trong giai đoạn trẻ đang phát triển cơ thể trẻ cần cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng để cho trẻ tăng trưởng và phát triển. Vì vậy, cần phải có một chế độ dinh dưỡng phù hợp theo sự chỉ dẫn của bác sĩ.

– Nên cho trẻ ăn nhiều thức ăn có chứa nhiều chất vitamin, chất sắt, acid folic.

– Không nên cho trẻ ăn những thực phẩm quá mặn, không để trẻ sử dụng nhiều đồ ăn đông lạnh, không cho trẻ em dùng những thức ăn có chứa chất màu tổng hợp và đặc biệt không để trẻ dùng thức uống của người lớn và ăn quá thừa chất dinh dưỡng. Vì như thế sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ.

Ăn cân bằng, vận động hợp lý

Để hạn chế tốt nhất bệnh đái tháo đường là áp dụng một chế độ ăn lành mạnh, khoa học, giàu chất xơ và tăng cường vận động cho trẻ. Trẻ mắc đái tháo đường nên hạn chế bánh kẹo, sô – cô – la, nước cốt dừa, đặc biệt, không nên dùng nước ngọt có gas. Các bậc cha mẹ nên cho trẻ ăn thành nhiều bữa trong ngày vì nếu ăn quá nhiều trong một bữa sẽ làm cho đường huyết tăng cao. Đồng thời, nên thường xuyên kiểm tra nồng độ đường trong máu của trẻ để có giải pháp thích hợp.

Bên cạnh đó, chế độ vận động luyện tập thể dục thể thao đóng một vai trò quan trọng. Trẻ giảm được cân cũng có nghĩa là đã giảm được lượng đường trong máu.

Hiện nay, trên thị trường đã có rất nhiều sản phẩm sử dụng những loại đường thay thế rất tốt cho người đái tháo đường nên trẻ đái tháo đường cũng không cần thiết phải kiêng đường hoàn toàn. Ngoài ra, nếu trẻ đái tháo đường buộc phải theo một chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt, trẻ có khả năng bị thiếu một số chất dinh dưỡng. Với những trường hợp này, nên cho trẻ sử dụng các thực phẩm bổ sung có nhiều chất xơ và vi chất dinh dưỡng, đặc biệt là những sản phẩm dành cho người thừa cân, béo phì và phải dùng theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.

BS.Quý Nhân

Theo SKDS

Bệnh đái tháo đường có ảnh hướng đến mắt

Biến chứng mắt tuy không gây chết người nhưng lại cực kỳ nguy hiểm vì thường gây tàn phế và làm mất khả năng lao động. Vậy có các biến chứng mắt nào do bệnh ĐTĐ?

Bệnh võng mạc do ĐTĐ

Đường huyết (ĐH) cao gây tổn thương, phá hủy thành các mao mạch ở đáy mắt, ảnh hưởng đến tính thấm các mao mạch này, hậu quả là dịch từ trong lòng mạch thoát ra ngoài gây xuất huyết và phù nề. Bản thân các mao mạch bị phá hủy và bị tắc gây thiếu máu ở võng mạc, khi đó, cơ thể sẽ có phản ứng sinh ra một số yếu tố kích thích sự hình thành các mao mạch mới phát triển mạnh cả vào hậu phòng (khoang chứa dịch kính). Các mạch máu mới này rất dễ vỡ và thường gây xuất huyết nặng từ giai đoạn sớm làm đục dịch kính. Các mạch máu mới cũng gây ra các vết sẹo xơ ở võng mạc và trong quá trình liền sẹo có thể co rút gây ra bong võng mạc làm mất thị lực vĩnh viễn. Hậu quả của phù hòng điểm, đục dịch kính, bong võng mạc… là mắt bị giảm hoặc mất khả năng thu nhận các tín hiệu ánh sáng, biểu hiện lâm sàng là giảm thị lực hoặc mất thị lực hoàn toàn.

benh-dai-thao-duong-co-anh-huong-den-mat

Tùy thuộc vào mức độ tổn thương các mạch máu ở võng mạc mà người ta chia bệnh võng mạc ở BN ĐTĐ làm 2 giai đoạn sớm là bệnh võng mạc không tăng sinh (chưa có các mạch máu mới) và muộn là bệnh võng mạc tăng sinh (đã có các mao mạch mới). Điều đặc biệt nguy hiểm là đa số các BN ĐTĐ không thấy có bất cứ triệu chứng gì về mắt cho đến khi đột nhiên bị mất thị lực. Khi đó, dù có được điều trị rất tích cực và tốn kém thì khả năng bảo tồn được thị lực là rất nhỏ, phần lớn các BN sẽ bị mù vĩnh viễn. Chính vì vậy, các BN ĐTĐ cần đi khám mắt định kỳ, tốt nhất là 6 tháng/lần và được khám bởi bác sĩ chuyên khoa mắt.

Thiên đầu thống

Các BN ĐTĐ có nguy cơ bị thiên đầu thống cao gấp 1,4 lần người bình thường, nguy cơ này sẽ tăng lên ở những BN tuổi cao và có thời gian bị bệnh ĐTĐ dài. Thiên đầu thống một hoặc cả hai mắt xảy ra khi áp lực trong mắt tăng lên và trong phần lớn các trường hợp, dịch kính sẽ bị thoát ra ngoài. Áp lực cao sẽ chèn ép vào các mạch máu nuôi võng mạc và dây thần kinh thị giác (dây thần kinh số I), hậu quả là vùng võng mạc và dây thần kinh bị phá hủy gây mất thị lực. Các BN bị thiên đầu thống thường có triệu chứng đau đầu nhiều, đặc biệt đau dữ dội hốc mắt, đo nhãn áp thường rất cao.

Đục thủy tinh thể

Đục thủy tinh thể là bệnh có thể gặp nhiều ở những người không bị ĐTĐ, nhất là ở những người cao tuổi. Tuy nhiên, người bệnh ĐTĐ có nguy cơ bị đục thủy tinh thể cao hơn 1,6 lần và đục thủy tinh thể xuất hiện ở lứa tuổi trẻ hơn. Đôi khi đục thủy tinh thể xuất hiện ở các BN ĐTĐ týp 1 trẻ tuổi và tiến triển rất nhanh, thường là sau 1 giai đoạn kiểm soát đường máu kém.

Đục thủy tinh thể nặng sẽ ngăn cản ánh sáng đi qua, gây giảm thị lực, đồng thời cũng gây khó khăn cho việc khám và phát hiện bệnh võng mạc ở các BN ĐTĐ vì rất khó có thể quan sát được đáy mắt và hậu phòng.

