Tag Archives: Bài thuốc

Cây thuốc dân gian chữa tiêu hóa kém

Cỏ gấu là một loại cỏ sống lâu nǎm; lá nhỏ hẹ, ở giữa lưng có gân nổi lên, cứng và bóng, phần dưới lá ôm lấy thân cây; thân rễ phát triển thành củ; tuỳ theo đất rắn hay xốp củ phát triển to hay nhỏ. ở vùng bờ biển củ to, dài, chất lượng dược liệu tốt hơn, thường gọi là hải hương phụ (hương phụ vùng biển). Vào tháng 6, trên ngọn cây có 3 đến 8 cụm hoa hình tán màu xám nâu; nhụy có đầu núm chia thành 2 nhánh như lông tơ; quả 3 cạnh màu xám. Củ gấu có thể thu hoạch quanh nǎm. Thông thường, người ta đào củ về rửa sạch đất cát, phơi khô, đốt cho cháy hết lông, cất nơi khô ráo đề dùng dần làm thuốc.

Cây cỏ cú

Cây cỏ cú

Theo Đông y, rễ chùm (củ) của cỏ cú để điều chế vị thuốc được gọi là hương phụ có vị cay, hơi đắng, hơi ngọt; tính bình có công dụng chữa kinh nguyệt không đều, thấy kinh đau bụng, viêm tử cung mạn tính, đau dạ dày, ăn uống kém tiêu…

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6 – 12g. Dạng thuốc sắc, bột, viên, cao hay rượu thuốc. Dùng riêng hay phối hợp trong các phương thuốc phụ khoa, đau dạ dày.

Cách bào chế: Củ cỏ cú loại bỏ lông và tạp chất; rửa sạch để ráo sao đó nghiền vụn hoặc thái lát mỏng và đổ thêm giấm vào khuấy đều, ủ một đêm, đợi cho hút hết giấm, cho vào chảo sao lửa nhẹ đến màu hơi vàng, lấy ra, phơi khô. Cứ 10 kg Hương phụ dùng 2 lít giấm.

Một số bài thuốc có hương phụ
Chữa kinh nguyệt không đều: Hương phụ 3g, ích mẫu 3g, ngải cứu 3g, bạch đồng nữ 3g, sắc với nước; chia 3 lần uống trong ngày.

Muốn cho kinh nguyệt đều, uống đón kinh 10 ngày trước ngày dự đoán có kinh hoặc gần kỳ kinh hay đau bụng hoặc hương phụ chế tán bột ngày uống 10g với nước nóng hoặc nước ngải cứu. Dùng liên tục trong một tháng hoặc có thể lâu hơn.

Chữa đau bụng, đầy bụng, rối loạn tiêu hóa: Hương phụ 40g, riềng khô 80g (riềng chọn củ nhỏ màu vàng nhạt). Hai thứ tán nhỏ cất vào lọ kín, mỗi lần uống 6 – 8g (trẻ em mỗi lần uống 2 – 4g) với nước chè nóng. Uống 3 – 5 ngày.

Chữa tiêu hóa kém: Hương phụ (sao) 12g, vỏ quýt (sao) 12g, vỏ vối (sao) 12g, vỏ rụt (sao) 16g, chỉ xác 12g. Sắc nước uống 5 ngày.

Chữa cảm cúm, gai rét, nhức đầu, đau mình: Hương phụ 12g, tía tô 10g, vỏ quýt 10g, cam thảo 4g, hành 3 cây, gừng tươi 3 lát, sắc uống (đơn thuốc của Tuệ Tĩnh).
Chú ý: Người âm hư huyết nhiệt không nên dùng.

Nguồn sức khỏe đời sống

Món ăn – bài thuốc từ lươn

Lươn được gọi là “con sâm dưới nước” do tác dụng bổ dưỡng của nó. Lươn vàng còn gọi là thiên ngư, trương ngư – một trong “bốn món tươi ngon dưới sông” (tứ đại hà tiên) cũng là thuốc bổ quý. Trong lươn có nhiều protid, lipid, glucid; các vitamin B, E, A, D và các nguyên tố vi lượng như Fe, P, Ca; ngòai ra  còn có nhiều arginin tạo tinh trùng, lecithin tốt  não

Theo Đông y, lươn vàng tính ôn, vị ngọt, có công hiệu bổ ngũ tạng, bổ trung, ích khí, dưỡng huyết, ôn dương, bồi bổ can, thận, làm mạnh gân cốt, khử phong thấp, thông kim mạch. Thích hợp với các chứng thiếu máu lao lực, ho hen, phong thấp đau nhức, gân cốt rã rời, thận hư đau lưng, liệt thần kinh mặt , tiểu đường, kiết lỵ. Sau đây là một số món ăn bài thuốc từ lươn:

mon-an-bai-thuoc-tu-luon-1

Chữa mất ngủ, kém ngủ:

Nấu lươn với ngó sen lượng đủ dùng. Ăn vào buổi chiều hàng ngày. Còn có tác dụng cân bằng kiềm toan nội môi phòng chữa bách bệnh.

