Tag Archives: bệnh béo phì

Phụ nữ lớn tuổi dễ béo phì hơn đàn ông

Nhiều phụ nữ nhận thấy họ tăng cân dễ dàng hơn nam giới khi lớn tuổi hơn. Một nghiên cứu mới của Mỹ có thể giúp lý giải nguyên nhân của hiện tượng này.

Theo các nhà nghiên cứu, sau khi mãn kinh, hoạt động của Aldh1a1 – một loại enzym có liên quan đến quá trình sản sinh mỡ – tăng lên. Loại enzym này được tìm thấy cả ở người và chuột.

beo-phi-phu-nu

Trong quá trình thí nghiệm, các nhà nghiên cứu phát hiện, những con chuột cái được cho ăn chế độ giàu chất béo có hoạt động của Aldh1a1 mạnh mẽ hơn và tích trữ nhiều mỡ trong nội tạng (mỡ quanh bụng) hơn những con chuột đực có cùng chế độ ăn.

Ngược lại, những con chuột cái vẫn sẽ “thon thả” dù tuân thủ chế độ ăn giàu chất béo nếu trước đó chúng được biến đổi gene để thiếu enzym Aldh1a1.

Hoóc môn nữ estrogen dường như ức chế hoạt động của Aldh1a1. Điều này có nghĩa là, các phụ nữ trẻ hơn, những người sở hữu hàm lượng estrogen cao, luôn được bảo vệ trước những tác động không mong muốn của enzym Aldh1a1. Tuy nhiên, sau khi mãn kinh, hàm lượng estrogen giảm xuống, khiến hoạt động của Aldh1a1 tăng và làm cho phụ nữ dễ bị tăng cân.

Nhà nghiên cứu Ouliana Ziouzenkova, trợ lý giáo sư chuyên ngành dinh dưỡng con người tại Đại học Ohio nhận định, bằng cách tấn công Aldh1a1, các nhà khoa học có thể phát triển một phương pháp chống béo phì đặc biệt dành cho phụ nữ.

Tuy nhiên, một phương pháp chữa trị như vậy dường như chưa thể có được trong tương lai gần. Lí do là vì, nghiên cứu trên mới được tiến hành trên chuột và các nhà nghiên cứu trước tiên sẽ phải chứng minh phát hiện của họ cũng đúng với người.

Ngoài ra, nhà nghiên cứu Ziouzenkova cho biết trên trang Live Science rằng, Aldh1a1 còn đóng vai trò quan trọng đối với các chức năng khác của cơ thể ngoài việc hình thành mỡ. Do đó, các nhà nghiên cứu dường như không thể sáng tạo ra một liệu pháp chữa trị loại bỏ hoàn toàn enzym này.

Theo Vietnamnet

Vị giác bị ảnh hưởng bởi quá béo

Béo phì có thể tác động làm thay đổi cách thưởng thức thực phẩm ở một cấp độ cơ bản nhất: thay đổi cách mà lưỡi của chúng ta phản ứng với các thực phẩm khác nhau.

Trong một nghiên cứu trên tạp chí PLOS ONE ngày 13/11, Các nhà sinh học thuộc trường đại học tại Buffalo báo cáo rằng tình trạng béo phì làm suy giảm khả năng phát hiện đồ ngọt của chuột.

So với những con chuột gầy hơn, lũ chuột béo có ít các tế bào vị giác đã phản ứng với kích thích ngọt hơn. Hơn nữa, các tế bào này đã phản ứng với đồ ngọt khá yếu ớt.

Các kết quả nghiên cứu đã lột bỏ một lớp bí ẩn về cách mà béo phì làm thay đổi mối quan hệ của chúng ta với thực phẩm.

beo-phi

“Các nghiên cứu cho thấy béo phì có thể dẫn đến sự thay đổi trong não cũng như trong các dây thần kinh điều khiển các hệ thống vị giác ngoại vi, nhưng các nhà khoa học chưa từng quan sát ở các tế bào nằm trên lưỡi tạo ra sự tiếp xúc với thực phẩm”, nhà khoa học đứng đầu nghiên cứu Kathryn Medler, tiến sĩ, phó giáo sư sinh học cho biết.

Những gì chúng ta thấy là ngay cả ở cấp độ này – ở bước đầu tiên trong cảm nhận hương vị – chính các tế bào vị giác đã bị ảnh hưởng bởi bệnh béo phì, Medler nói: “Những con chuột béo phì có tế bào vị giác ít đáp ứng với các kích thích vị ngọt, và những tế bào này không đáp ứng tốt”.

Nghiên cứu này là rất có ý nghĩa vì mùi vị đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh sự thèm ăn: chúng ta ăn gì và chúng ta tiêu thụ bao nhiêu.

Những nghiên cứu đã qua cho thấy, người béo phì thèm những thực phẩm ngọt và mặn mặc dù những người béo phì có thể cũng không thích những vị này giống như những người gầy hơn.

Medler cho biết, có khả năng là trục trặc về phát hiện ra vị ngọt đã làm những con chuột béo phì ăn nhiều hơn so với lũ chuột gầy để có được những lợi ích tương tự.

Tìm hiểu thêm về mối liên hệ giữa vị giác, sự thèm ăn và béo phì là quan trọng, Medler nói, bởi vì nó có thể dẫn đến các phương pháp mới để khuyến khích ăn uống lành mạnh.

“Nếu chúng tôi hiểu được làm thế nào các tế bào vị giác bị ảnh hưởng và cách mà chúng ta có thể làm những tế bào này trở lại bình thường, điều đó có thể mang tới phương pháp điều trị mới”, Medler nói. “Những tế bào này nằm trên lưỡi của bạn và dễ tiếp cận hơn các tế bào ở các bộ phận khác của cơ thể, giống như bộ não của bạn vậy”.

Nghiên cứu trên tờ PloS ONE mới đã so sánh 25 con chuột bình thường với 25 con chuột nhỏ bé, những con chuột đã được chăm với chế độ ăn giàu chất béo và trở nên béo phì.

Để đánh giá phản ứng của các động vật với các mùi vị khác nhau, nhóm nghiên cứu đã quan sát một quá trình có tên gọi là tín hiệu canxi (calcium signaling). Khi các tế bào “nhận ra” một vị nào đó, sẽ xảy ra một sự gia tăng tạm thời nồng độ canxi bên trong các tế bào, và các nhà khoa học đã đo sự thay đổi này.

Kết quả là các tế bào vị giác của những con chuột béo phì trả lời một cách yếu ớt hơn với không chỉ vị ngọt mà với vị đắng cũng như vậy. Tế bào vị giác của cả hai nhóm chuột có phản ứng tương tự như nhau với vị umami, một hương vị liên quan với các loại thực phẩm ngon và thịt.

Các đồng tác giả nghiên cứu cùng với Medler là cựu sinh viên UB Amanda Maliphol và cựu học viên của UB Deborah Garth.

