Tag Archives: bệnh bạch cầu

15 triệu chứng ung thư nam giới hay bỏ qua

Khi có các triệu chứng này nhất định phải đi khám sớm, không nên để muộn. Nhưng khi nói đến đi khám bệnh, người đàn ông thường lười biếng, nhiều người chỉ chịu đi khi bị thúc giục bởi vợ con hoặc người thân.

Triệu chứng 1: ngực lớn
Đàn ông vẫn có thể bị ung thư vú dù không phổ biến. Bất kỳ khối lớn nào mới có trong khu vực vú của một người đàn ông đều cần được kiểm tra bởi bác sĩ.
Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ xác định một số dấu hiệu đáng lo ngại khác liên quan đến vú mà nam cũng như nữ cần phải lưu ý, bao gồm:
– Da lún xuống hoặc nhăn.
– Núm vú co rút.
– Da bị đỏ hoặc có vảy ở núm vú hoặc da ngực.
– Dịch ra từ núm vú.

15-trieu-chung-ung-thu-nam-gioi-hay-bo-qua

Triệu chứng 2: đau
Khi có tuổi, người ta thường phàn nàn mệt mỏi và đau đớn tăng. Nhưng đau mơ hồ, có thể là một triệu chứng sớm của một số bệnh ung thư. Hầu hết những người than đau không nghĩ là do ung thư.

Theo Hiệp hội Ung thư Mỹ, bất cứ đau dai dẳng nào cũng cần đi khám bệnh để kiểm tra. Các bác sĩ nên hỏi bệnh sử cẩn thận, biết thêm các chi tiết, và sau đó quyết định xem tiếp tục kiểm tra tiếp có cần thiết không. Nếu không phải là ung thư, bạn vẫn sẽ được hưởng lợi từ việc đi khám bệnh. Bởi vì các bác sĩ có thể tìm ra nguyên nhân gây đau và đưa ra điều trị thích hợp cho bạn.

Triệu chứng 3: các thay đổi ở tinh hoàn

Ung thư tinh hoàn thường xảy ra ở nam giới độ tuổi từ 20 – 39. Hiệp hội Ung thư Mỹ khuyến cáo đàn ông nên được kiểm tra tinh hoàn như là một phần của kiểm tra sức khỏe thường quy liên quan đến ung thư. Một số bác sĩ cũng đề nghị nên tự kiểm tra hàng tháng.

Bất kỳ sự thay đổi về kích thước của tinh hoàn, chẳng hạn như sự tăng trưởng hay co rút nên có một mối quan tâm.

Ngoài ra, không nên bỏ qua bất kỳ dấu hiệu sưng nào, hoặc cảm giác nặng nề trong bìu.
Bác sĩ cần kiểm tra tinh hoàn và đánh giá tổng thể sức khỏe của bạn. Nếu nghi ngờ ung thư, xét nghiệm máu có thể được chỉ định. Bạn cũng có thể có một cuộc kiểm tra siêu âm bìu của bạn, và bác sĩ có thể quyết định sinh thiết.

Triệu chứng 4: thay đổi ở các hạch

Nếu bạn nhận thấy một khối u hoặc sưng ở các hạch bạch huyết dưới nách hay ở cổ – hoặc ở bất cứ nơi nào khác – nó có thể là một lý do để quan tâm. BS. Hannah Linden (trường y Đại học tổng hợp Washington) nói: “Nếu bạn có một hạch bạch huyết càng ngày càng lớn hơn, và thời gian này dài hơn một tháng, hãy đi khám bệnh”.

Bác sĩ sẽ kiểm tra cho bạn và xác định bất kỳ vấn đề nào liên quan có thể giải thích sự lớn lên của hạch bạch huyết, chẳng hạn như nhiễm trùng. Nếu không bị nhiễm trùng, bác sĩ thường sẽ sinh thiết.