Chữa trĩ, sa tử cung thể khí hư: 1 con lươn vàng to, bỏ ruột, nấu với nước cùng 10g đẳng sâm cho nhừ để uống nước là chính. Nêm gia vị. Có thể thêm gừng.

Chữa tiểu ra máu: 250g lươn vàng bỏ ruột thái mỏng. Mướp đắng 250g. Nấu với nước vừa dùng. Ngày chia ăn 2 lần.

Chữa bệnh tăng đường huyết, trí nhớ giảm sút:Nấu lươn sốt cà chua ăn hàng ngày. Hoặc thịt lươn nấu với đậu phụ thành canh để ăn.

Chữa ho, ho lao do âm hư: Lươn 250g với đông trùng hạ thảo 3g nấu canh ăn.

Chữa sốt rét, thiếu máu: Lươn xào với rau sam. Phụ nữ, người già thiếu máu ăn lươn rất có ích.

Bệnh ngoài da ghẻ lở, hắc lào, sẩn ngứa: Da lươn đốt tồn tính hoà rượu để bôi.

Ngoài ra lươn còn được phối hợp với một số dược liệu để chữa nhiều bệnh như thấp khớp mạn tính, trúng phong bại liệt…

Lưu ý: Dùng lươn phải tươi  và không ăn lươn màu xanh.

BS. Phó Thuần Hương

Theo SKDS

Bài thuốc ôn phế, giải đờm

Ôn phế, giải đờm là một trong số nhiều phép trị chứng bệnh ở đường hô hấp như ho, hen, ngạt mũi, viêm họng… Ho bao giờ cũng thể hiện ra bằng các tiếng “ho” kèm theo là đờm dãi được long ra. Còn hen lại biểu hiện bằng các tiếng rít “cò cử” kèm theo là khó thở, tức ngực…

bai-thuoc-chua-on-phe-giai-dom-1

Bài 2: Thang bán hạ bạch truật thiên ma: thiên ma 12g, bán hạ 12g, bạch truật 12g, phục linh 12g, quất hồng 8g, cam thảo 4g. Sắc uống. Trị nhức đầu, hoa mắt do phong đàm.

Trị trúng phong, động kinh, sài uốn ván, chân tay tê bại hoặc co quắp:

Bài bột ngọc trân gồm: thiên ma, phòng phong, khương hoạt, bạch phụ chế, nam tinh chế, liều lượng như nhau. Tất cả nghiền chung thành bột mịn. Mỗi lần uống 4 – 8g, ngày 2 – 3 lần, uống với nước đun sôi hoặc rượu trắng.

Món ăn – bài thuốc có thiên ma:

Bài 1: Canh não lợn, thiên ma: não lợn 1 cái, thiên ma 10g. Cho vào nồi nhỏ, thêm chút nước, đun nhỏ lửa trong khoảng 1 giờ, vớt bỏ bã thiên ma, thêm gia vị, ăn hàng ngày. Dùng cho bệnh nhân đau nửa đầu, suy nhược thần kinh.

Bài 2: Thịt gà, thiên ma xào om: thịt gà 60 – 100g, thiên ma 10g, nấm hương 12 – 15g. Thịt gà chặt miếng, thiên ma thái lát, nấm hương ngâm mềm thái lát, thêm gừng, hành, gia vị, nước dùng. Xào nhỏ lửa trong 30 phút. Dùng cho các trường hợp đau nửa đầu, tê bại tay chân, mất ngủ, suy nhược thần kinh, tăng huyết áp gây đau đầu chóng mặt…

Bài 3: Canh cá chép, thiên ma: cá chép 1 con, thiên ma 10g, xuyên khung 10g, phục linh 10g. Cá chép làm sạch bỏ ruột, cho ba vị thuốc đã thái lát vào bụng cá; thêm gừng, hành tươi gia vị, nước, hầm trong 30 – 45 phút. Sau đó, dùng nước nấu đậu phụ, nước xương bò hoặc xương lợn, đổ vào nồi hầm cá cho ngập nửa thân cá, thêm muối, gia vị, bột tiêu dầu thơm; đun sôi là được. Dùng cho bệnh nhân tăng huyết áp, suy nhược thần kinh gây đau đầu chóng mặt.