Chăm sóc mắt để tránh bị các biến chứng do ĐTĐ

Đầu tiên và quan trọng nhất là luôn luôn giữ ĐH trong vùng an toàn. Cần khống chế huyết áp thường xuyên ở mức dưới 130/80mmHg. Bỏ thói quen hút thuốc lá. Cần đi khám mắt thường xuyên ít nhất là 1 lần mỗi năm và hãy đến bác sĩ chuyên khoa mắt ngay nếu thấy có một hoặc nhiều các dấu hiệu sau: nhìn mờ, khó đọc sánh báo, nhìn đôi, đau một hoặc cả hai bên mắt, mắt đỏ hoặc căng tức, nhìn có hình ảnh ruồi bay, không nhìn rõ sang 2 bên mà bình thường mình vẫn nhìn được; Khi có thai hoặc có kế hoạch sẽ có thai.

Dự án phòng chống đái tháo đường quốc gia

(Theo suckhoedoisong.vn)

Ðối mặt với nguy cơ bệnh đái tháo đường tăng gấp đôi

Theo Liên đoàn Đái tháo đường Thế giới (IDF), năm 2011 số người bị bệnh ĐTĐ là 366 triệu người. Dự đoán tới năm 2030, toàn thế giới có khoảng 552 triệu người mắc bệnh. Số người mắc bệnh tăng đồng đều ở mọi quốc gia, trong đó có tới 80% người mắc bệnh đang sống ở các nước có thu nhập thấp và thu nhập trung bình. Cho tới nay, 183 triệu người bị bệnh ĐTĐ chưa được chẩn đoán.

Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật. Theo GS.TS. Thái Hồng Quang, Chủ tịch Hội Nội tiết, ĐTĐ Việt Nam, tỷ lệ ĐTĐ ở nước ta trong những năm gần đây có xu hướng phát triển mạnh, chỉ trong khoảng 10 năm, số người mắc bệnh được phát hiện đã tăng gấp đôi. Theo một nghiên cứu trên toàn quốc của BV Nội tiết Trung ương cách đây 5 năm thì tỷ lệ bệnh ĐTĐ 2,7% được ghi nhận, nhưng tới năm 2012, con số này đã lên tới 5,7%.

doi-mat-voi-nguy-co-benh-dai-thao-duong

Tại sao tình trạng bệnh ĐTĐ lại gia tăng một cách báo động như vậy? Cũng theo GS. Thái Hồng Quang, nhờ sự phát triển của ngành y tế nên bệnh ngày càng được chẩn đoán và sàng lọc sớm, cùng với công tác tuyên truyền tốt nên tăng sự hiểu biết của cộng đồng, tăng cường khám bệnh, xét nghiệm máu nên đã phát hiện được bệnh nhiều hơn. Ngoài ra, điểm cắt của chẩn đoán bệnh ĐTĐ đã được hạ thấp. Trước đây, khi mức đường huyết là 7,8mol/l mới được chẩn đoán là ĐTĐ thì ngày nay với mức 7,0mol/l đã được coi là mắc ĐTĐ.

Việt Nam đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có sự thay đổi lối sống mạnh mẽ, sự di chuyển dân cư từ nông thôn tới thành thị và các bữa ăn nhanh, giàu chất béo. Cùng với đó là cuộc sống tăng trưởng, kinh tế phát triển, sự vận động giảm… là những yếu tố nguy cơ cao khiến bệnh ĐTĐ gia tăng. Ngoài ra, ở một số nghiên cứu thì những người châu Á phải trải qua thời kỳ chiến tranh, có tỷ lệ ĐTĐ cao hơn so với vùng không có chiến tranh.

GS. Quang phân tích: Việt Nam trước đây là một quốc gia nghèo, qua 30 năm chiến tranh, một số bộ phận dân cư thiếu dinh dưỡng, do đó tuyến tụy được sinh ra có chức năng sản xuất insulin để chuyển hóa đường ở mức vừa phải. Hiện nay, mức sống đầy đủ, thức ăn dư thừa nên tuyến tụy phải sản xuất insulin quá mức dẫn tới suy kiệt tế bào và bệnh ĐTĐ là điều khó tránh khỏi.

Tuy nhiên, GS. Thái Hồng Quang cũng cho biết, dự phòng bệnh ĐTĐ là việc hoàn toàn có thể làm được. Trước hết, những người có yếu tố nguy cơ như: 45 tuổi trở lên; có bệnh tăng huyết áp; rối loạn lipid máu; đã có lần xét nghiệm đường máu cao; có ĐTĐ thai kỳ; phụ nữ đẻ con hơn 4kg; trong gia đình có thế hệ 1 mắc bệnh ĐTĐ… thì phải được quan tâm đặc biệt tới sức khỏe, đi khám bệnh, xét nghiệm đường huyết, làm nghiệm pháp dung nạp glucose thường xuyên để chia loại mức độ bệnh và tầm soát bệnh, nhằm dự phòng bệnh tiến triển và biến chứng. Tăng cường vận động thể lực, ăn uống hợp lý… để can thiệp tiền ĐTĐ và ĐTĐ.

Thu Hà

Theo SKDS

Nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường ở trẻ

Hiện nay, tình trạng trẻ em mắc đái tháo đường typ 2 có xu hướng gia tăng. Đái tháo đường ở trẻ em rất khó khống chế do trẻ vẫn cần cung cấp đầy đủ dinh dưỡng để phát triển. Vậy chúng ta cần phải làm gì để ngăn chặn căn bệnh nguy hiểm này ở trẻ? Nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường ở trẻ

– Do yếu tố duy truyền: Trong gia đình có người mắc bệnh đái tháo đường, hoặc do người mẹ mắc bệnh trong khi mang thai.

– Béo phì ở trẻ: Là một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh đái tháo đường ở trẻ và nguy hiểm hơn, trẻ béo phì còn có thể mắc bệnh đái tháo đường typ 2 giống như người lớn.

– Thừa dinh dưỡng: Những trẻ ăn nhiều chất béo, nhiều đường dẫn đến thừa năng lượng và glucose máu tăng. Mặt khác, do thiếu vận động nên năng lượng thừa ngày càng nhiều và dẫn đến béo phì, đây cũng là nguyên nhân gia tăng bệnh đái tháo đường ở trẻ.

Thông thường, người mắc đái tháo đường typ 2 ngoài dùng thuốc còn phải tuân theo một chế độ ăn kiêng cực kỳ nghiêm ngặt. Nhưng với trẻ, nhất là những trẻ đang độ tuổi phát triển, không thể bắt trẻ kiêng khem quá mức. Hơn thế nữa, với trẻ, việc tạo lập một ý thức về bệnh không dễ.

nguy-co-mac-benh-dai-thao-duong-o-tre

Làm gì khi trẻ có nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường?

– Lập cho trẻ một kế hoạch tập luyện để trẻ giảm cân khi trẻ bị béo phì.