Triệu chứng 5: sốt

Nếu bạn bị sốt không rõ nguyên nhân, nó có thể do ung thư. Hầu hết các bệnh ung thư sẽ gây sốt tại một số thời điểm. Thường, sốt xảy ra sau khi ung thư đã lan từ vị trí ban đầu của nó và xâm chiếm một phần khác của cơ thể. Theo Hiệp hội Ung thư Mỹ, sốt cũng có thể được gây ra bởi bệnh ung thư máu như u lympho hoặc bệnh bạch cầu.
Tốt nhất là không bỏ qua một cơn sốt không tìm được nguyên nhân.

Triệu chứng 6: sụt cân không cố ý

Giảm cân bất ngờ là một mối lo ngại. Nếu một người đàn ông mất hơn 10% trọng lượng cơ thể của mình trong một khoảng thời gian từ 3 – 6 tháng, nên đi khám bệnh ngay.

Bác sĩ sẽ kiểm tra tổng thể, hỏi bạn những câu hỏi về chế độ ăn uống và tập thể dục của bạn, và hỏi về các triệu chứng khác. Dựa trên thông tin đó, bác sĩ sẽ quyết định những xét nghiệm cần thiết khác.

Triệu chứng 7: đau cồn cào vùng bụng và trầm cảm

Bất kỳ đàn ông (hay đàn bà), bị đau ở bụng và cảm thấy trầm cảm cần phải đi kiểm tra sức khỏe. Các chuyên gia đã tìm thấy mối liên hệ giữa trầm cảm và ung thư tuyến tụy. Các triệu chứng khác của bệnh ung thư tuyến tụy có thể bao gồm vàng da, thay đổi màu phân – thường là màu xám – nước tiểu màu sậm. Cũng có thể xảy ra.ngứa toàn thân

Hãy yêu cầu bác sĩ khám cẩn thận và làm bệnh án cho bạn. Các bác sĩ nên làm các xét nghiệm như siêu âm, CT-Scan hoặc cả hai cũng như các xét nghiệm khác.

Triệu chứng 8: mệt

Mệt mỏi là một triệu chứng mơ hồ khác có thể chỉ ra ung thư ở nam giới. Tuy nhiên, nhiều vấn đề khác cũng có thể gây ra mệt mỏi. Giống như sốt, mệt mỏi có thể bị sau khi ung thư đã phát triển. Tuy nhiên, theo Hiệp hội Ung thư Mỹ, nó cũng có thể xảy ra khi bắt đầu bị các bệnh ung thư như bệnh bạch cầu, ung thư đại tràng, hoặc ung thư dạ dày.

Nếu bạn thường xuyên cảm thấy vô cùng mệt mỏi và bạn không hết mệt với nghỉ ngơi, hãy đi khám bệnh.

Triệu chứng 9: ho dai dẳng

Loại trừ ho do cảm lạnh, cúm, và các bệnh dị ứng, đôi khi do một tác dụng phụ của thuốc, ho kéo dài – được định nghĩa là kéo dài hơn ba hoặc bốn tuần – hoặc có thay đổi về ho thì không nên bỏ qua. Các kiểu ho này phải đi khám bệnh. Chúng có thể là một triệu chứng của bệnh ung thư, hoặc chúng có thể chỉ ra một số vấn đề khác như viêm phế quản mãn tính hoặc trào ngược acid.
Bác sĩ nên làm bệnh án cẩn thận, khám họng của bạn, nghe phổi của bạn, xác định chức năng của chúng với kiểm tra đo phế dung (spirometry), và nếu bạn là người hút thuốc, cần chụp X-quang.

Triệu chứng 10: khó nuốt

Một số đàn ông có thể bị khó nuốt, nhưng sau đó bỏ qua nó. Theo thời gian, họ thay đổi chế độ ăn uống của họ với một chế độ ăn uống nhiều chất lỏng họ bắt đầu uống canh nhiều hơn nhưng nuốt khó, có thể là một dấu hiệu của một bệnh ung thư đường tiêu hóa (GI), chẳng hạn như ung thư thực quản.