Bài 4: Thiên ma, trần bì ẩm: thiên ma 10g, trần bì 6g, phục linh 15g. Sắc lấy nước, thêm đường trắng vừa đủ, chia 2 lần uống trong ngày. Dùng cho các trường hợp đau đầu choáng váng, ù tai hoa mắt chóng mặt, bồn chồn, mất ngủ.

TS. Nguyễn Đức Quang

Theo SKDS

Giữa ho và hen có quan hệ mật thiết đến đờm. Đờm là chất dịch nhớt, hơi dính, là chất được tiết ra do khí quản. Đờm sẽ là nguyên nhân trực tiếp kích thích khí quản gây ho và đờm sẽ bít tắc khí quản, phế quản… Đờm còn là nguyên nhân tạo môi trường thích hợp cho các vi khuẩn phát triển và trở thành nguyên nhân trực tiếp làm cho quá trình viêm nhiễm gia tăng. bai-thuoc-chua-on-phe-giai-dom-2

Tùy theo mỗi thể bệnh cụ thể mà y học cổ truyền có phép trị phù hợp, xin giới thiệu một số bài thuốc đơn giản để bạn đọc tham khảo và áp dụng:

Thể phong hàn:

Triệu chứng: ngạt mũi tiếng nặng, ngứa mũi hắt hơi, chảy nước mũi, ngứa họng gây ho, họng nhiều đờm loãng, đau đầu, đau người, phát sốt, phát rét, mạch phù. bai-thuoc-chua-on-phe-giai-dom-3Bài thuốc: hành trắng 9g, tía tô 6g, hạnh nhân 9g, kinh giới (cho sau) 6g, phòng phong 9g. Sắc uống ngày 1 thang.

Thể phong nhiệt:

Triệu chứng: người bệnh có cảm giác phát sốt, ớn lạnh hoặc ra mồ hôi, đau đầu, ngạt mũi hoặc có ít mũi sệt, hầu họng sưng đỏ đau, đờm đặc vàng, mạch phù sác.

bai-thuoc-chua-on-phe-giai-dom-4

Bài thuốc: thạch cao (sắc trước) 30g, khổ sâm 30g, la bạc tử (củ cải trắng) 30g. Sắc uống ngày 1 thang.

Thể âm khí hư kiêm nhiệt đàm:

Triệu chứng: ho, hơi sốt, ra mồ hôi trộm, trí bất an, tâm lực mệt mỏi, lưỡi đỏ, mạch hoạt sác.

Bài thuốc: lá tre 8g, thạch cao 20g, mạch đông 12g, nhân sâm 6g, bán hạ 9g, ngạnh mễ 30g, cam thảo 5g. Sắc uống ngày 1 thang.

Hen phế quản do nhiễm lạnh:

Triệu chứng: thở khò khè, đờm trắng mà quánh hoặc loãng có nhiều bọt, buồn căng ở ngăn trung thất, sắc mặt xanh xám, miệng không khát hoặc thích uống nước nóng, môi bạch trơn, mạch phù khẩn hoặc có đau đầu, phát sốt rét, không ra mồ hôi, hắt hơi…

Bài thuốc: ma hoàng 6g, bắc hạnh nhân 10g, bạc hà 6g, nhục quế 6g, tử tô 6g, trần bì 3g, đại phúc bì 9g, hành trắng 6g, gừng tươi 3 lát. Sắc uống ngày 1 thang. 

Hen phế quản mạn tính:

Triệu chứng: hen suyễn, ngực nhô cao khi thở, đờm quánh vàng, bồi hồi không yên, ra mồ hôi, miệng khát, thích uống, lưỡi ám đỏ, môi vàng, mạch nhanh hoặc có biểu hiện sốt rét…

Bài thuốc: bạch quả 10g, ma hoàng 6g, khoản đông hoa 9g, bán hạ 6g, tang bạch bì 10g, tô tử 9g, bắc hạnh nhân 9g, hoàng linh 9g, cam thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

 

Theo SKDS

 