Phạm Thị Bích Thu (Sciencedaily)

Béo phì… giúp kéo dài tuổi thọ?

beo-phi-giup-tang-tuoi-tho

Béo phì kéo dài tuổi thọ là kết quả một nghiên cứu mới vừa được công bố trên tạp chí y học Journal of the American Medical Association của Mỹ số ra đầu tháng Giêng năm 2013 đã dấy lên làn sóng tranh cãi trong cộng đồng y khoa thế giới, thậm chí đài BBC của Anh còn gọi đây là một “tin rác” hay thông tin “khủng khiếp”. Nghiên cứu trên do Trung tâm Thống kê sức khỏe quốc gia Mỹ (NCHS) thực hiện, xem xét tới 97 nghiên cứu liên quan đến gần 2,9 triệu người, so sánh tỷ lệ tử vong thông qua chỉ số trọng lượng cơ thể (BMI – Body Mass Index). Theo NCHS, những người thừa cân, béo phì (BMI từ 25 – 30) lại có tỷ lệ chết sớm thấp hơn nhóm người có trọng lượng bình thường tới 6%. Nói cụ thể hơn, nhóm béo phì có tuổi thọ cao hơn so với nhóm người có chỉ số trọng lượng bình thường, thậm chí nhóm béo phì còn có các lý do tử vong khác thấp hơn. Lý giải cho hiện tượng này, NCHS biện luận, những người thừa cân, béo phì lo cho sức khỏe nên quan tâm đến việc phòng tránh, chữa trị như thường xuyên đi khám bệnh, kiểm soát huyết áp, mỡ máu, men gan… Tất cả những việc này được can thiệp sớm nên tuổi thọ của họ được kéo dài.

Khắc Hùng (Theo MI/MC, 1/2013)

Theo SKDS

Béo phì làm khối ung thư vú phát triển nhanh

 Đó là cảnh báo của ĐH Y khoa New Orleans Mỹ (TSM) vừa công bố trên tạp chí Breast Cancer Research ra đầu tháng 11/2013. Đặc biệt, nó làm cho tốc độ phát triển của tế bào ung thư, kích thước khối u nhanh hơn so với những người có trọng lượng bình thường. Từ lâu, các nhà khoa học đã hiểu được điều này, song ở nghiên cứu nói trên lại đặt trọng tâm vào mối liên quan giữa béo bụng với bệnh ung thư vú mà lâu nay ít được quan tâm.

beo-phi-lam-khoi-ung-thu-vu-phat-trien-nhanh

Các nhà khoa học đã tiến hành phân tích hàng loạt mẫu tế bào mầm có chứa mỡ được lấy từ cơ thể 26 phụ nữ, những người đã qua thủ thuật hút mỡ và các tế bào mỡ được lấy từ những vị trí khác trong cơ thể. Các tế bào này được nuôi trong phòng thí nghiệm cùng với các tế bào ung thư vú. Sau đó đưa vào tuyến vú của chuột cùng với viên estrogen thì khả năng sản xuất hormon leptin rất nhanh. Làm tăng số lượng tế bào ung thư và hậu quả khối u phát triển mạnh.

Béo phì ở phụ nữ là một trong những lý do làm cho khối ung thư phát triển nhanh. Đặc biệt, tế bào đệm tủy xương (Stromal) ở phụ nữ béo phì tăng nhanh hơn nhóm phụ nữ có trọng lượng bình thường. Stromal cell là tế bào mầm dạng phôi có thể tạo ra những tín hiệu di truyền, giúp tế bào ung thư vú phát triển mạnh. Điều này cho thấy béo phì đã làm thay đổi cấu trúc tế bào Stromal cell và dẫn đến làm tăng viêm nhiễm, hậu thuẫn cho tế bào ung thư phát triển.

Khắc Nam

Theo sức khỏe đời sống

Nguyên nhân thật sự gây nên bệnh béo phì

Các nhà nghiên cứu ở Đại học Giao thông Thượng Hải phát hiện rằng béo phì có thể được gây ra bởi một loại vi khuẩn có tên enterobacter hơn là do ăn quá nhiều hoặc tập thể dục quá ít. Kết quả này được công bố trên tạp chí của Hội Sinh thái vi sinh vật quốc tế.

Các nhà nghiên cứu tiến hành thí nghiệm trên chuột đã được lai giống có khả năng chống béo phì. Những con chuột này vẫn ốm mặc dù được cho ăn một chế độ ăn uống phong phú và được giữ không cho vận động. Tuy nhiên, khi chúng được tiêm vi khuẩn enterobacter của con người, chúng nhanh chóng trở nên béo phì.
beo-phi
Báo cáo của Đại học Giao thông Thượng Hải cho biết vi khuẩn enterobacter lần đầu tiên được kết nối với bệnh béo phì sau khi một lượng cao loại vi khuẩn này được tìm thấy trong đường ruột của một tình nguyện viên bị béo phì.

Các nhà nghiên cứu cho biết một bệnh nhân đã giảm được 28,5kg sau chín tuần thực hiện chế độ ăn “toàn hạt, thực phẩm y học truyền thống Trung Quốc và prebiotics”. Điều này có được là do chế độ ăn uống đã làm giảm sự hiện diện của vi khuẩn enterobacter trong ruột bệnh nhân xuống đáng kể.
Các nhà khoa học hy vọng rằng họ sẽ có cái nhìn sâu sắc hơn về vi khuẩn gây bệnh béo phì thông qua việc tiến hành nghiên cứu trên các khu dân cư khác nhau trong tương lai.

Theo Báo Đất Việt

Trẻ có nguy cơ béo phì khi mắc chứng bệnh vảy nến

Các nhà nghiên cứu Mỹ cho rằng, trẻ bị bệnh vảy nến có nguy cơ thừa cân hoặc béo phì cao hơn hai lần so với trẻ không mắc bệnh.

Tiến sĩ Amy Paller tại Trường Y Feinberg thuộc Đại học Tây Bắc ở Chicago và các cộng sự đã rút ra kết luận trên sau khi tiến hành nghiên cứu trên 615 trẻ em tuổi từ 5-7 ở chín quốc gia thuộc châu Á, châu Mỹ và châu Âu.
tre-bi-vay-nen-co-nguy-co-bi-beo-phi
Cuộc nghiên cứu cũng cho thấy, trẻ em Mỹ bị bệnh vảy nến có nguy cơ bị thừa cân hay béo phì cao hơn bốn lần so với trẻ em khỏe mạnh.

Các chuyên gia tin rằng, mối liên hệ giữa bệnh vảy nến với chứng thừa cân hay béo phì có thể liên quan đến di truyền học. Vì vấn đề di truyền có thể liên quan đến những rối loạn trao đổi chất do bệnh vảy nến đã được chứng minh có liên hệ với cùng một protein vốn kích thích tình trạng kháng insulin và khiến con người thừa cân.

Kết quả nghiên cứu đã được công bố trên chuyên san Archives of Dermatology số ra mới nhất.

Trẻ bị vẩy nến có nguy cơ bị béo phì

Các nhà nghiên cứu Mỹ cho rằng, trẻ bị bệnh vảy nến có nguy cơ thừa cân hoặc béo phì cao hơn hai lần so với trẻ không mắc bệnh.

Tiến sĩ Amy Paller tại Trường Y Feinberg thuộc Đại học Tây Bắc ở Chicago và các cộng sự đã rút ra kết luận trên sau khi tiến hành nghiên cứu trên 615 trẻ em tuổi từ 5-7 ở chín quốc gia thuộc châu Á, châu Mỹ và châu Âu.
tre-bi-vay-nen-co-nguy-co-bi-beo-phi
Cuộc nghiên cứu cũng cho thấy, trẻ em Mỹ bị bệnh vảy nến có nguy cơ bị thừa cân hay béo phì cao hơn bốn lần so với trẻ em khỏe mạnh.