Hãy cho bác sĩ biết nếu bạn đang gặp khó khăn khi nuốt. Bác sĩ nên làm bệnh án cẩn thận và có thể cho bạn chụp X-quang có chất cản quang. Bác sĩ cũng có thể gửi cho bạn đến một chuyên gia về nội soi đường tiêu hóa trên để kiểm tra thực quản và đường tiêu hóa trên.

Triệu chứng 11: các thay đổi ở da

Bạn nên cảnh giác không những thay đổi duy nhất ở nốt ruồi – một dấu hiệu nổi tiếng của ung thư da tiềm ẩn – mà còn các thay đổi sắc tố da, bác sĩ Mary Daly cho biết. Bác sĩ Daly là một bác sĩ chuyên khoa ung thư và là trưởng khoa di truyền học lâm sàng tại Trung tâm Ung thư Fox Chase ở Philadelphia.

Bác sĩ Daly cũng nói rằng đột nhiên phát triển chảy máu trên da của bạn hoặc bong da quá nhiều là lý do để đi khám bệnh. Thật khó để nói rằng bao lâu là quá lâu để thực hiện thay đổi ở da, nhưng hầu hết các chuyên gia cho rằng không phải chờ đợi lâu hơn vài tuần.

Để tìm ra nguyên nhân gì gây ra những thay đổi da, bác sĩ sẽ hỏi bệnh sử và thực hiện khám toàn thân cẩn thận. Bác sĩ cũng có thể yêu cầu sinh thiết để loại trừ ung thư.

Triệu chứng 12: chảy máu nơi không nên có

Bất cứ lúc nào bạn thấy có máu đến từ một phần cơ thể mà bạn chưa bao giờ nhìn thấy nó trước, hãy đi gặp bác sĩ. Nếu bạn bắt đầu ho ra máu, khạc nhổ ra máu, có máu trong phân hoặc trong nước tiểu, bạn nên đi khám bệnh. Khi cho rằng máu trong phân chỉ đơn giản là từ bệnh trĩ là một sai lầm vì nó thể là ung thư ruột kết.

Bác sĩ sẽ hỏi bạn những câu hỏi về các triệu chứng của bạn. Bác sĩ cũng có thể yêu cầu xét nghiệm như nội soi. Đây là một kiểm tra đại tràng bằng cách sử dụng một ống dài linh hoạt với một máy ảnh ở đầu ống. Mục đích của nội soi là để xác định bất kỳ dấu hiệu của ung thư hay tiền ung thư hoặc xác định bất kỳ nguyên nhân khác gây chảy máu.

Triệu chứng 13 : thay đổi ở miệng

Nếu bạn hút thuốc hoặc nhai thuốc lá, bạn cần phải đặc biệt cảnh giác với bất kỳ mảng trắng nào bên trong miệng hoặc đốm trắng trên lưỡi của bạn. Những thay đổi này có thể cho thấy bạch sản, một khu vực tiền ung thư có thể xảy ra với các kích thích liên tục. Tình trạng này có thể tiến triển thành ung thư miệng.

Bạn nên báo cáo những thay đổi với bác sĩ hoặc nha sĩ của bạn. Nha sĩ hoặc bác sĩ nên hỏi bệnh sử cẩn thận, kiểm tra các thay đổi, và sau đó quyết định những xét nghiệm có thể là cần thiết khác.