Bài thuốc hữu hiệu chữa đau gót chân

Đau gót chân là trạng thái bệnh lý thường gặp, nhất là ở những người có tuổi và cao tuổi. Bệnh phát sinh chủ yếu do xương gót bị thoái hóa mọc gai xương, viêm bao hoạt dịch phần gót, viêm lớp đệm xương gót, viêm xung quanh gân cơ gót, viêm màng gân cơ bàn chân…, được biểu hiện bằng triệu chứng đau nhức ở gót chân với các mức độ khác nhau, đặc biệt là khi đột ngột đứng dậy, khi đi lại nhiều, ngồi nghỉ thì đỡ đau. Bệnh không nguy hiểm đến tính mạng nhưng nhiều khi ảnh hưởng lớn đến việc đi lại, gây cảm giác khó chịu và rất dễ tái phát nếu điều trị không triệt để. Khi không may lâm vào tình trạng này, ngoài việc tự xoa bóp bấm huyệt, bạn có thể áp dụng một trong những bài thuốc đơn giản sau đây:

Bài 1: Rễ cây cà (cà pháo, cà tím, cà bát… đều được) lượng vừa đủ, sắc lấy nước đặc ngâm chân hàng ngày trong 40 đến 60 phút, mỗi ngày có thể ngâm một đến hai lần.

bai-thuoc-dong-y-chua-tri-dau-got-chan-1

Bài 2: Đậu phụ lượng vừa đủ. Cho đậu phụ vào nồi hấp cách thủy thật nóng rồi đổ ra chậu, lúc đầu đặt hờ bàn chân ở phía trên để xông hơi, chờ đậu phụ nguội bớt thì hạ chân xuống đặt lên trên đậu phụ để chườm. Khi đậu phụ nguội thì lại lấy ra hấp nóng và chườm tiếp, cứ như vậy lặp đi lặp lại từ 3 – 5 lần.

Bài 3: Xương rồng gai một đoạn, loại bỏ hết gai, dùng dao tách làm hai mảnh. Buổi tối, trước khi đi ngủ, rửa sạch chân, lau khô rồi lấy miếng xương rồng đắp trùm lên chỗ đau ở gót chân, dùng vải băng buộc chặt, cố định trong 12 giờ trở lên, ngày hôm sau thay miếng xương rồng khác, làm liên tục như vậy trong 7 ngày.

Bài 4: Rễ cây đỗ tương (phần dưới mặt đất) 500g sắc kỹ rồi ngâm chân hàng ngày vào buổi tối trước khi đi ngủ trong 40 đến 60 phút.

Bài 5: Dấm ăn 2 lít đun nóng tới độ có thể cho chân vào ngâm được, đổ ra chậu rồi ngâm chân từ 30 đến 60 phút (trong quá trình ngâm, khi dấm nguội thì đun lại). Thông thường ngâm chân 10 đến 15 ngày thì bắt đầu đỡ đau, ngâm liên tục trong 1 tháng sẽ hết đau. Chú ý, dấm đã ngâm có thể dùng đi dùng lại nhiều lần để tiết kiệm. bai-thuoc-dong-y-chua-tri-dau-got-chan-2

Bài 6: Băng phiến 1g, tế tân 6g, thấu cốt thảo 12g. Ba thứ sấy khô, tán vụn rồi làm thành tấm lót trong đế giày dép đi hàng ngày. Nếu không có thấu cốt thảo có thể thay bằng cây phượng tiên hoa (hoa bóng nước).

Bài 7: Đương quy 20g, xuyên khung 15g, nhũ hương 15g, một dược 15g, chi tử 15g. Tất cả sấy khô tán thành bột rồi tùy theo lòng bàn chân to hay nhỏ mà làm dùng vải làm thành tấm lót ở đế giày dép đi hằng ngày dày chừng 0,5cm.

Bài 8: Thảo ô, tế tân và phòng phong lượng vừa đủ, sấy khô tán bột, trước khi đi lấy một chút bột thuốc rắc vào đế giầy dép. Chú ý thảo ô có độc nên không được uống.

ThS. Hoàng Khánh Toàn

 

Bài thuốc chữa đau bụng sau sinh

Nếu nguyên nhân do khí huyết hư, dùng bài thuốc:

Gừng, đương quy, mỗi vị 15g, thịt dê 250g. Thịt dê rửa sạch, chặt miếng, đương quy, gừng, dùng vải thưa túm lại để chung với thịt dê, thêm 500ml nước, nấu cho đến khi thịt mềm, vớt bỏ thuốc, nêm gia vị vừa ăn. Mỗi ngày ăn 1 lần, ăn liền 4 – 5 ngày.