Các chuyên gia tin rằng, mối liên hệ giữa bệnh vảy nến với chứng thừa cân hay béo phì có thể liên quan đến di truyền học. Vì vấn đề di truyền có thể liên quan đến những rối loạn trao đổi chất do bệnh vảy nến đã được chứng minh có liên hệ với cùng một protein vốn kích thích tình trạng kháng insulin và khiến con người thừa cân.

Kết quả nghiên cứu đã được công bố trên chuyên san Archives of Dermatology số ra mới nhất.

Nguồn st

Những loại bệnh do ăn tối không đúng cách

Tạp chí “Dinh dưỡng lâm sàng Trung Hoa” vừa đăng tải 7 bệnh do ăn tối không đúng đem lại.

Béo phì

Buổi tối ăn quá no, nhiệt lượng dư thừa làm cho chất béo tích tụ trong cơ thể, gây ra béo phì. Vì vậy buổi tối dung nạp nhiệt lượng không nên vượt quá tổng nhiệt lượng của cả ngày 30%.

Viêm tuyến tụy

Bữa tối quá no, lại hay uống rượu bia nhiều dễ dẫn đến viêm tuyến tụy cấp tính, gây sốc cho giấc ngủ.

7-benh-do-an-toi-khong-dung-cach

Nhiều mộng

Tối ăn quá no, dạ dày đường ruột chướng nở gây chèn ép cho các bộ phận xung quanh, làm cho tế bào não, các bộ phận lien quan hoạt náo hơn, từ đó gây ra nhiều ác mộng.

Ung thư đường ruột

Nếu ăn quá nhiều dinh dưỡng vào buổi tối sẽ chịu tác dụng của vi khuẩn yếm khí trong đại tràng và sinh ra chất có hại. Ngoài ra, khi ngủ nhu động giảm ít, các chất có hại lưu lại trọng đường ruột thời gian dài, từ đó gây ra ung thư đại tràng.

Bệnh mạch vành

Buổi tối dung nạp quá nhiều nhiệt lượng làm cho cholesterol trong máu tăng cao, dẫn đến xơ cứng động mạch và bệnh mạch vành.

Bệnh tiểu đường

Người già trung niên ăn tối quá no trong thời gian lâu dài, kích thích tuyến tụy bài tiết ra nhiều, gây ra bệnh tiểu đường.

Cao huyết áp

Bữa tối ăn nhiều thịt sẽ làm cho huyết áp tăng mạnh. Thêm vào đó khi ngủ tốc độ lưu lượng máu giảm chậm, phần lớn mỡ máu sẽ tích tụ ở trên thành quản máu, gây ra xơ cứng động mạch vành.
Thực nghiệm chứng minh, mỡ máu của người hay ăn no vào bữa tối thường cao hơn 2-3 lần.

Nếu người béo phì, cao huyết áp thích ăn thịt thì nguy hại càng lớn hơn.

Theo Dân trí

Tránh cho trẻ béo phì

Trẻ em “quá khổ” đang là nỗi lo của nhiều gia đình hiện đại. Béo phì không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn tạo ra áp lực tâm lý đối với trẻ.

Theo các chuyên gia tâm lý, những đứa trẻ béo phì rất khó hòa đồng với xã hội và luôn cảm thấy khổ sở khi bị coi là “người nổi bật”… Có nhiều trẻ ý thức được việc giảm cân và siêng năng tập luyện, nhưng cũng không ít em sau một thời gian ngắn đã buông xuôi. Trong hoàn cảnh này, vai trò của cha mẹ rất quan trọng.

beo-phi-o-tre

Đừng chế nhạo trẻ

Điều tồi tệ nhất mà chúng ta thường hay làm với các trẻ béo phì là lôi các em ra làm trò đùa, nhất là ở nơi công cộng. Đừng bao giờ cười giễu và gọi trẻ với những cái tên thằng bệu, con heo… Cha mẹ nên hiểu rằng, những đứa trẻ “quá khổ” rất nhạy cảm và dễ tủi thân. Nhiều cha mẹ cứ nghĩ việc chế nhạo sẽ khiến các em thấy lo lắng và chăm chỉ giảm cân. Thực tế là không ít trẻ do bị chế nhạo quá nhiều đã trở nên ì ạch trong sự mặc cảm. Trẻ có thể nghĩ rằng “số” mình là thế và sẽ khó thay đổi. Do đó, nếu con gái bạn không muốn mặc đồ bơi mà không có lý do thì đừng vội làm trầm trọng hóa vấn đề.

Gương mẫu trong tập luyện

Hãy dành thời gian sắp xếp lịch để cùng tập luyện cho trẻ, có thể một tiếng mỗi sáng. Không nên “hét” trẻ dậy bằng một chiếc đồng hồ báo thức và rồi để một mình trẻ “âm thầm” tập luyện trong khi cả nhà vẫn ngủ say. Chỉ có tác phong luyện tập của cả nhà mới kéo trẻ thoát khỏi cơn buồn ngủ, truyền cảm hứng và giúp trẻ không cảm thấy lẻ loi. Đồng thời, cha mẹ phải luôn luôn nói cho trẻ thấy vai trò quan trọng của việc tập luyện để có được một thân hình đẹp.

Ăn kiêng

Đừng bắt con bạn ăn kiêng mà không có tư vấn của bác sĩ. Tuy nhiên, bạn có thể giảm tối thiếu đồ ngọt trong khẩu phần ăn của trẻ, thỉnh thoảng nên nới lỏng cho trẻ thư giãn với món ngọt mà chúng thích. Hãy cho trẻ dần dần hiểu ra tầm quan trọng của việc ăn kiêng để lấy lại sự cân bằng trọng lượng. Song cũng không nên làm sự việc trở nên quá nghiêm trọng. Chính các thành viên trong gia đình cũng phải “nhịn” nhiều món ăn khoái khẩu vì không thể để trẻ nhìn mọi người ăn một cách thèm thuồng.

Cho trẻ chơi thể thao và các trò chơi ngoài trời

Hãy tìm cách đưa các bé “phục phịch” ra khỏi nhà và tham gia nhiều loại hình thể thao. Nếu không có nhiều thời gian đưa con đi chơi, bạn nên cho trẻ vào một câu lạc bộ thể dục thể thao. Đừng bao giờ để trẻ bỏ dở bài tập giữa chừng. Hãy nói với trẻ biết số tiền mà bạn đã đóng cho câu lạc bộ để trẻ có ý thức và trách nhiệm hơn trong tập luyện.