Triệu chứng 14: các vấn đề đường tiểu

Như người đàn ông có tuổi, vấn đề tiết niệu trở nên thường xuyên hơn.
Những vấn đề này bao gồm:
– Đi tiểu thường xuyên hơn, đặc biệt là vào ban đêm.
– Cảm giác mắc tiểu cấp bách.
– Một cảm giác không tiểu hết.
– Không thể để bắt đầu tiểu.
– Nước tiểu rò rỉ khi cười hoặc ho.
– Một sự suy yếu của dòng nước tiểu.
Tuy nhiên, một khi bạn nhận thấy những triệu chứng này, bạn nên tìm kiếm sự chăm sóc y tế.
Bác sĩ sẽ kiểm tra trực tràng kỹ thuật số, để biết tuyến tiền liệt có bị lớn lên không hoặc có các nốt không. Tuyến tiền liệt thường to ra khi người nam có tuổi. Nó thường do một điều kiện không phải ung thư gây ra được gọi là tăng sản tuyến tiền liệt lành tính hoặc BPH (benign prostatic hyperplasia). Khi cần thiết, bác sĩ có thể sẽ làm một số xét nghiệm khác.

Triệu chứng 15: khó tiêu

Nhiều người đàn ông, đặc biệt là khi họ lớn tuổi, họ nghĩ bị “cơn đau tim” khi họ bị khó tiêu. Nhưng khó tiêu dai dẳng có thể là ung thư thực quản, cổ họng, hoặc dạ dày. Khó tiêu dai dẳng hoặc xấu đi phải được báo cáo với bác sĩ của bạn.

Bác sĩ nên hỏi bệnh sử cẩn thận và đặt câu hỏi về các giai đoạn khó tiêu.
Dựa trên lịch sử bệnh và câu trả lời của bạn cho các câu hỏi, các bác sĩ sẽ quyết định những xét nghiệm nào là cần thiết.

Nguyên nhân và chữa trị bệnh bạch cầu ở trẻ

Bệnh bạch cầu ở trẻ là bệnh ung thư của các tế bào bạch cầu trong máu. Khi trẻ mắc bệnh bạch cầu, một số lượng lớn các tế bào bạch cầu bất thường sẽ được sản sinh ở tủy xương tác động xấu đến sức khoẻ trẻ em.

Các tế bào bạch cầu bất thường này bám quanh tủy xương và chảy vào dòng máu nhưng chúng không thể thực hiện chức năng của mình là bảo vệ cơ thể khỏi bệnh tật do chúng đã có khiếm khuyết.

Do là dạng bệnh trong máu nên bệnh bạch cầu là một bệnh ung thư đặc biệt vì không có khái niệm “khối u“ trong đó. Mặc dù tế bào của các loại ung thư có thể lưu hành trong máu nhưng không có nghĩa là những bệnh nhân ung thư này lây sang người khác qua truyền máu.

Bệnh-bạch-cầu

Khi bệnh bạch cầu tiến triển, bệnh sẽ cản trở khả năng sản xuất các dạng khác của tế bào máu của cơ thể, bao gồm các tế bào hồng cầu và các tiểu huyết cầu (chất nhỏ hình đĩa ở trong máu giúp máu đóng cục). Hậu quả là gây ra thiếu máu và các vấn đề xuất huyết, làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh.

Bệnh bạch cầu chiếm khoảng 25% trong tất cả các dạng ung thư ở trẻ và ảnh hưởng đến khoảng 2.200 trẻ Mỹ mỗi năm. Điều may mắn là cơ hội chữa trị căn bệnh này hiện nay khá cao. Khi được điều trị, hầu hết trẻ mắc bệnh đều khỏi mà không bị tái phát.

Các dạng bệnh bạch cầu ở trẻ

Nhìn chung, bệnh bạch cầu được chia thành 2 loại: cấp tính (phát triển nhanh) và mạn tính (phát triển nhanh). Ở trẻ, khoảng 98% trường hợp bệnh bạch cầu là cấp tính.

Bệnh bạch cầu cấp tính ở trẻ được chia thành 2 dạng: bệnh bạch cầu lymphocytic cấp tính (ALL) và bệnh bạch cầu myelogenous cấp tính (AML), tùy thuộc vào các tế bào bạch cầu riêng biệt được gọi là lymphyocytes, có liên quan đến khả năng miễn dịch. Khoảng 60% trẻ mắc bệnh bạch cầu là ALL và khoảng 38% là AML. Bệnh bạch cầu myelogenous mạn tính (CML) cũng có thể xuất hiện ở trẻ, nhưng rất hiếm.