Hoặc đường đỏ nấu với 1 – 2 quả trứng gà để ăn, mỗi ngày ăn một lần, ăn liền 4 – 5 ngày

Công hiệu: Bổ huyết, hoạt huyết. Chủ trị chứng đau bụng sau khi sinh do khí huyết hư.

Nếu nguyên nhân do huyết ứ, dùng bài:

Đương quy 9g, xuyên khung 9g, đào nhân 9g, gừng rang 6g, cam thảo nướng 5g, ích mẫu thảo 9g, ngũ linh chi 9g, bồ hoàng 9g, sắc lấy nước uống. Dùng liên tục 3 ngày.

Hoặc cây gai 120g, thái nhỏ, dùng rượu sao nóng, lấy cho vào túi vải chườm lên bụng, ngày làm 2 lần.

bai-thuoc-chua-dau-bung-sau-sinh-1

Công hiệu: Hoạt huyết trừ ứ, thông lạc chỉ thống. Chủ trị đau bụng sau sinh do huyết ứ.

Nếu nguyên nhân do hàn (lạnh), dùng bài:

Gừng 3g, tiêu sơn tra, đường đỏ, mỗi thứ 30g. Ba vị thuốc trên cho vào ấm, chế nước sôi vào, đậy nắp ngâm khoảng 15 phút là uống được, dùng thay trà trong ngày.

Hoặc gừng sấy, xuyên khung, mỗi thứ 3g; đương quy, đào nhân, mỗi thứ 9g. Tất cả sắc lấy nước uống, mỗi ngày 1 thang, chia làm 2 lần. Uống 3 ngày.

Hoặc: Muối ăn một muôi rang nóng, cho vào túi vải chườm vùng bụng dưới. Hoặc rang khô lá ngải cứu, đắp vào rốn lúc đang còn nóng.

Công hiệu: Tán hàn, làm ấm bên trong, giúp giảm đau nhanh. Chủ trị chứng đau bụng sau khi sinh do lạnh.

Sản phụ cần lưu ý phải vệ sinh vùng kín sạch sẽ và giữ ấm cơ thể theo hướng dẫn của cán bộ y tế. Khi dùng các bài thuốc trên cần tham khảo ý kiến của bác sĩ Đông y hoặc lương y có uy tín. Nếu không đỡ hoặc đau bụng kèm theo sốt cần đến ngay cơ sở y tế khám để và có chỉ định điều trị phù hợp.

Theo BS Thúy An (Sức khỏe & Đời sống)

Bài thuốc đông y chữa trị chàm ở vùng kín

Chàm “nơi của quý” là dạng chàm phát ra ở âm nang (bộ hạ), với những biểu hiện trên da có những mụn rất nhỏ, ngứa nhiều, làm da vùng kín dày lên, thô cứng và đau rát. Theo Đông y, nguyên nhân chủ yếu là do tà độc thấp nhiệt. Sau đây xin giới thiệu một số bài thuốc chữa trị bệnh này để bạn đọc tham khảo và áp dụng khi cần.

Thuốc uống trong: Nếu toàn trạng khỏe, ăn ngủ bình thường, chỉ bị mọc mụn và ngứa gãi nhiều, chảy nước chọn một trong các bài thuốc.

bai-thuoc-dong-y-tri-cham-o-vung-kin-1

Bài 1:

kim ngân hoa (nếu không có hoa, có thể dùng dây kim ngân 30g thay thế), thổ phục linh 30g, vỏ cây núc nác 16g, cỏ thanh ngâm 20g. Tất cả các vị thuốc cho vào nồi, đổ 1.000ml nước, đun sôi, giữ nhỏ lửa 30 phút, chia thành 3 lần uống trong ngày vào lúc đói.

Bài 2: thổ phục linh 16g, khổ sâm lá 12g, vỏ núc nác 12g, hạ khô thảo 12g, nhân trần 20g, kim ngân hoa 16g, ké đầu ngựa (sao vàng) 12g, cam thảo 6g. Nước 1.000ml. Sắc uống như bài trên.

Nếu kèm theo bệnh lý toàn thân như: người mệt mỏi, da nhợt nhạt, tiêu hóa kém, bụng và sườn đầy trướng, chán ăn, đại tiện lỏng, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng nhớt, mạch huyền tế. Dùng bài: đẳng sâm 12g, bạch truật (sao) 10g, sinh địa 12g, ý dĩ nhân 10g, thổ phục linh 10g, trần bì 6g, kinh giới 10g, cúc hoa 10g, cam thảo 6g, nước 1.000ml sắc còn 500ml chia uống vào buổi sáng, trưa, tối, lúc đói bụng.