– Thường xuyên kiểm tra nồng độ đường trong máu để bảo đảm glucose máu luôn ổn định. Nhằm giúp cho trẻ tránh được bệnh đái tháo đường và có một cuộc sống khoẻ mạnh.

– Trong giai đoạn trẻ đang phát triển cơ thể trẻ cần cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng để cho trẻ tăng trưởng và phát triển. Vì vậy, cần phải có một chế độ dinh dưỡng phù hợp theo sự chỉ dẫn của bác sĩ.

– Nên cho trẻ ăn nhiều thức ăn có chứa nhiều chất vitamin, chất sắt, acid folic.

– Không nên cho trẻ ăn những thực phẩm quá mặn, không để trẻ sử dụng nhiều đồ ăn đông lạnh, không cho trẻ em dùng những thức ăn có chứa chất màu tổng hợp và đặc biệt không để trẻ dùng thức uống của người lớn và ăn quá thừa chất dinh dưỡng. Vì như thế sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ.

Ăn cân bằng, vận động hợp lý

Để hạn chế tốt nhất bệnh đái tháo đường là áp dụng một chế độ ăn lành mạnh, khoa học, giàu chất xơ và tăng cường vận động cho trẻ. Trẻ mắc đái tháo đường nên hạn chế bánh kẹo, sô – cô – la, nước cốt dừa, đặc biệt, không nên dùng nước ngọt có gas. Các bậc cha mẹ nên cho trẻ ăn thành nhiều bữa trong ngày vì nếu ăn quá nhiều trong một bữa sẽ làm cho đường huyết tăng cao. Đồng thời, nên thường xuyên kiểm tra nồng độ đường trong máu của trẻ để có giải pháp thích hợp.

Bên cạnh đó, chế độ vận động luyện tập thể dục thể thao đóng một vai trò quan trọng. Trẻ giảm được cân cũng có nghĩa là đã giảm được lượng đường trong máu.

Hiện nay, trên thị trường đã có rất nhiều sản phẩm sử dụng những loại đường thay thế rất tốt cho người đái tháo đường nên trẻ đái tháo đường cũng không cần thiết phải kiêng đường hoàn toàn. Ngoài ra, nếu trẻ đái tháo đường buộc phải theo một chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt, trẻ có khả năng bị thiếu một số chất dinh dưỡng. Với những trường hợp này, nên cho trẻ sử dụng các thực phẩm bổ sung có nhiều chất xơ và vi chất dinh dưỡng, đặc biệt là những sản phẩm dành cho người thừa cân, béo phì và phải dùng theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.

BS.Quý Nhân

Theo SKDS

Thiếu ngủ thường nói lên điều gì

Nếu tình trạng ngủ gật kéo dài bạn nên xem xét lại tình trạng sức khỏe tổng thể của mình.

Thiếu không khí, độ ẩm quá thấp trong văn phòng hay chế độ dinh dưỡng, nếu tình trạng ngủ gật kéo dài bạn nên xem xét lại tình trạng sức khỏe tổng thể của mình.

Vấn đề của tuyến giáp

Tuyến giáp có vai trò sản sinh ra các hormone điều hòa nhiều chức năng chính trong cơ thể như, chịu trách nhiệm cho sự chuyển hóa, kiểm soát cân nặng, tăng cường sức sống và trao đổi chất. Trong trường hợp cơ thể không đủ khả năng sản sinh ra hormone sẽ làm chậm quá trình trao đổi chất sẽ gây ra những cơn buồn ngủ vô cớ. Nếu cùng với tình trạng buồn ngủ các triệu chứng biểu hiện đi kèm như móng tay giòn, dễ gẫy, da khô, tăng cân thì bạn cần phải đi khám bác sĩ nội tiết.

Bệnh đái tháo đường

Theo nhiều nhà khoa học những dấu hiệu của bệnh tiểu đường trong đó có hiện tượng ngủ ngày. Yếu tố ảnh hưởng đến bệnh tiểu đường chính là insulin, nó chính là dây dẫn của glucose đến các cấu trúc tế bào. Sự mất cân bằng của glucose (dù tăng hay giảm) cũng gây ra buồn ngủ. Nếu cùng với điều này các biểu hiện như khô miệng, hay khát nước, ngứa và mẩn đỏ, huyết áp tăng thì bạn cần đến bác sĩ đa khoa hay một bác sĩ nội tiết để tư vấn về bệnh tiểu đường.

Thiếu sắt

Cơ thể thiếu máu là do thiếu hàm lượng sắt. Do đó, hemoglobin được sản sinh ra ít hơn dẫn đến việc vận chuyển ôxy đến mọi bộ phận của cơ thể sẽ chậm lại. Đồng thời, sẽ làm giảm các hoạt động hay tuần hoàn của não, làm chậm các dòng chảy của máu về não gây ra những cơn buồn ngủ. Nếu thường xuyên đau đầu, chóng mặt, thay đổi vị giác, rụng tóc… bạn cần phải làm xét nghiệm máu, ngoài ngăn ngừa việc thiếu máu còn điều trị một số bệnh liên quan.

Trầm cảm

Trầm cảm có thể gây ra mất ngủ do đó bạn sẽ thiếu ngủ và thường xuyên ngủ gật. Đây đơn thuần chỉ là một phản ứng “phòng thủ” với các tình huống căng thẳng của hệ thần kinh. Trong trường hợp này, bộ não sẽ có những phản ứng không hiệu quả đối phó với những “nhu cầu”, cái gọi là thời gian cần nghỉ ngơi của chúng ta. Một lựa chọn tốt nhất trong tình huống này là tìm kiếm một chuyên gia tư vấn tâm lý sẽ mang đến cho bạn những lời khuyên thiết thực và xác định các yếu tố cần phải “điều trị” cũng như giảm thiểu các triệu chứng của bệnh trầm cảm. Ngoài ra, khi bị trầm cảm người ta hay dùng thuốc an thần, thuốc ngủ, vì thế ảnh hưởng của thuốc đến hệ thần kinh sẽ không hề nhỏ. Cho nên, bạn phải rất thận trọng trong việc dùng thuốc, nhất là những loại thuốc liên quan đến bệnh trầm cảm.

dau_hieu_benh_khi_bi_thieu_ngu

Thiếu ngủ gây bệnh trầm cảm

Béo phì

Cảm giác thèm ăn và ngủ luôn khiến những người muốn giảm cân tìm cách khắc phục. Ở những người béo phì, hai lá phổi và não luôn luôn thiếu dưỡng khí và sẽ khiến bạn cảm thấy buồn ngủ. Nếu rối loạn này diễn ra liên tục sẽ gây ra chứng ngưng thở khi ngủ, khiến bạn ngủ không ngon và không say. Hậu quả là não không được nghỉ ngơi, khiến cơ thể luôn cảm thấy bần thần, mệt mỏi, giảm trí nhớ, giảm năng suất lao động, khó tập trung và hay ngủ gật ban ngày.