Nguy cơ của bệnh bạch cầu ở trẻ

Dạng bệnh ALL thường xảy ra nhiều nhất ở trẻ trong độ tuổi 2-8 tuổi, với độ tuổi dễ bị tác động nhất là 4 tuổi. Tuy nhiên nó cũng có thể ảnh hưởng đến tất cả các nhóm tuổi.

Trẻ có 20-25% nguy cơ mắc bệnh ALL và AML nếu chúng sinh đôi giống hệt nhau, và được chẩn đoán mắc bệnh trước khi lên 6 tuổi. Ở trẻ sinh đôi nhưng không giống hệt nhau và ở trẻ có anh chị em ruột mắc bệnh bạch cầu, nguy cơ mắc bệnh này cao hơn 2-4 lần so với các trẻ bình thường khác.

Trẻ có các vấn đề di truyền như hội chứng Down, hội chứng Li-Fraumeni, hội chứng Kleinfelter, neurofibromatosis, ataxia telangectasia hay bệnh thiếu máu Fanconi cũng có nguy cơ mắc bệnh bạch cầu cao hơn.

Trẻ đã từng được trị bệnh bằng hóa trị liệu hay xạ trị do mắc các dạng bệnh ung thư khác cũng có nguy cơ mắc bệnh bạch cầu cao hơn, thường trong vòng 8 năm đầu sau khi điều trị.

Các nghiên cứu hiện nay cũng cho thấy nhân tố môi trường cũng có thể khiến trẻ mắc bệnh này.

Để hạn chế nguy cơ trẻ chịu ảnh hưởng của tia phóng xạ trong thời gian thai kỳ, hiện nay các thai phụ thường hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tiến hành các kiểm tra hay điều trị bệnh có liên quan đến phóng xạ, chẳng hạn như chụp X quang.

Việc kiểm tra thường xuyên có thể phát hiện sớm các dấu hiệu của bệnh bạch cầu ở các trường hợp: bố mẹ trẻ có các vấn đề gen di truyền, có tiền sử điều trị ung thư hay sử dụng các loại thuốc đặc biệt dành cho cấy ghép nội tạng.

Các triệu chứng của bệnh bạch cầu

Do các tế bào bạch cầu chống lại bệnh bị khiếm khuyết, trẻ bị bệnh bạch cầu có thể tăng nguy cơ mắc bệnh nhiễm trùng và sốt. Chúng cũng có thể bị thiếu máu dẫn đến xanh xao, mệt mỏi bất thường và thở dốc khi chơi đùa.

Trẻ bị bệnh bạch cầu cũng có thể bị thâm tím và rất dễ bị xuất huyết, thường xuyên bị chảy máu mũi, xuất huyết khác thường trong thời gian dài sau khi bị thương dù rất nhỏ.

Các triệu chứng khác của bệnh bạch cầu có thể gồm:

Đau nhức xương hay khớp, đôi khi khiến trẻ đi khập khiễng.
Sưng bướu bạch huyết ở cổ, háng hay các nơi khác.
Cảm thấy mệt mỏi bất thường.
Kén ăn

Khoảng 12% trẻ mắc bệnh AML và 6% trẻ mắc bệnh ALL lây lan bệnh bạch cầu đến não và gây nhức đầu, tai biến ngập máu, các vấn đề về thăng bằng và thị giác bất thường. Nếu ALL lây đến các bướu bạch huyết ở ngực, nó có thể bao quanh khí quản và các mạch máu quan trọng dẫn tới các vấn đề hô hấp và ảnh hưởng đến sự lưu thông máu đi và đến tim.

Do đó, khi phát hiện trẻ có các triệu chứng bất thường trên, bố mẹ nên nhanh chóng đưa con đến bác sĩ để được kiểm tra bệnh và sớm có liệu pháp điều trị thích hợp.