(Theo Thanh Niên)

Trẻ béo phì có nguy cơ còi xương cao

Còi xương là bệnh rất phổ biến ở trẻ dưới 3 tuổi, thường gặp ở trẻ sinh thiếu cân, có hội chứng kém hấp thu, trẻ suy dinh dưỡng… Có không ít trẻ có cân nặng tốt, thậm chí thừa cân cũng bị còi xương Nếu không được khám và chữa trị kịp thời, còi xương sẽ để lại những hậu quả lâu dài cho trẻ như: biến dạng lồng ngực, gù vẹo cột sống, chân vòng kiềng, thay đổi dáng đi…

Theo các chuyên gia đầu ngành về dinh dưỡng ở Việt Nam, cả trẻ nhẹ cân lẫn nặng cân đều có thể bị còi xương. Nguyên nhân gây bệnh thường là thiếu vitamin D (chất điều hòa chuyển hóa và hấp thu canxi, phospho); do kiêng cữ quá kỹ, ít cho con tiếp xúc với ánh nắng mặt trời hay chế độ ăn không cân đối (quá mặn hay quá nhiều chất đạm làm đào thải vitamin D qua nước tiểu), trẻ không được bú mẹ đầy đủ cũng dễ bị còi xương. Bên cạnh đó, trẻ được ăn dặm sớm và ăn nhiều bột cũng gây tình trạng loạn chuyển hóa, ức chế hấp thu canxi, làm cho tình trạng thiếu canxi càng trầm trọng hơn.

tre-beo-de-co-nguy-co-coi-xuong-1

Các bác sĩ cũng cảnh báo, nhiều bậc cha mẹ lại cố nhồi nhét, ép trẻ ăn nhiều khiến trẻ bị thừa cân, béo. Trong khi đó, trẻ quá bụ bẫm cũng là một yếu tố gây còi xương. Bởi lẽ ở những trẻ này, nhu cầu về canxi, phospho, vitamin D cao hơn những trẻ bình thường. Thêm vào đó, số cân nặng dư thừa cũng làm tăng gánh nặng cho hệ thống xương non nớt của trẻ.

Biểu hiện trẻ bị còi xương: Trẻ hay quấy khóc, ngủ không yên giấc, hay giật mình, ra nhiều mồ hôi, rụng tóc vùng sau gáy tạo thành hình vành khăn, thóp mềm và chậm liền, chậm mọc răng, chậm biết lẫy, bò, đi…

Nếu không điều trị kịp thời, trẻ còi xương dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn như viêm phổi, tiêu chảy, suy dinh dưỡng, đồng thời, bệnh còi xương còn để lại những hậu quả lâu dài như: biến dạng lồng ngực, gù vẹo cột sống, chân vòng kiềng, thay đổi dáng đi và ảnh hưởng xấu đến việc sinh đẻ sau này đối với bé gái do bị hẹp khung chậu.

Làm thế nào để phòng tránh?

Nhiều bà mẹ khi thấy con bị còi xương thì tìm cách bổ sung canxi. Thực ra, nếu cung cấp đủ canxi mà thiếu vitamin D thì dưỡng chất trên cũng không hấp thu được. Mặt khác, nguyên nhân gây còi xương ở trẻ phần lớn là do thiếu vitamin D. Theo các chuyên gia dinh dưỡng, trẻ ăn sữa bột có nguy cơ còi xương cao hơn trẻ bú mẹ. Tuy nhiên, ngay cả sữa mẹ cũng không đủ vitamin D. Trẻ cần “lấy” thêm chất này qua việc tắm nắng mặt trời. Chỉ cần 10-15 phút tắm nắng vào buổi sáng, tiền vitamin D trên da trẻ sẽ được chuyển thành vitamin D.

Để dự phòng còi xương: bác sĩ khuyên ngay từ thời kỳ mang thai, người mẹ nên dành thời gian tắm nắng, đi dạo ngoài trời, chọn thực phẩm giàu vitamin D và canxi. Trẻ sinh ra cần được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu. Khi đã ăn bổ sung, cần cho dầu mỡ vào bát bột để tăng hấp thu vitamin D (có nhiều trong cá, thịt, trứng…) vì chất này thuộc loại tan trong dầu. Hằng ngày, cần cho trẻ tắm nắng, để lộ chân, tay, lưng, bụng. Cho trẻ uống vitamin D400IU mỗi ngày trong suốt năm đầu tiên, nhất là về mùa đông, đặc biệt cần với trẻ sinh non, nhẹ cân.

BS. Nguyễn Hải Anh

Theo SKDS

Béo phì ở trẻ: Hậu quả khôn lường

Bệnh béo phì ngày càng gia tăng ở trẻ em, bệnh béo phì cũng là nguyên nhân gây ra một số bệnh tim mạch, tiểu đường… ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cuộc sống của trẻ sau này.

Nguyên nhân của căn bệnh béo phì ở trẻ em là gì?

Bệnh béo phì ở trẻ em có nguyên nhân trước tiên là do yếu tố di truyền bẩm sinh, nguy cơ mắc chứng béo phì ở trẻ em tăng gấp 4 lần nếu một trong hai cha mẹ của trẻ bị béo phì và sẽ tăng gấp 8 lần nếu cả hai đều béo phì. Ban đầu căn bệnh này cũng có thể có nguồn gốc tâm lý; một em bé lúc đầu “ốm yếu” có thể được hưởng một sự bù đắp, bồi dưỡng bằng một sự ăn uống, tẩm bổ quá mức, kéo dài… coi như một sự tăng cường thể chất… có thể dẫn trẻ đến béo phì. Một nguyên nhân rất quan trọng nữa là sự thiếu hoặc ít hoạt động thể lực, gây ra sự tồn đọng các chất sinh nhiệt lượng các bu ran (carburants) dư thừa, tích lại dưới dạng các khối mỡ. Vấn đề này thường thấy ở các trẻ em suốt ngày gắn mình vào tivi, máy vi tính… Cuối cùng là thói quen ăn uống thiếu khoa học của gia đình đóng một vai trò rất quan trọng: các bữa ăn quá thịnh soạn, quá nhiều món thịt, cá, sơn hào, hải vị… Ngoài ra, nguyên nhân ít gặp là do các căn bệnh về nội tiết như sự hoạt động không tốt của các tuyến thượng thận hoặc tuyến giáp, hội chứng di truyền về nội tiết có tên là Prader-Willi.

beo_phi_o_tre_hau_qua_khon_luong

Béo phì ảnh hưởng tâm lý và sức khỏe của trẻ như thế nào?

Các nguy cơ do bệnh béo phì gây ra ở trẻ em tùy mức độ có thể dẫn tới những bất lợi ít nhiều nghiêm trọng có thể ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và tương lai của trẻ.

Điều bất lợi đầu tiên thuộc về lĩnh vực tâm lý – xã hội. Trẻ quá béo sẽ chịu đựng những “cái nhìn” thiếu thiện cảm của mọi người, điều có thể đưa tới một sự khó chịu, khổ tâm sâu sắc.

Khi đến tuổi trưởng thành, các vấn đề liên quan đến sự rối loạn lipid (mỡ) sẽ xuất hiện bên cạnh những triệu chứng khác như: tăng cholesterol, mỡ máu cao (hypercholestérolémie) hoặc một sự tiết dư thừa quá mức chất insulin có thể dẫn đến tiểu đường sau này. Như vậy chứng béo phì ở trẻ em là nguồn gốc phát sinh các biến chứng nghiêm trọng ở tuổi trưởng thành: hội chứng tim mạch, bệnh tiểu đường, tăng huyết áp, rối loạn tuần hoàn não…, hô hấp, biến chứng chỉnh hình các chi dưới (complications orthpédiques)…, từ đó nhất thiết phải giảm một cách tuyệt đối, càng sớm càng tốt sự thừa cân của trẻ em.