Theo 24h

Người bệnh béo phì nên ăn tết như thế nào

Người Việt mình nói ăn tết, ít ai nói chơi tết. Vậy, “ăn” sao cho không quá đà, sao cho vẫn “khỏe re” sau những ngày tết?

Trong thời đại ngày nay, khi thức ăn đầy đủ thì mọi người lại có nhiều nguy cơ bệnh tật liên quan đến ăn uống. Do đó, chúng ta cần thay đổi một số thói quen liên quan đến ăn uống để giữ gìn sức khỏe cho mình, nhất là trong những ngày tết.

Người béo phì: chỉ cần không tăng cân

Người béo phì, dư cân cũng có nhu cầu thưởng thức Tết như mọi người. Do đó không cần đặt mục tiêu giảm cân trong dịp tết, chỉ cần không tăng cân là được.

beo-phi-nen-an-tet-nhu-the-nao-vao-ngay-tet-1

– Không nhịn ăn đến mức quá đói, bởi cảm giác đói có xu hướng làm người bệnh ăn mất kiểm soát. Khi đường trong máu hạ đến mức thấp nhất sẽ kích thích cơ thể tiết ra nội tiết tố tăng glucose máu là Glucagon…làm cho cơ thể có xu hướng phải ăn nhiều vào để giúp tăng đường huyết cân bằng trở lại. Do đó nếu ăn ít trong bữa chính, có thể ăn thêm bữa phụ chứ đừng nhịn đói.

– Tăng cường rau trong thực đơn: trong ngày tết có rất nhiều món rau hấp dẫn như khổ qua, măng hầm, bánh tráng cuốn, củ kiệu…

– Không ăn no hoàn toàn, ăn no đến khoảng 80% là vừa.

– Nên ăn uống trước khi đi đến thăm nhà họ hàng, bạn bè, do trong các ngày Tết, mọi người thường có xu hướng dọn nhiều món ăn ngon để đãi bạn bè, họ hàng, rất dễ khiến bạn nạp nhiều năng lượng hơn mức cần thiết.

– Hạn chế uống nước giải khát có đường, không chỉ nước ngọt mà cả các loại trà có đường, nước yến, tăng lực… Nên ưu tiên dùng nước suối, trà xanh không đường, trà gừng không đường, soda không đường, nước ngọt dạng diet, zero calori; nếu có uống bia, nước ngọt thì nhớ thêm đá vào cho loãng bớt ra và uống chậm.

– Ăn vặt các món ít năng lượng, tốn nhiều thời gian ăn như trái cây, rau câu, hạt dưa, hạt bí, hạt hướng dương… vừa tốt cho sức khỏe vừa ít năng lượng.

– Không để bị xiêu lòng trước lời mời mọc, khích tướng, chọc ghẹo của bạn bè, cũng đừng tỏ ra kiêng cử quá mức mà ăn uống hòa đồng với mọi người nhưng biết kiểm soát tổng lượng ăn vào của từng món.

Các món đề xuất trong ngày tết cho bệnh nhân béo phì: bánh tráng cuốn thịt nạc luộc, trứng luộc, măng hầm; mì trứng xào tôm, nấm, và rau cù; cá hấp hay nướng cuốn bánh tráng; tôm hấp…

Ăn uống ngày tết cho người bệnh đái tháo đường

Bài toán đặt ra ở người bệnh đái tháo đường là kiểm soát được đường huyết. Để kiểm soát tốt đường huyết, cần kiểm soát sức tải đường huyết chứ không nhất thiết là chỉ số đường huyết.

Sức tải đường huyết được tính bằng cách lấy chỉ số đường huyết nhân cho trọng lượng thức ăn. Nếu thức ăn có chỉ số đường huyết cao mà ăn ít thì cũng gây tăng đường huyết bằng với thức ăn có chỉ số đường huyết thấp mà ăn với lượng nhiều.

Dưới đây là nguyên tắc ăn uống trong ngày tết ở người mắc đái tháo đường:

– Có thể ăn tất cả các món có chỉ số đường huyết cao trong ngày Tết như bánh, mứt, nước ngọt, bánh tét, bánh chưng… nhưng ăn với lượng ít, hoặc ăn chung với rau, trái cây để các thực phẩm này được hấp thu hoàn toàn hoặc giảm bớt lượng tinh bột khác và có thể giảm bớt tinh bột trong bữa ăn chính để đảm bảo giữ tổng lượng tinh bột tiêu thụ mỗi ngày.

– Nên ăn bữa chính nhỏ và ăn thêm bữa phụ. Chia nhỏ bữa ăn không chỉ giúp ổn định đường huyết mà còn giúp dễ tiêu hóa bữa ăn, tránh đầy bụng, khó tiêu.

– Nên ăn nhiều bưởi, quít, táo, các loại rau có độ nhớt cao ví dụ như đậu bắp, mồng tơi…để cung cấp đủ chất xơ hòa tan. Chất này giúp tạo một lớp gel bao bọc thức ăn trong dạ dày và ruột non, giúp làm chậm quá trình di chuyển, tiêu hóa và hấp thu thực phẩm tại ruột non, giúp kiểm soát đường huyết tốt hơn. Chất xơ hòa tan cũng giúp đào thải cholesterol nội sinh thông qua cơ chế ngăn tái hấp thu acid mật theo chu trình gan ruột.

– Nên chủ động ăn đúng bữa để ổn định đường huyết đặc biệt là đối tượng dùng thuốc hạ đường huyết và tiêm insulin để tránh tăng đường huyết hoặc hạ đường huyết. Do đó nên ăn uống trước khi đi thăm bạn bè họ hàng, đặc biệt là những người tiêm insulin.

Bảng ví dụ lượng thực phẩm cho một bữa chính và bữa phụ cho người béo phì và đái tháo đường: Tính cho thực đơn 1.200 Kcal, bữa chính nên chiếm 30% tức khoảng 360 Kcal, bữa phụ nên chiếm 5% tức khoảng 60 Kcal.

THS.BS Trần Quốc Cường (Trung tâm dinh dưỡng TP.HCM)
Theo Tuổi Trẻ/tinmoi

cải xoong bài thuốc ngăn ngừa bệnh đái tháo đường

Trong các bữa tiệc, khi dùng món thịt nướng, chiên… khó mà thiếu loại rau mang tên cải xoong. Cải xoong còn là vị thuốc khá tốt cho con người, nhất là những ai muốn cai thuốc lá, ngừa ung thư vú…

Mô tả

Cải xoong, còn gọi là xà lách xoong, tên khoa học là Nasturtium officinale hoặc Nasturtium microphyllum, họ Cải (Brassicaceae). Đông y gọi là Tây dương thái.