Thuốc rửa

Bài 1: xuyên tiêu 30g, hoa cây chổi xể 20g, hành sống (dùng toàn cây cả rễ, củ và lá) 10 củ, cho vào nồi đất, đổ 1.000ml nước, đun giữ sôi khoảng 5-10 phút, đem ra xông âm nang, lúc nước thuốc nguội thì dùng để rửa chỗ chàm.

Bài 2: vỏ cây hòe 50g, vỏ cây núc nác 50g, hương nhu 30g, khổ sâm lá 30g. Đun sôi kỹ, dùng để rửa chỗ da bị chàm. bai-thuoc-dong-y-tri-cham-o-vung-kin-2

Thuốc bôi
Bài 1: quả phi lao khô 300g, tóc rối 20g, ôxít kẽm 10g, dầu lạc hay dầu dừa 50ml. Quả phi lao và tóc rối đốt tồn tính, nghiền thành bột mịn, trộn đều với ôxít kẽm, sau đó cho dầu lạc hoặc dầu dừa vào, đánh đều thành thuốc mỡ dùng để bôi hàng ngày chỗ da bị bệnh, ngày bôi 2 – 3 lần.
Bài 2: hạt máu chó rang giòn, tán thành bột mịn, hòa với dầu vừng để bôi vào chỗ da bị chàm.
Lưu ý: Trước khi bôi thuốc, cần rửa kỹ vết chàm và thấm khô rồi mới bôi.

BS. Đỗ Minh Hiền

Theo SKDS

Bài thuốc giúp chàng sung mãn trong chuyện phòng the

Trong chuyện phòng the, sự “sung” thường ám chỉ nam giới. Vậy mà nhiều đấng mày râu sợ “yêu” chỉ vì quá yếu trong chuyện ấy. Mà nguyên nhân gây yếu có rất nhiều: rượu bia, làm chuyện ấy vô độ, chưa biết cách…và chủ yếu là do sức khỏe không cho phép. Vậy thì các chị em, hãy xắn tay áo đi chợ và vào bếp chuẩn bị cho chồng những món ăn ngon, bổ dưỡng sức khỏe và tẩm bổ để chàng thêm khỏe.

Cháo bong bóng cá nấu với câu kỷ tử: Gạo tẻ 50g, câu kỷ tử 30g, bong bóng cá 50g. Cả ba thứ trên rửa sạch đổ 2 lít nước đun nhỏ lửa, nấu nhừ, ăn liền trong vòng 1 tháng. Món cháo này giúp bổ thận tinh, tăng tinh dịch. Khi ăn cháo nên ăn kết hợp với nhiều hoa quả và ăn các loại thịt màu đỏ như thịt bò, bê, tránh ăn cay, lạnh.

Lẩu ngẩu pín: Ngẩu pín chó, dê, bò ngâm nước nóng, bỏ vỏ bọc, rửa sạch. Hạt sen, củ sen, củ súng 500g; nhục thung dung, kỷ tử mỗi thứ 10g; gia vị, hành mỡ, rượu vang vừa đủ. Cho các vị trên vào hầm cùng với xương dê, bò. Khi nước lẩu sôi mới nhúng ngẩu pín đã thái nhỏ vào, nên ăn tái. Lẩu ngẩu pín có công dụng trị liệt dương.

bi-quyet-de-chang-them-sung-man-chuyen-phong-the

Chim bồ câu tần:

Bồ câu trống trắng, vặt lông, bỏ nội tạng, cho 50g câu kỷ tử, 50g nhục thung dung vào trong ruột chim khâu lại đem hấp chín. Trong thịt chim bồ câu trống người ta thấy có chứa nhiều protein, chất béo, calcium, magne, hormon sinh dục nên là thức ăn cường thận làm tăng cường chức năng sinh dục. Ăn nhiều lần mới có kết quả như ý.

Cháo, súp lươn: Lươn tươi (chọn được lươn vàng là tốt nhất) 500g, gạo tẻ ngon 100g, đẳng sâm, đương quy 20g, rượu, hành, gừng, gia vị, nước đủ dùng. Lươn làm sạch nhớt bằng cách bóp muối rồi bỏ ruột, xương, thái thành khúc; đẳng sâm, đương quy bọc trong túi vải, buộc chặt. Cho các thứ trên vào nồi hầm cùng với gạo đến khi nhừ thì nêm hành, gia vị, gừng, nên ăn nóng. Món ăn này có tác dụng bổ khí huyết, tăng cường sinh lực, giảm mệt mỏi, chống thiếu máu.