Cách phát hiện, chữa trị và đề phòng béo phì ở trẻ em

Từ tuổi lên 2 hoặc 3 đã có thể phát hiện ra một sự tăng cân ở trẻ rồi. Tuy nhiên ở những trẻ hơi mập quá, cũng chưa đáng phải lo ngại. Cách phát hiện chính là nhờ sự theo dõi, giám sát đường cong đồ thị biểu diễn các chỉ số cơ thể (indice corporelle) của cơ thể. Chỉ số cơ thể (c.s.c.t) được đo bằng tỷ số:

C.s.c.t = cân nặng (tính bằng kg/chiều cao (tính bằng M)2.

Đồ thị ghi sự biến đổi của các chỉ số cơ thể của trẻ phải được ghi lại theo thời gian thường là 1 tháng 1 lần và có được sự theo dõi, giám sát của thầy thuốc nhi khoa hằng năm. Hơn 50% trẻ em béo phì ở tuổi lên 6, sẽ vẫn béo phì ở tuổi trưởng thành; nếu trẻ vẫn bị béo phì ở tuổi lên 10 thì có đến 70-80% số cháu sẽ vẫn rơi vào tình trạng đó khi lớn lên.

Biện pháp ngăn ngừa bệnh béo phì ở trẻ em là gì?

Để ngăn chặn chứng béo phì ở trẻ em, cần tác động lên 2 lĩnh vực: lĩnh vực ăn và uống và lĩnh vực tiêu hao vật chất (dépeuse physique).

Đối với vấn đề ăn uống, khó khăn đầu tiên của bác sĩ nhi khoa thường gặp là phải thuyết phục cha mẹ trẻ thay đổi cách nuôi dưỡng giúp trẻ giảm cân. Cha mẹ trẻ có thể tham khảo một số gợi ý sau:

– Tôn trọng một nhịp độ (rytsme) 4 bữa ăn/ngày (kể cả bữa ăn phụ, nhẹ (legouter) đầu buổi chiều, kiên quyết loại bỏ thói quen ăn vặt (gugnotage) quà, bánh kẹo…

– Tăng cường ăn rau quả, lý tưởng nhất là 5 trái cây, rau/ngày.

– Hạn chế các món ăn giàu protein (đạm) như thịt, cá, trứng… chỉ 1 lần/ngày.

– Thay thế những loại bánh kem, bánh quy, bánh ngọt, gatô bằng bánh mì trắng, các loại bánh  mì làm bằng bột gạo lức (pain complet), tránh các loại bánh xốp (có nhiều ruột) có đường, sữa, chất béo (pain de mie)…

– Hạn chế sự tiêu thụ các loại phomat khô, chỉ nên dùng 1 lát/ngày và ưu tiên cho các loại sữa chua (yaourts) ở các bữa ăn khác.

– Không nên bỏ các chất tinh bột (féculents): cơm, bột gạo, bánh mì, khoai tây… cần có ở các bữa ăn để trẻ khỏi ăn vặt kẹo, bánh ngọt…

Điều quan trọng cần chú ý là làm sao đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng hợp lý và cần thiết của trẻ ở các lứa tuổi trong khẩu phần ăn hàng ngày. Ở tuổi lên 1, khẩu phần  chất protein (đạm) của trẻ chỉ khoảng 30g/ngày, đến 4-5 tuổi là 50g/ngày, đến năm 12 tuổi là 100-120g/ngày.

Về hoạt động thể chất, phải cho trẻ tiến hành các hoạt động hàng ngày: tập thể dục, leo cầu thang bộ, đi bộ tới trường, tham gia tối đa các hoạt động dã ngoại (cắm trại, leo núi, bơi lội…), hoạt động thể lực, chân tay tối thiểu 1 tiếng/ngày.

Theo SKĐS

Béo phì dễ phát triển do thức ăn nhanh

 Theo các chuyên gia dinh dưỡng, trẻ thường xuyên sử dụng đồ ăn nhanh sẽ có nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch gấp 3 lần so với trẻ ăn đồ bình thường.

do-an-nhanh-gay-cho-nguoi-benh-beo-phi-suy-tim-1

Chỉ nên ăn 1 lần/tuần

Theo TS Nguyễn Thị Lâm, Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia, vai trò của chất béo trong các khẩu phần dinh dưỡng hàng ngày rất quan trọng vì chúng tạo ra màng trao đổi chất, tạo ra mô, đặc biệt là mô thần kinh. Tuy nhiên, chất béo (acid béo) trong đồ ăn nhanh lại rất nguy hại cho trẻ em. Nguyên nhân là vì quy trình chế biến đồ ăn nhanh luôn thực hiện ở nhiệt độ cao khiến dầu chiên bị hydro hóa, sản sinh ra một loại acid béo xấu, có hại cho cơ thể.

Khi loại acid béo xấu này vào cơ thể sẽ làm tăng cholessterol xấu, đồng thời làm hạ cholesterol tốt xuống gây xơ vữa động mạch, đông đặc máu và tạo ra những mảng tiểu cầu dạng mỡ bám vào thành mạch, dần dần bịt kín khiến cho máu không lưu thông được, gây tắc nghẽn từ đó dẫn đến nguy cơ đột quỵ.

Theo TS Nguyễn Duy Thịnh, Viện Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm, đồ ăn nhanh như bánh hamburger hay bánh pizza đều rất giàu năng lượng. Thông thường, một phần gà rán có trên 400 – 450 kcalo, một phần hamburger cũng 450-460 kcalo, một chiếc bánh pizza có thể cung cấp đến 1.500 kcalo. Vì vậy, nếu một đứa trẻ ăn một chiếc pizza tức là đã đưa vào cơ thể gần đủ năng lượng cần thiết trong một ngày.

Cũng theo TS Nguyễn Thị Lâm, hàm lượng acid béo xấu trong đồ ăn nhanh rất cao. Chẳng hạn: Trong 1 lạng khoai tây chiên có chứa 8g acid béo xấu; 100g bánh ngọt phủ kem, đường có chứa 5g acid béo xấu hay như một 100g kẹo thanh cũng chứa đến 3g acid béo xấu…Trong khi đó, nếu một người bình thường ăn trung bình khoảng 3,6g acid béo xấu/ ngày có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim tới ba lần so với mức 2,5g acid béo xấu/ngày. Với trẻ em, tỷ lệ này còn cao hơn rất nhiều nếu trẻ ăn đều đặn quá 2 lần đồ ăn nhanh/tuần. Tốt nhất, trẻ chỉ nên ăn đồ nhanh 1 lần/tuần. Với trẻ đã béo phì thì cần nói không với đồ ăn nhanh.
Thiếu vitamin và khoáng chất

do-an-nhanh-gay-cho-nguoi-benh-beo-phi-suy-tim-1
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Đại học Columbia và California, Berkeley (Mỹ), 86% trẻ em ăn đồ ăn nhanh trên 2 lần/tuần sẽ mắc bệnh béo phì. Tiến sỹ Brownell, trưởng dự án nghiên cứu cho rằng cần có những chính sách chặt chẽ và quyết liệt để giảm sự tiếp xúc của trẻ em đồ ăn nhanh như: Xóa sổ đồ ăn đóng gói, đồ ăn nhanh, nước ngọt khỏi phạm vi trường học, siết chặt quản lý quảng cáo trực tiếp đồ ăn nhanh cho trẻ em…