Trong cải xoong có 93,7% nước, 2,8% protid, 1,4% glucid, 2% cellulose, 0,8% tro, 89mg% calcium, 28mg% phosphor, 1,6mg% sắt, 15 – 45mg% iod, 25mg% vitamin C. Cải xoong rất giàu beta-carotene, vitamin B1, vitamin B6 và những vitamin tan trong dầu như vitamin E, vitamin K. Cải xoong cũng chứa một hàm lượng cao các khoáng chất cần thiết cho cơ thể như iod, sắt, calcium, magnesium, kẽm…

cai-xoong-vi-thuoc-chua-benh-dai-thao-duong-1

Trong các bữa tiệc, khi dùng món thịt nướng, chiên… khó mà thiếu loại rau mang tên cải xoong. Cải xoong còn là vị thuốc khá tốt cho con người, nhất là những ai muốn cai thuốc lá, ngừa ung thư vú…

Mô tả

Cải xoong, còn gọi là xà lách xoong, tên khoa học là Nasturtium officinale hoặc Nasturtium microphyllum, họ Cải (Brassicaceae). Đông y gọi là Tây dương thái.

Trong cải xoong có 93,7% nước, 2,8% protid, 1,4% glucid, 2% cellulose, 0,8% tro, 89mg% calcium, 28mg% phosphor, 1,6mg% sắt, 15 – 45mg% iod, 25mg% vitamin C. Cải xoong rất giàu beta-carotene, vitamin B1, vitamin B6 và những vitamin tan trong dầu như vitamin E, vitamin K. Cải xoong cũng chứa một hàm lượng cao các khoáng chất cần thiết cho cơ thể như iod, sắt, calcium, magnesium, kẽm…

Cải xoong
Các nhà nghiên cứu cũng thấy trong cải xoong có chất quercetin giữ vai trò quan trọng cho sự kháng viêm, đồng thời cũng là một chất thiên nhiên có chức năng chống dị ứng, chống oxy hóa.

Theo Đông y: cải xoong có vị đắng, mùi thơm, tính mát, có tác dụng thanh huyết, giải nhiệt, giảm đau, thanh phế.

Cải xoong có công dụng thanh nhiệt khí ở phổi và bao tử, đối với chứng huyết nóng cũng có hiệu quả. Những ngày nóng bức mùa hè, người nóng nảy, mệt mỏi: dùng 60g cải xoong, rửa sạch, giã nát, thêm nước, lọc và pha đường uống. Có thể xay như xay sinh tố để uống cũng được.

Ở một số nước, dân gian đã dùng cải xoong để hỗ trợ cho bệnh nhân lao, thấp khớp, đau lưng, thiếu máu, tiểu đường, tim mạch, giảm thị lực, sỏi mật. Đặc biệt, cải xoong có thể giải độc nicotin, dùng để giúp bệnh nhân cai thuốc lá.

Ai cũng biết cải xoong nấu canh ăn rất mát, có công hiệu giải nhiệt, phòng nhiệt, nhưng ít ai biết nó còn có công hiệu cầm máu, chữa trị bệnh phổi nữa. Nhiều người làm việc trong môi trường nóng nực, dễ bị thổ huyết, dạ dày xuất huyết, nếu người bình thường không quá suy nhược, nên dùng cải xoong tươi, vắt lấy nước uống một vài chén là có công hiệu cầm máu, lại không sợ tích ứ máu dơ. Nếu người quá suy nhược, thay vì uống nước vắt để sống, nên đun cho sôi rồi mới uống sẽ an toàn hơn. Tuy nhiên, nếu đem chưng chín thì công hiệu của nó sẽ bị sút giảm đi nhiều. Dù uống sống hoặc chưng chín, nếu cho thêm vào một ít muối ăn, công hiệu cầm máu sẽ mau hơn.

Trước đây, đối với những người bị lao phổi ho ra máu, ngoài thuốc của bệnh viện cấp cho uống, chúng tôi thường hướng dẫn bệnh nhân dùng khoảng 200g cải xoong và 6g trần bì (vỏ quít để lâu năm) nấu nước uống.

Tuy nhiên phải nấu cho đủ 4 – 5 tiếng đồng hồ, và uống lúc còn nóng, không được uống lạnh. Mỗi tuần uống như vậy 2-3 lần, bệnh nhân thấy trong người mát mẻ dễ chịu khi ho, đàm dễ ra, ngực thấy nhẹ, dễ thở, nhờ đó mà có lợi cho phổi.

Một nghiên cứu được thực hiện tại Đại học Ulster (Anh) đã kết luận rằng trong cải xoong có chứa một hợp chất gọi là phenylethyl isothio cyanate (PEITC), chất này có khả năng ngăn chặn lại những quá trình gây tổn hại DNA trong bạch cầu. Sự tổn hại DNA trong bạch cầu sẽ làm ngòi nổ cho các tiến trình ung thư; cải xoong với hợp chất PEITC có khả năng kháng ung thư.

Nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học thuộc Đại học Southampton (Anh) cho thấy, ăn xà lách xoong mỗi ngày có thể giúp bảo vệ bạn khỏi nguy cơ mắc bệnh ung thư vú. Các nhà khoa học cho biết ở những tình nguyện viên ăn 80g cải xoong/ngày, chỉ vài giờ sau khi ăn, hàm lượng các phân tử chống ung thư trong máu đã tăng đáng kể. Chiết xuất từ cải xoong còn giúp cản trở sự tăng trưởng của các tế bào ung thư vú. Các chuyên gia cho hay có thể chất isothiocyanates (tạo vị cay nóng cho cải xoong) phát huy tác dụng ngăn cản sự tăng trưởng của các tế bào ung thư. Cải xoong cũng giúp làm tắt nghẽn các tín hiệu mà tế bào ung thư gửi đi để yêu cầu cơ thể cung cấp thêm máu và oxygen.

Năm 2007, công trình của các nhà khoa học Do Thái cũng đã tiết lộ rằng ăn một lượng cải xoong mỗi ngày sẽ làm giảm những hư tổn ADN trong tế bào máu và được xem là những yếu tố khơi mào cho ung thư.

Nhiều thử nghiệm sau đó cho thấy các hóa chất được chiết xuất từ lá cải xoong thực sự ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư.

Các nhà nghiên cứu đưa ra khuyến cáo: để ngăn ngừa ung thư vú, nên ăn nhiều rau cải xoong.