(Theo ykhoa.net)

Ung thư có thể do thuốc và nội tiết

Người ta thấy các kiểu hóa trị ung thư khác nhau rõ ràng đã làm tăng nguy cơ bệnh bạch cầu ở những bệnh nhân còn sống hơn một năm sau khi được chẩn đoán.

Các thuốc chống ung thư quan trọng khác như adriamycin và cisplatin cũng có tính sinh ung thư ở động vật thực nghiệm, nhưng cho đến nay vẫn không thấy có tính sinh ung thư ở người. Mặc dù nguy cơ bệnh bạch cầu tăng cao sau khi điều trị một số ung thư chọn lọc nhưng người ta vẫn so sánh điều này với thuận lợi điều trị hóa chất các bệnh như bệnh bạch cầu limphô ở trẻ em, bệnh hodgkin và ung thư tinh hoàn loại tế bào mầm.

thuoc-va-noi-tiet-to-co-the-gay-ung-thu

Tuy nhiên, quan trọng là sự quan tâm nguy cơ mắc bệnh ác tính thứ hai khi đánh giá trong một thời gian dài các phác đồ hóa trị ung thư và tìm kiếm các cách điều trị xen kẽ làm giảm mối nguy cơ này.

Vấn đề áp dụng đặc biệt cho các bệnh như là hodgkin vì loại bệnh này có tiên lượng rất tốt với cách điều trị hiện nay.

Các ung thư phụ khác được báo cáo ở bệnh nhân sống sót lâu dài sau hóa trị ung thư như limphô không hodgkin sau bệnh hodgkin, ung thư phổi và bàng quang sau điều trị bằng cyclophosphamid bệnh limphô không hodgkin.

Các loại thuốc khác gây ung thư ở bệnh nhân được điều trị là các hỗn hợp giảm đau chứa phenacetin, chúng làm tăng nguy cơ ung thư thận và ung thư biểu mô đường niệu khác; thuốc ức chế miễn dịch azaathioprien gây các u da, limphô không hodgkin và các bệnh ác tính hiếm gặp khác; và sự phối hợp 8 – methoxypsoralen và tia cực tím loại A có thể gây ung thư da sau khi dùng để điều trị các rối loạn ở da như bệnh vẩy nến.

Sự ức chế miễn dịch sau khi cấy ghép cơ quan cũng làm bệnh nhân có nguy cơ cao mắc bệnh ung thư. Tuy nhiên, vai trò sinh ung của các thuốc dùng để làm ức chế miễn dịch vẫn còn được bàn cãi.

Một số loại nội tiết tố được dùng trong các lĩnh vực thực hành y khoa khác nhau, thực tế một số nhóm nội tiết tố làm tăng nguy cơ ung thư sau khi dùng chúng. Người ta xác định rằng, thuốc diethylstillbestrol (DES) đã từng được dùng rộng rãi vào đầu thai kỳ để giảm cơn buồn nôn và ngừa dọa sẩy thai thì có thể gây ung thư âm đạo ở các con gái của bệnh nhân được điều trị và làm tăng nguy cơ bị ung thư tinh hoàn cho các con trai của họ.

Điều trị thay thế estrogen người ta dùng để giảm các triệu chứng mãn kinh, để giảm nguy cơ bệnh tim do mạch vành bằng cách làm tăng lipoprotein cholesterol tỷ trọng cao và để bảo tồn nồng độ muối khoáng trong xương ngừa chứng loãng xương và gãy xương. Liệu pháp này làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung. Việc sử dụng thuốc ngừa thai uống có gây ung thư vú hay không vẫn còn đang bàn cãi, mặc dù có vẻ nguy cơ ung thư vú tăng cao ở các phụ nữ trẻ và phụ nữ sớm sử dụng thuốc ngừa thai đường uống loại phối hợp trong đời sống sinh dục của họ.

Dự án Phòng chống ung thư Quốc gia – Bệnh viện K TW

Theo SKDS