Ngoài nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch các chuyên gia dinh dưỡng còn khuyến cáo nguy cơ bị thiếu các vitamin và khoáng chất nếu trẻ sử dụng nhiều đồ ăn nhanh. Vì trong hầu hết các loại đồ ăn nhanh bán trên thị trường đều rất giàu năng lượng, chất đạm, chất béo nhưng lại thiếu rau củ. Vì vậy, nếu trẻ đã ăn các bữa ăn chính mà lại ăn thêm thức ăn nhanh sẽ làm trẻ sử dụng thừa năng lượng. Còn ăn quá nhiều thức ăn nhanh trong tuần thì lâu dài sẽ bị thiếu các vitamin. Khi cơ thể thừa đạm còn dẫn tới tình trạng tăng thải canxi qua nước tiểu, làm tăng nguy cơ sỏi thận, loãng xương, tiểu đường, gút…

Một sai lầm của các bậc cha mẹ là cho trẻ ăn đồ ăn nhanh và cho ăn hoa quả hay sinh tố thay rau và cho rằng như vậy đã đủ dinh dưỡng. Tuy nhiên, theo TS Nguyễn Thị Lâm, điều này không hợp lý vì hàm lượng vitamin và khoáng chất trong rau cao hơn trái cây. Chẳng hạn lượng caroten hay các loại vitamin và chất khoáng trong rau dền cao gấp 2,6 lần so với cam, chanh. Các chất xơ trong rau còn có tác dụng chống táo bón. Một số loại rau, gia vị còn có tác dụng chữa trị nhiều bệnh và là nguồn kháng sinh thực vật rất quý như: Hành, cà rốt, tỏi, tía tô… Rau xanh ngoài việc cung cấp nhiều vitamin, chất khoáng, chất chống ôxy hoá còn chứa nhiều chất xơ làm kéo dài thời gian tiêu hoá, làm giảm hấp thu chất béo.

Với những trẻ đã béo phì, cần nói không với đồ ăn nhanh nhưng không nên nói không với dầu mỡ mà chỉ nên hạn chế. Vì dầu mỡ ngoài cung cấp năng lượng còn là dung môi hòa tan các loại vitamin. Trẻ béo phì cũng có thể uống thêm sữa gầy (sữa bột tách bơ). Ngoài ra, khi chế biến thức ăn cho trẻ béo phì cần làm các món hấp, luộc, không khuyến khích trẻ ăn đói và bỏ bữa. Ngoài đồ ăn nhanh, trẻ béo phì cũng nên loại khỏi thực đơn các loại thịt mỡ hoặc da của các loại da cầm như: Gà, ngan, vịt.

Hải Long

Theo tinmoi

Người bệnh béo phì nên ăn tết như thế nào

Người Việt mình nói ăn tết, ít ai nói chơi tết. Vậy, “ăn” sao cho không quá đà, sao cho vẫn “khỏe re” sau những ngày tết?

Trong thời đại ngày nay, khi thức ăn đầy đủ thì mọi người lại có nhiều nguy cơ bệnh tật liên quan đến ăn uống. Do đó, chúng ta cần thay đổi một số thói quen liên quan đến ăn uống để giữ gìn sức khỏe cho mình, nhất là trong những ngày tết.

Người béo phì: chỉ cần không tăng cân

Người béo phì, dư cân cũng có nhu cầu thưởng thức Tết như mọi người. Do đó không cần đặt mục tiêu giảm cân trong dịp tết, chỉ cần không tăng cân là được.

beo-phi-nen-an-tet-nhu-the-nao-vao-ngay-tet-1

– Không nhịn ăn đến mức quá đói, bởi cảm giác đói có xu hướng làm người bệnh ăn mất kiểm soát. Khi đường trong máu hạ đến mức thấp nhất sẽ kích thích cơ thể tiết ra nội tiết tố tăng glucose máu là Glucagon…làm cho cơ thể có xu hướng phải ăn nhiều vào để giúp tăng đường huyết cân bằng trở lại. Do đó nếu ăn ít trong bữa chính, có thể ăn thêm bữa phụ chứ đừng nhịn đói.

– Tăng cường rau trong thực đơn: trong ngày tết có rất nhiều món rau hấp dẫn như khổ qua, măng hầm, bánh tráng cuốn, củ kiệu…

– Không ăn no hoàn toàn, ăn no đến khoảng 80% là vừa.

– Nên ăn uống trước khi đi đến thăm nhà họ hàng, bạn bè, do trong các ngày Tết, mọi người thường có xu hướng dọn nhiều món ăn ngon để đãi bạn bè, họ hàng, rất dễ khiến bạn nạp nhiều năng lượng hơn mức cần thiết.

– Hạn chế uống nước giải khát có đường, không chỉ nước ngọt mà cả các loại trà có đường, nước yến, tăng lực… Nên ưu tiên dùng nước suối, trà xanh không đường, trà gừng không đường, soda không đường, nước ngọt dạng diet, zero calori; nếu có uống bia, nước ngọt thì nhớ thêm đá vào cho loãng bớt ra và uống chậm.

– Ăn vặt các món ít năng lượng, tốn nhiều thời gian ăn như trái cây, rau câu, hạt dưa, hạt bí, hạt hướng dương… vừa tốt cho sức khỏe vừa ít năng lượng.

– Không để bị xiêu lòng trước lời mời mọc, khích tướng, chọc ghẹo của bạn bè, cũng đừng tỏ ra kiêng cử quá mức mà ăn uống hòa đồng với mọi người nhưng biết kiểm soát tổng lượng ăn vào của từng món.

Các món đề xuất trong ngày tết cho bệnh nhân béo phì: bánh tráng cuốn thịt nạc luộc, trứng luộc, măng hầm; mì trứng xào tôm, nấm, và rau cù; cá hấp hay nướng cuốn bánh tráng; tôm hấp…

Ăn uống ngày tết cho người bệnh đái tháo đường

Bài toán đặt ra ở người bệnh đái tháo đường là kiểm soát được đường huyết. Để kiểm soát tốt đường huyết, cần kiểm soát sức tải đường huyết chứ không nhất thiết là chỉ số đường huyết.

Sức tải đường huyết được tính bằng cách lấy chỉ số đường huyết nhân cho trọng lượng thức ăn. Nếu thức ăn có chỉ số đường huyết cao mà ăn ít thì cũng gây tăng đường huyết bằng với thức ăn có chỉ số đường huyết thấp mà ăn với lượng nhiều.

Dưới đây là nguyên tắc ăn uống trong ngày tết ở người mắc đái tháo đường:

– Có thể ăn tất cả các món có chỉ số đường huyết cao trong ngày Tết như bánh, mứt, nước ngọt, bánh tét, bánh chưng… nhưng ăn với lượng ít, hoặc ăn chung với rau, trái cây để các thực phẩm này được hấp thu hoàn toàn hoặc giảm bớt lượng tinh bột khác và có thể giảm bớt tinh bột trong bữa ăn chính để đảm bảo giữ tổng lượng tinh bột tiêu thụ mỗi ngày.

– Nên ăn bữa chính nhỏ và ăn thêm bữa phụ. Chia nhỏ bữa ăn không chỉ giúp ổn định đường huyết mà còn giúp dễ tiêu hóa bữa ăn, tránh đầy bụng, khó tiêu.