BS. Đào Sơn

Theo SKDS

Bài thuốc giúp nàng thêm phần cảm hứng

Trong chuyện chăn gối, đối với phụ nữ, nhất là phụ nữ đã sinh con thường than phiền là ngại hoặc có thì chỉ là theo cảm hứng, chỉ là “cho xong chuyện”. Ngoài những nguyên nhân mà chị em trình bày thì một trong những trở ngại lớn là sức khỏe không còn được như thời thanh nữ. Những món ăn, bài thuốc dưới đây sẽ giúp chị em tìm lại chính mình và sức khỏe tình dục cũng phần nào được cải thiện.

bai-thuoc-giup-tang-them-cam-hung-cho-nang-1

Rượu nhung hươu, nhân sâm:

Nhân sâm 30g, nhung hươu 10g, rượu trắng loại ngon 1,5 lít, đường phèn 500g. Cho các loại thuốc trên vào bình thủy tinh, đổ rượu trắng vào đậy nắp kín. Sau 2 tháng đem ra là dùng được. Mỗi tối uống khoảng 20 – 50ml trước khi đi ngủ. Rượu này có tác dụng lưu thông khi huyết, ích huyết, phụ nữ lạnh âm do thận dương hư suy dùng là thích hợp.

Ích mẫu, đậu đen: Đậu đen 60g, ích mẫu 30g, đường đỏ, nước đủ dùng. Ích mẫu, đậu đen rửa sạch ngâm trong nước. Cho một lượng nước vừa đủ vào nồi rồi đổ đậu đen và ích mẫu vào đun, đến khi đậu đen chín nhừ thì cho đường đỏ vào đun sôi là được, ăn cả nước lẫn cái, ăn liên tục trong 5 ngày, mỗi ngày 1 thang.

Cháo gạo nếp, hạt sen, hạt súng:

Gạo nếp 100g, hạt sen, hạt súng 50g, lá sen tươi 50g, đường trắng, nước đủ dùng. Hạt sen bỏ màng và tâm, hạt súng, lá sen rửa sạch, gạo vo sạch. Lấy lá sen, gói hạt súng vào buộc chặt, đun với nước trong vòng 30 phút, bỏ bã lấy nước. Cho hạt sen và gạo nếp vào nước thuốc đó đun nhừ thành cháo, nêm đường vào là được. Mỗi ngày ăn 1 lần vào buổi sáng sớm, ăn liên tục trong 4 ngày. Món cháo có tác dụng ngăn ra khí hư, chữa rong huyết.

Cá trê nấu đậu đen, hoàng tinh: Cá trê 1 con, đậu đen 150g, hoàng tinh 100g, Đậu đen rửa sạch, rang chín. Cá trê làm sạch, bỏ ruột và mang. Đun sôi nước rồi thả tất cả các thứ trên vào, vặn nhỏ lửa tới khi đậu và cá chín nhừ, nêm gia vị vào là dùng được. Món ăn có tác dụng bổ hư, kiện tì. Ích khí dưỡng huyết. Phù hợp với những người hay bị hoa mắt chóng mặt, kinh nguyệt ra nhiều, đi tiểu đêm nhiều lần.

BS. Đào Sơn

Bài thuốc chữa đau mắt đỏ hữu hiệu

Theo y học hiện đại, bệnh đau mắt đỏ là bệnh viêm kết mạc cấp (chủ yếu do virut), có thể xảy ra ở nhiều lứa tuổi, thường hay gặp ở mùa hè và mùa thu. Bệnh lây lan trong cộng đồng, tạo nên dịch viêm kết mạc cấp. Theo y học cổ truyền, nguyên nhân chủ yếu do cảm nhiễm độc khí lưu hành trên diện rộng, hiệp với thấp nhiệt gây bệnh. Sau đây là một số bài thuốc trị theo từng thể.