Món ăn bài thuốc

Phụ trợ trị lao phổi: 150g cải xoong nấu canh cùng với 150g phổi heo ăn vào buổi sáng. Buổi chiều lấy 1 nắm cải xoong trộn giấm với 100g thịt bò xào tái. Ăn liên tục trong nhiều ngày. Món ăn bài thuốc này vừa ngon miệng, dễ ăn, lại hỗ trợ làm cho mát phổi, đỡ tức ngực, khó thở.

Trị viêm phế quản: lấy 150g cải xoong, 50g lá tía tô, 5g gừng tươi. Sắc với 3 chén nước còn 1 chén, uống 3 lần/ngày.

Nhuận phế hóa đờm: những người trong phổi lúc nào cũng cảm thấy nóng nực, ho khạc nhiều đờm do phổi bị nhiệt, nên nấu canh rau cải xoong, quả la hán và thịt nạc, ăn hằng ngày.

Người lúc nào cũng cảm thấy nóng, nhất là vùng ngực và vùng dạ dày: cải xoong nấu với cà rốt, chắt lấy nước uống.

Phụ trị tiểu đường: 100g cải xoong, củ cải, cần tây, mùi tây, cà rốt, cải bắp, tỷ lệ bằng nhau, ép lấy nước uống, giúp giảm được lượng đường. Ngoài ra 100g cải xoong chỉ cung cấp 48 calo, không lo tăng nhiệt lượng. Bã của cải xoong cung cấp nhiều chất xơ, giúp người bệnh no, không cảm thấy thèm ăn nhiều.

Trị ngoài da lở loét, rụng tóc: rau cải xoong giã nát đắp lên chỗ đau hoặc da đầu.

Trị phù thũng: rau cải xoong nấu với cá chép trong bữa cơm hằng ngày.

Trị tàn nhang: dùng 3 phần dịch cải xoong, 1 phần mật ong quậy đều, dùng vải mềm tẩm thuốc xoa sáng và chiều, để khô rồi rửa sạch.

Giúp cai nghiện thuốc lá: người nghiện thuốc lá nên ăn nhiều cải xoong.

Làm chắc chân răng và làm đỡ hôi miệng: dùng nước dịch của cải xoong súc miệng.

Tuy là cải xoong là loại rau cải có tính hàn, nhưng nếu nấu lâu, tính hàn của cải xoong sẽ mất, trở thành thức uống mát. Nếu uống lúc còn nóng, có thể đề phòng hàn khí ảnh hưởng tới phổi và bao tử.

Khi uống nước canh hoặc nước cải xoong nấu chín sẽ đi tiểu nhiều, vì vậy người bệnh không nên uống vào buổi tối, để khỏi phải thức dậy đi tiểu, làm mất giấc ngủ.

Lương y HOÀNG DUY TÂN

Theo SKDS

Sống lành mạnh để giảm nguy cơ bệnh tiểu đường

Các yếu tố nguy cơ liên quan đến lối sống như béo phì, nghiện rượu làm tăng nguy cơ đái tháo đường. Một công trình nghiên cứu mới đây cho thấy nếu bệnh nhân thay đổi lối sống tích cực liên quan đến yếu tố gây bệnh thì có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh.cai-thien-loi-song-de-giam-nguy-co-dai-thao-duong-1

Những yếu tố về lối sống có thể ảnh hưởng đến nguy cơ gây bệnh đái tháo đường týp 2 bao gồm: khẩu phần ăn, trọng lượng cơ thể, hoạt động thể chất, hút thuốc và uống rượu.

Các nhà nghiên cứu đã theo dõi trên 200.000 người cho biết nguy cơ đái tháo đường có thể giảm đến 30% đối với nam giới và 39% đối với phụ nữ nếu thay đổi lối sống tích cực như bỏ thuốc lá hay tập luyện cơ thể thường xuyên. Như vậy, uống rượu cũng nên giới hạn ở mức 1ly/ngày đối với phụ nữ và 2 ly/ngày đối với nam giới. Công trình nghiên cứu còn cho thấy, nếu người nào có khả năng thay đổi cả 5 yếu tố nguy cơ nói trên thì có thể làm giảm đến 80% nguy cơ mắc bệnh.

Công trình nghiên cứu được thực hiện trên 114.996 nam giới và 92.483 phụ nữ ở lứa tuổi từ 50-71. Những đối tượng tham gia nghiên cứu này không hề bị bệnh tim mạch, ung thư hay đái tháo đường. Công trình nghiên cứu cho thấy, béo phì hoặc tăng cân quá độ là yếu tố nguy cơ về lối sống mạnh nhất trong 5 yếu tố đã được nghiên cứu. Tuy nhiên, những người tăng cân quá độ vẫn có khả năng làm giảm nguy cơ bằng cách thay đổi lối sống tích cực.
BS. NGUYỄN VĂN THÔNG (Theo WebMD Health News, 2011)

Theo SKDS

Phát hiện ra phần tử phòng bệnh đái tháo đường typ 1

Mới đây người ta tìm ra được một tia hy vọng mới cho phòng đái tháo đường typ 1. Đó là việc tìm ra một phân tử có giá trị phòng được sự xuất hiện của bệnh đái tháo đường typ 1. PGS.TS. Aaron Michels ở Trường Đại học Y Colorado (Mỹ) đã công bố kết quả này khi ông cùng một nhóm các nhà nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm trên chuột bằng cách kiểm tra một loạt các phân tử kỳ vọng và thấy rằng chỉ có một phân tử có nhiều khả năng nhất. Đó là phân tử glyphosine.

phat-hien-phan-tu-benh-dai-thao-duong-typ-1

Nhóm nghiên cứu thấy rằng nếu tiêm chất này vào chuột thì sự bắt giữ insulin của các tế bào là thấp hơn, nghĩa là sự tiếp xúc với các tế bào tuyến tụy và tiêu diệt các tế bào này được giảm hẳn. Trong khi đó, với các con chuột đã bị đái tháo đường thì điều này hoàn toàn vô nghĩa.

Các nhà nghiên cứu cho biết, glyphosine có thể có chức năng phòng đái tháo đường typ 1 trên chuột và nhiều khả năng có tác dụng phòng đái tháo đường trên người.

Hồng Phong(Theo Immunology, 11/2011)

Theo SKDS

Món ăn dành cho người đái tháo đường

Ðái tháo đường (ÐTÐ) là một bệnh về chuyển hóa biểu hiện chủ yếu là đường huyết cao, do thiếu hụt insulin. Tỷ lệ người mắc bệnh ÐTÐ ngày một tăng nhanh, biến chứng bệnh nặng nề ở các cơ quan tạng phủ đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu… Theo y học cổ truyền, ÐTÐ thuộc phạm vi chứng “tiêu khát”. Nguyên nhân chủ yếu do âm hư táo nhiệt. Về điều trị chủ yếu là dưỡng âm sinh tân, thanh nhiệt nhuận táo. Nguyên tắc chung là kết hợp chặt chẽ chế độ ăn uống, luyện tập và dùng thuốc. Một số món ăn – bài thuốc hỗ trợ điều trị bệnh theo từng thể bệnh.

mon-an-danh-cho-nguoi-bi-dai-thao-duong-1

Thể tâm âm hư:

Biểu hiện tâm phiền, miệng khát, ăn nhiều uống nhiều, tiểu nhiều nhưng số lượng mỗi lần ít. Dùng Cháo hoài sơn – tiểu mạch: hoài sơn 60g, tiểu mạch 60g, ngạnh mễ 30g, thêm lượng nước vừa đủ. Đun chín nhừ là dùng được. Tác dụng: dưỡng tâm âm, chỉ phiền khát.