– Nên ăn nhiều bưởi, quít, táo, các loại rau có độ nhớt cao ví dụ như đậu bắp, mồng tơi…để cung cấp đủ chất xơ hòa tan. Chất này giúp tạo một lớp gel bao bọc thức ăn trong dạ dày và ruột non, giúp làm chậm quá trình di chuyển, tiêu hóa và hấp thu thực phẩm tại ruột non, giúp kiểm soát đường huyết tốt hơn. Chất xơ hòa tan cũng giúp đào thải cholesterol nội sinh thông qua cơ chế ngăn tái hấp thu acid mật theo chu trình gan ruột.

– Nên chủ động ăn đúng bữa để ổn định đường huyết đặc biệt là đối tượng dùng thuốc hạ đường huyết và tiêm insulin để tránh tăng đường huyết hoặc hạ đường huyết. Do đó nên ăn uống trước khi đi thăm bạn bè họ hàng, đặc biệt là những người tiêm insulin.

Bảng ví dụ lượng thực phẩm cho một bữa chính và bữa phụ cho người béo phì và đái tháo đường: Tính cho thực đơn 1.200 Kcal, bữa chính nên chiếm 30% tức khoảng 360 Kcal, bữa phụ nên chiếm 5% tức khoảng 60 Kcal.

THS.BS Trần Quốc Cường (Trung tâm dinh dưỡng TP.HCM)
Theo Tuổi Trẻ/tinmoi

Người béo phì dễ bị bệnh gan

Một nghiên cứu mới đây từ Học viện Sahlgrenska cho thấy thừa cân làm tăng đáng kể nguy cơ xơ gan ở nam giới.

thua-can-gay-hai-cho-gan

Nhóm nghiên cứu thuộc Học viện Sahlgrenska đã tìm hiểu mối liên quan giữa thừa cân và nguy cơ xơ gan ở nam giới độ tuổi trung niên. Họ đã xem xét 855 nam giới 50 tuổi và theo dõi họ tới 40 năm.

Không người nào trong số họ bị các vấn đề về gan tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu song trong suốt thời gian dài theo dõi, khoảng 2% số nam giới có chẩn đoán xơ gan. Tất cả những người có chẩn đoán xơ gan đều bị thừa cân tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu, với chỉ số khối cơ thể (BMI) trung bình là 28 – BMI > 25 được xếp là béo phì.

Những nam giới không có chẩn đoán xơ gan trong suốt thời gian nghiên cứu có mức BMI trung bình dưới 25. Phân tích thống kê đã chứng minh rằng cả BMI và tăng nồng độ triglycerides, một dạng mỡ máu là những yếu tố nguy cơ gây xơ gan. Tuy nhiên, mối liên quan giữa rượu và xơ gan không được chứng minh là có ý nghĩa thống kê.

Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Scandinavian Journal of Gastroenterology.

Theo ANTĐ/MEDICALNEWSTODAY

Béo phì dễ bị ung thư tuyến tiền liệt

Nghiên cứu của Trung tâm y tế Đại học Duke phát hiện ra rằng, những người đàn ông béo phì có khả năng bị ung thư tuyến tiền liệt cao hơn so với người bình thường.

beo-phi-de-bi-ung-thu-tuyen-tien-liet

Ung thư tuyến tiền liệt phổ biến ở đàn ông lớn tuổi. Các bác sĩ theo dõi 287 bệnh nhân, những người được chẩn đoán và điều trị bệnh ung thư. Kết quả, bệnh nhân béo phì là những người mắc bệnh và khả năng tái phát bệnh cao gấp 3 lần. Tại Hội nghị bệnh ung thư hằng năm ở Mỹ, kết quả khảo sát cho thấy bệnh béo phì ở Mỹ  và châu Âu tăng cao, kéo theo tỷ lệ cao bệnh ung thư tuyến tiền liệt – bệnh gây chết người ở nam giới.

Theo TNO

Béo phì ảnh hưởng đến bệnh suy tĩnh mạch

Béo phì chính là sự tích tụ quá nhiều mỡ trong cơ thể. Ngoại trừ những người có bắp thịt nở nang, còn lại tất cả những người có số cân nặng cơ thể vượt quá 20% số cân tiêu chuẩn phù hợp với chiều cao, đều được coi là béo phì. Béo phì dẫn đến nhiều biến chứng trong đó có bệnh suy tĩnh mạch.

Béo phì là đại dịch của thiên niên kỷ mới

Cũng như đái tháo đường týp II, hiện nay với nhiều công trình nghiên cứu các nhà khoa học cho rằng: nếu không ngăn chặn kịp thời, bệnh béo phì sẽ trở thành đại dịch của thiên niên kỷ mới. Và kéo theo nó là rất nhiều bệnh khác như cao huyết áp, suy tim, đái tháo đường, ung thư. Cho đến nay thực sự bệnh béo phì đã làm giảm tuổi thọ và chất lượng cuộc sống của con người.

beo-phi-va-suy-tinh-mach-1

Tại Việt Nam, cho đến nay chưa có số thống kê nào mang tính chất toàn thể trong dân chúng về bệnh béo phì. Tuy nhiên, trong cuộc sống hàng ngày, số lượng người bị bệnh béo phì cũng rất nhiều. Ngay cả người viết bài này cũng có đến 4 đứa cháu bị bệnh béo phì, có đứa mới 14 tuổi đã nặng gần 90kg, khi đi vào căn nhà nhỏ của người cháu, chỉ thấy toàn là người không thấy đồ đạc đâu cả.

Ở Hoa Kỳ, có đến 24% số nam giới và 27% nữ giới bị bệnh béo phì và có sự khác biệt rất lớn về số lượng người bị bệnh này tùy theo tuổi tác, địa vị xã hội và chủng tộc. Ở lứa tuổi trên 50, số người bị bệnh cao gấp 2 lần so với những người trẻ tuổi dưới 20, những phụ nữ da đen có địa vị xã hội thấp, phải làm những công việc nặng nhọc dễ bị béo phì gấp hai lần so với những phụ nữ thuộc màu da khác và có địa vị xã hội và kinh tế cao hơn.

Nguyên nhân của bệnh béo phì

Cho đến ngày hôm nay, nguyên nhân thực sự của bệnh béo phì vẫn chưa được biết đến. Có công trình nghiên cứu cho rằng bệnh có tính di truyền, hay những biến đổi trong gen, tuy nhiên tất cả mới chỉ là giả thuyết. Cơ chế gây béo phì khá đơn giản: đó là sự mất cân bằng giữa lượng chất đưa vào và nhu cầu thực sự của cơ thể. Có ít nhất 7 yếu tố gây ra bệnh béo phì, các yếu tố này tác động qua lại với nhau để gây nên bệnh:

1. Yếu tố di truyền:

Những nghiên cứu gần đây trên những người sinh đôi, sinh ba hay trên con nuôi của một số gia đình cho thấy: di truyền là một yếu tố rất quan trọng đưa đến bệnh béo phì. Sự tham dự về phần di truyền của bệnh tương ứng với sự di truyền đa gen, có nghĩa là có nhiều gen cùng tham gia.

2. Yếu tố xã hội:

Đó là những yếu tố đặc biệt quan trọng gây nên bệnh, nhất là ở phụ nữ. Trong các xã hội phát triển, như xã hội của các nước phương Tây thì bệnh béo phì xảy ra rất nhiều ở những phụ nữ lao động chân tay và có cuộc sống kinh tế thấp hơn là ở những phụ nữ lao động trí óc và có đời sống kinh tế ở mức cao. Thoạt đầu, nghe tưởng như là nghịch lý, nhưng sự thực lại là như vậy.