Thể tỳ vị lưỡng hư: Biểu hiện tiểu nhiều, nước tiểu đục, mệt mỏi, đại tiện lỏng. Dùng Canh thịt nạc, hoài sơn, thục địa: hoài sơn 30g, thục địa 24g, trạch tả 9g, tiểu hồi 3g, thịt lợn nạc 60g, tất cả rửa sạch cho vào nồi đun sôi, sau đó vặn nhỏ lửa ninh khoảng 1 giờ là được. Tác dụng: tư âm cố thận, bổ tỳ nhiếp tinh.

mon-an-danh-cho-nguoi-bi-dai-thao-duong-2

Thể can thận âm hư:

Biểu hiện thị lực giảm, tâm phiền dễ cáu gắt, mất ngủ, hay mơ, khát, uống nhiều, người gầy. Dùng Canh ngao nấu kỷ tử: cà rốt 60g, thịt ngao 60g, cho nước và gia vị vừa đủ, đun 1 giờ cho lá kỷ tử 60g đã rửa sạch, đun sôi là dùng được. Tác dụng: dưỡng can, minh mục, thanh nhiệt, chỉ khát. Lá kỷ tử: thanh nhiệt minh mục, trừ phiền giải khát. Cà rốt: vị ngọt, tính mát, bổ can minh mục, thanh nhiệt trừ phiền giải khát. Thịt ngao: vị ngọt, mặn, tính lạnh, có tác dụng dưỡng can minh mục chỉ khát.

Chú ý: Bệnh nhân ĐTĐ thể tỳ thận dương hư, thể trạng béo bệu, lưỡi bệu, rêu trắng dày, mạch trầm trì không nên dùng.

Thể âm hư hỏa vượng: Biểu hiện miệng khát uống nhiều, tâm phiền, dễ cáu gắt, ăn nhiều chóng đói, đại tiện táo, chất lưỡi đỏ khô, rêu vàng, mạch hoạt sác. Dùng Cháo cát căn: cát căn 30g, ngạnh mễ 30g, cho nước đun nhừ là được. Tác dụng: thanh nhiệt trừ phiền, sinh tân chỉ khát. Nghiên cứu dược lý hiện đại cho thấy cát căn có tác dụng hạ đường huyết, giãn mạch máu, giảm nhẹ huyết áp.

TS. Nguyễn Thị Tâm Thuận

Theo SKDS

Nguyên nhân gây đái tháo đường do chế biến thịt đỏ quá kỹ

Theo nghiên cứu công bố trên tạp chí Chăm sóc bệnh đái tháo đường (PC) của Mỹ do các chuyên gia Đại học Y khoa Harvard thực hiện ở 166.188 phụ nữ Mỹ không mắc bệnh đái tháo đường (ĐTĐ), các nhà khoa học phát hiện thấy những người ăn trên 5 suất thịt đỏ chế biến quá kỹ mỗi tuần thì rủi ro mắc bệnh ĐTĐ týp 2 cao hơn nhóm chỉ ăn 1 suất mỗi tuần (mỗi suất ăn tương đường 75g).

che-bien-thit-do-qua-ky-de-bi-dai-thao-duong

Cụ thể, trong nhóm này có 1.369 người phát triển bệnh ĐTĐ týp 2 trong giai đoạn nghiên cứu được thực hiện từ năm 1993 – 2007 và đây là nhóm ăn nhiều thịt đỏ chế biến kỹ, trong khi đó người ta lại không phát hiện thấy mối liên quan giữa bệnh ĐTĐ với các loại thịt đỏ chưa qua chế biến. Trong nghiên cứu nói trên, các nhà khoa học có tính đến các yếu tố khách quan như độ tuổi, trình độ học vấn, vùng miền, chủng tộc, thói quen hút thuốc lá, bệnh tăng huyết áp, cân nặng, tiền sử mắc bệnh cũng như thói quen bất lợi và nhiều vấn đề có liên quan khác.

Khắc Nam(Theo Reuters/HDN, 12/2011)

Theo SKDS

Cà phê giúp giảm nguy cơ tiểu đường tuýp 2

Đái tháo đường týp 2 là căn bệnh đáng sợ, đe dọa tới sức khỏe nhân loại trong một vài thập kỷ tới. Mới đây, các nhà khoa học của Trường đại học Bách khoa Hoa Đông (TP. Vũ Hán, Trung Quốc) đã nghiên cứu về tác dụng của cà phê với bệnh này và thông báo rằng cà phê có thể làm giảm nguy cơ đái tháo đường týp 2.

Kết quả nghiên cứu thú vị trên được tìm ra sau khi các nhà khoa học nghiên cứu trên hàng nghìn đối tượng có thói quen uống cà phê nhiều năm. Theo dõi phân tích thói quen uống cà phê và nồng độ chất hIAPP, một chất gây đái tháo đường týp 2, người ta thấy có một sự liên quan.

uong-ca-phe-lam-giam-nguy-co-dai-thao-duong-tuyp-2

Nếu như một ngày một người uống từ 4 cốc cà phê trở lên thì sẽ giảm được nồng độ chất hIAPP này xuống. Việc đó đồng nghĩa với việc giảm được 50% nguy cơ bị đái tháo đường týp 2. Phân tích sâu hơn, các nhà khoa học đã khám phá thấy, trong cà phê có hai chất hoá học tự nhiên có vai trò ức chế hIAPP.

“Điều này giúp chúng tôi hiểu vì sao mà người hay uống cà phê ở đất nước chúng tôi họ lại không bị đái tháo đường týp 2. Nếu như bạn chịu khó uống thêm một cốc cà phê vào mỗi tuần thì bạn sẽ giảm thêm được 7% nguy cơ nữa”, TS. Ling Zheng đã tiết lộ.