3. Các rối loạn nội tiết và chuyển hoá:

Những bệnh nhân bị rối loạn nội tiết và chuyển hóa:  u vỏ thượng thận, mãn kinh, rối loạn chuyển hoá đường và lipid… sẽ kích thích tạo mô mỡ. Sự hình thành nhiều mô mỡ trong cơ thể khiến cho sự gia tăng  nhu cầu  về chất đường, kéo theo gia tăng nhu cầu về insulin, sự gia tăng hai chất này lại kích thích tạo mô mỡ và hình thành một vòng xoắn bệnh lý luẩn quẩn rất khó điều trị.

4. Yếu tố tâm lý:

Trước đây và ngay cả hiện nay nữa, yếu tố tâm lý cũng đã được khá nhiều người gán cho một tầm quan trọng lớn lao trong việc gây ra bệnh béo phì và chúng ta thường cho rằng những người béo phì là những người có rối loạn về tâm lý và tình cảm. Tuy nhiên, trong thực tế những người không bị béo phì cũng bị rối loạn tâm lý và tình cảm. Những rối loạn tâm lý và tình cảm của người bị béo phì ngày nay thường được xem là hậu quả của những thành kiến và kỳ thị đối với họ hơn là nguyên nhân của bệnh. Có hai hội chứng rối loạn về tâm thần có thể gây nên bệnh béo phì, đó là: hội chứng ăn uống vô độ và hội chứng ăn đêm bao gồm biếng ăn vào buổi sáng nhưng lại ăn rất nhiều về ban đêm đi kèm với mất ngủ. Cả hai đều là những yếu tố rất quan trọng gây rối loạn giữa lượng thức ăn đưa vào cơ thể và năng lượng tiêu hao trong quá trình hoạt động, gây ra tích tụ mỡ và tăng trọng.

5. Các yếu tố tăng trưởng của cơ thể:

Sự gia tăng khối lượng cơ thể trong bệnh béo phì có thể do sự gia tăng kích thước của tế bào mỡ, gọi là béo phì phì đại hoặc sự gia tăng số lượng của tế bào mỡ, còn gọi là béo phì tăng sản hoặc phối hợp cả hai. Béo phì xuất hiện ở tuổi trưởng thành thường là béo phì phì đại và việc giảm cân nặng ở những bệnh nhân này có vẻ dễ hơn chỉ cần tuân thủ nghiêm ngặt những quy định về lượng cũng như chất của thức ăn đưa vào cơ thể, kết hợp với luyện tập thân thể, và kết hợp sử dụng một số thuốc là được. Trong khi đó, béo phì xuất hiện ở tuổi thiếu niên thường là béo phì theo kiểu tăng sản hoặc phối hợp cả hai và việc cố gắng giảm cân thật sự rất khó khăn, có nhiều trường hợp gần như là không tưởng. Do đó việc ngăn ngừa bệnh béo phì ngay từ khi đứa bé còn nhỏ là rất quan trọng. Điều này trái ngược với tâm lý chuộng những đứa trẻ béo tốt mà các bậc cha mẹ trong thời đại hiện nay mong muốn.

6. Hoạt động thể lực:

Việc giảm hoạt động thể lực một cách rõ rệt ở một xã hội có nền kinh tế phát triển và tiện nghi như ngày hôm nay cũng là một yếu tố rất đáng kể gây nên bệnh béo phì. Ở những người này cán cân về năng lượng sẽ bị thiên lệch cung nhiều hơn cầu và con đường dẫn đến béo phì rất rộng mở. Ngay tại nước Mỹ, mặc dù mỗi người dân đã cố gắng giảm bớt 10% số calorie thức ăn đưa vào cơ thể nhưng tỷ lệ béo phì vẫn tăng lên  gấp hai lần so với những năm đầu thế kỷ.

7. Các tổn thương trên não bộ:

Các tổn thương trên bộ não của bệnh nhân, đặc biệt là ở vùng dưới đồi có thể gây ra bệnh béo phì, mặc dù đây là một nguyên nhân rất hiếm gặp.

Các dấu hiệu và biến chứng của béo phì

Dấu hiệu dễ nhận thấy nhất của bệnh béo phì là gia tăng trọng lượng cơ thể và khối lượng mỡ tích tụ tại một số phần đặc biệt của cơ thể như: bụng, đùi, eo, ngay cả ở ngực nữa.

Sự tích tụ quá nhiều mỡ ở lồng ngực, cơ hoành và ổ bụng sẽ gây nên hiện tượng khó thở cho bệnh nhân. Trong trường hợp béo phì nặng, tình trạng khó thở có thể gay nên hội chứng Picwick với những đợt ngưng thở vào ban đêm có thể đưa đến tử vong. Béo phì còn dẫn đến những rối loạn về chỉnh hình, như đau và thoái hoá khớp gối, đau lưng và thoái hoá cột sống… Một số phụ nữ có thể bị rối loạn kinh nguyệt hoặc không có kinh. Một số khác rất dễ bị cao huyết áp, thiếu máu cơ tim, đái tháo đường, ung thư và rất nhiều bệnh khác làm giảm đi chất lượng của cuộc sống và rút ngắn tuổi thọ của con người.

Ngoài ra khi bị béo phì áp lực của cơ thể sẽ tăng lên nhất là khi đứng làm cho việc máu trở về tim bằng đường tĩnh mạch trở nên rất khó khăn. Áp lực trong lòng tĩnh mạch sẽ tăng lên, thành tĩnh mạch cả tĩnh mạch nông và tĩnh mạch sâu bị giãn lớn và khi đó sẽ làm cho van tĩnh mạch đóng không kín và máu sẽ trào ngược về phía dưới. Từ đó sẽ gây ra tình trạng suy tĩnh mạch chân, làm chân sưng phù, nặng nề, chuột rút.

Đau và tê chân, nặng hơn nữa là tình trạng giãn lớn các tĩnh mạch ngoại vi và có thể đưa đến tình trạng hình thành các cục máu đông trong lòng tĩnh mạch.

PGS.TS. Nguyễn Hoài Nam

Theo SKDS

Mối liên quan giữa béo phì và ung thư buồng trứng

beo_phi_va_ung_thu_buong_trungVề mặt y học thì việc phụ nữ tránh béo phì có những lợi thế nhất định của nó, bao gồm việc giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường, ung thư vú, ngưng thở khi ngủ và hàng loạt các vấn đề sức khỏe khác. Và bây giờ, có thêm một lý do để duy trì cân nặng ổn định, đó là mối liên kết giữa bệnh béo phì ở phụ nữ mãn kinh và bệnh ung thư buồng trứng. Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu đối với hơn 95.000 phụ nữ ở độ tuổi 50-71, có chỉ số BMI từ 30 trở lên trong thời gian 7 năm. Kết quả cho thấy, những phụ nữ này có khả năng mắc ung thư buồng trứng cao hơn 26% so với những phụ nữ có cân nặng bình thường. Một điều thú vị đó là những phụ nữ đã sử dụng liệu pháp hormon thay thế cho các triệu chứng của mãn kinh có thể không phải đối mặt với nguy cơ tăng lên này.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ Hoàng Dương (Theo Healthnews.com)