Thu Hiền
(Theo JO Agricultural and Food Chemistry, 1/2012)

Theo SKDS

Thuốc cho bệnh nhân bị bệnh đái tháo đường

Chính thức xuất hiện trên thị trường và được áp dụng điều trị cho người bệnh ÐTÐ vào cuối những năm 90 của thế kỷ 20. Sự phát triển của nhóm thuốc incretin đã và đang gây ra sự chú ý đặc biệt. Người ta đặt nhiều kỳ vọng vào nhóm thuốc này bởi nó đã giải quyết được mối lo ngại chính của các nhà chuyên môn khi chỉ định điều trị cho người bệnh ÐTÐ. Thuốc không gây tăng cân, không gây hạ đường máu. Hãy điểm lại một số nhóm thuốc chính yếu đang được sử dụng hiện nay.

Nhóm Biguamid – điển hình là Metformin với những tên gọi quen thuộc như Glucophage, Glucofast, Siofor…Đây là nhóm thuốc được chọn chỉ định hàng đầu ở châu Âu, Mỹ…, nơi mà người bệnh ĐTĐ typ 2 chủ yếu là thừa cân, béo phì. Nhóm thuốc này được xem là có tác dụng cải thiện tình trạng kháng insulin ở mô ngoại vi – nơi chuyển hóa tới 90% lượng carbohydrate thành năng lượng duy trì các hoạt động sống của cơ thể. Ưu điểm của nhóm thuốc này là không gây tăng cân, không gây hạ đường huyết, nhưng hạn chế là với những người có tổn thương về chức năng gan thận thì không được chỉ định. Đây là một thách thức không nhỏ khi mà tuổi thọ người bệnh ĐTĐ ngày càng tăng cao.

thuoc-moi-hy-vong-moi-cho-benh-nhan-1

Nhóm thuốc Sulfonylurea (SU): nhóm thuốc có khả năng gây hạ glucose máu nhờ kích thích tế bào beta tuyến tụy tiết ra insulin. Hiện nay các thuốc SU đã có nhiều thay đổi; từ thế hệ 1 như các Tolbutaid như Diabetol 500mg, chlopropamid 250 mg… đến các thuốc thế hệ 2 điển hình như các Gliclazid, Glipizid, Glibenclamid…Các nhóm thuốc SU thế hệ 1 nay đã bị cấm dùng vì ảnh hưởng nhiều đến chức năng thận. Các thuốc thế hệ 2 được dùng rất phổ biến nhưng các thuốc này đều có những tác dụng không mong muốn là gây tăng cân, hạ đường huyết. Tuy nhiên nhóm thuốc có tỷ lệ gây hạ đường máu thấp nhất là Glipizid (Diamicron…).

Nhóm Glitazone: Đã từng là hy vọng cho các nhà chuyên môn bởi nó vừa các tác dụng làm hạ đường máu – chủ yếu làm giảm kháng insulin ở mô ngoại vi, giảm rối loạn lipid máu, một số nghiên cứu còn cho thấy nó có khả năng cải thiện chức năng bài tiết insulin của tế bào beta… Nhưng thuốc gây ra nhiều tác dụng không mong muốn, nhất là ở những người đã có suy giảm chức năng gan hoặc suy tim ứ huyết; những tác dụng bất lợi này còn tăng lên ở những trường hợp phối hợp Glitazon vơi insulin.
Nhóm insulin: Đây là thuốc kinh điển nhất, đã được phát triển nhanh chóng vào những năm cuối của thế kỷ trước và thập niên đầu của thế kỷ này. Insulin được chỉ định ngày càng rộng rãi. Đây cũng là nhóm thuốc duy nhất được chỉ định cho mọi giai đoạn tổn thương gan, thận. Các nhà sản xuất cũng đã cho ra đời nhiều loại insulin từ loại tác dụng cực nhanh – gần như đáp ứng sinh lý, đến những insulin có tác dụng chậm, rồi siêu chậm; hình thức tiêm cũng được cải tiến nhiều từ bút tiêm đến đặt máy tiêm insulin theo chương trình…

Nhưng điều lo ngại nhất là tỷ lệ hạ đường máu của insulin quá cao, mức độ gây hạ đường máu quá nhanh – đây cũng là những nguyên nhân trực tiếp làm tăng tỷ lệ tử vong ở người ĐTĐ typ 2 có biến chứng tim mạch. Bên cạnh đó cũng còn nhiều nghi vấn khác chưa được loại trừ ví dụ như insulin có tạo môi trường thuận tiện cho các tế bào tăng trưởng?…

Nhóm Acarbose: Nhóm ức chế enzyme giúp hấp thu glucose ở niêm mạc ruột. Nhóm thuốc này ngăn cản việc chuyển các đường phức thành đường đơn – để hấp thu qua niêm mạc ruột vào máu. Nhóm thuốc này không gây hạ đường máu, không gây tăng cân. Thuốc ít có tác dụng khi mức đường máu đã tăng cao.

– Nhóm Incretin: Nhóm thuốc mới phát triển xuất hiện trên thị trường lần đầu vào năm 1997 với nhóm Sitagliptin, năm 1998 với Vildagliptin, Saxagliptin; gần đây là Linagliptin, Alogliptin. Đây là nhóm thuốc mới làm tăng khả năng bài tiết insulin của tế bào beta tuyến tụy. Thuốc không gây hạ đường máu, không gây tăng cân; ảnh hưởng của chức năng gan, thận lên các thuốc này cũng khác nhau. Hiện tại người ta chỉ định dùng nhóm thuốc này cho cả những bệnh nhân suy thận độ 3, thậm chí sang độ 4 – tính theo mức lọc cầu thận. Nhưng vì là nhóm thuốc mới chúng ta nên thận trọng.

Một nhánh khác của nhóm thuốc này là các GLP-1(glucagon-like peptide-1). Giống như GLP-1 tự nhiên, GLP-1 hoạt động bằng cách kích thích các tế bào beta tăng tiết insulin và ức chế tiết glucagon từ các tế bào alpha chỉ khi mức đường huyết tăng cao. Cơ chế làm giảm lượng đường trong máu cũng liên quan đến việc chậm làm rỗng dạ dày.

Tại châu Âu, GLP-1 được chỉ định điều trị ĐTĐ týp  2 ở người lớn để kiểm soát đường huyết, kết hợp với metformin và sulphonylurea hoặc metformin và thiazolidinedione. Năm 2010, GLP-1 đã được phê duyệt tại Mỹ như là một thuốc hỗ trợ cho chế độ ăn uống và tập thể dục để cải thiện kiểm soát đường huyết ở người lớn bị ĐTĐ týp  2.

Thực tế đã chứng minh các thuốc trong nhóm incretin cũng sẽ có tác dụng và ảnh hưởng khác nhau lên cơ thể người bệnh; thậm chí là mỗi cơ thể khác nhau sẽ có những phản ứng với thuốc khác nhau. Chúng ta cần thận trọng khi sử dụng các thuốc này cho người bệnh.

ThS. BS. Trần Thúy Loan

Theo SKDS