Thể nhẹ: Bệnh nhân tự nhiên thấy ngứa cộm, nước mắt chảy ra nhiều, phần lòng trắng chuyển sang màu hung sau đỏ. Phép trị là khu phong chỉ thống thanh nhiệt. Dùng một trong các bài:

Bài 1: đương quy 16g, cam thảo chích 6g, đại hoàng 10g, khương hoạt 12g, phòng phong 12g, xuyên khung 12g, chi tử 12g. Sao giòn, tán bột. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 12g, uống với nước hãm bạc hà.

dau-mat-do

Bài 2: kim ngân hoa 16g, chi tử 12g, hoàng đằng 8g, chút chít 12g, kinh giới 12g, bạc hà (cho sau) 6g, lá dâu 16g, cúc hoa 12g. Sắc uống.

Bài 3: kim ngân 16g, liên kiều 12g, chi tử 8g, hoàng cầm 12g, bạc hà (cho sau) 6g, ngưu bàng tử 12g, cát cánh 6g. Sắc uống.

Thể nặng: Ngoài những chứng trạng như trên, bệnh phát nhanh, hai mắt sưng to, đau nhức, chảy nước mắt, sợ lạnh, phát nóng, nằm ngồi không yên, nặng hơn thì người bệnh không ngủ được, không muốn ăn uống. Phép trị là thanh nhiệt tả hỏa.

Bài thuốc: đại hoàng 10g, mộc thông 12g, xa tiền tử 12g, cù mạch 12g, biển súc 12g, hoạt thạch 12g, chi tử 12g, cam thảo chích 8g. Sấy khô tán bột mịn. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 20g, uống với nước sắc đăng tâm thảo.

Phòng bệnh vẫn là cách hữu hiệu

Khi chưa mắc bệnh: Do bệnh lây lan theo đường hô hấp, tay – mắt; vì vậy, cần phòng bệnh bằng cách vệ sinh thân thể sạch sẽ, đảm bảo nguồn nước tắm rửa sạch. Thường xuyên rửa mắt bằng nước muối sinh lý 0,9%, hạn chế tiếp xúc với người bệnh, tránh dùng chung chậu rửa, khăn mặt với người bệnh. Khăn mặt, chăn gối… được giặt sạch bằng xà phòng.

Nếu đã mắc bệnh: Nên cách ly (nghỉ học, nghỉ làm việc…). Khi mắc bệnh cần đi khám chuyên khoa để sàng lọc một số bệnh có dấu hiệu đỏ mắt. Các giấy, bông lau… là nguồn gây bệnh quan trọng nên để riêng. Khăn mặt, chăn gối… phải giặt bằng xà phòng. Nếu sốt nhẹ, người mệt mỏi, viêm họng nhẹ, nuốt thấy vướng, hạch trước tai sờ nắn thấy đau… có thể xông toàn thân bằng nồi nước xông có thêm trầu không.

Bài thuốc đến từ thịt dê trị xuất tinh

Theo y học cổ truyền, thịt dê vị ngọt, nóng, chủ trị chứng tâm hư, làm êm dịu thần kinh, cầm mồ hôi, bổ dương khí gân cốt, mạnh dương sự. Ăn nhiều thịt dê da dẻ hồng hào khỏe mạnh. Ngoài ra, các bộ phận khác của dê như tủy dê, ngọc dương, sữa dê… đều bổ dưỡng và có nhiều tác dụng trị bệnh. Xin giới thiệu một số món ăn – bài thuốc từ thịt dê trị liệt dương, xuất tinh sớm.

mon-an-thuoc-tu-thit-de-tri-xuat-tinh-som-1

Cháo thịt dê gạo lức:

Thịt dê tươi 200g, gạo lức 100g, hành, gừng, muối vừa đủ. Thịt dê rửa sạch thái miếng nhỏ cho cùng gạo đã đãi sạch và gia vị vào nồi, đổ 1 lít nước, đun to lửa cho sôi, sau đun nhỏ lửa nấu đến khi thịt nhừ, cháo đặc là được. Ngày 1 bát chia ăn vài lần. Tác dụng bổ hư, ích khí ôn trung mạnh tỳ vị. Dùng cho người xuất tinh sớm, liệt dương, khí huyết hư tổn, cơ thể gầy yếu, ăn vào hay nôn ọe, tiêu hóa kém, lưng đau gối mỏi, sản hậu hư hàn đau bụng. Ăn vào mùa đông thì tốt hơn. Người có đờm hỏa thực tà, thấp nhiệt không nên dùng.

Cháo thịt dê, nhục thung dung: Thịt dê 100g, nhục thung dung 15g, gạo lức 50g. Dùng 1 lít nước nấu nhục thung dung cho nhừ rồi bỏ bã. Thịt dê cắt miếng cho vào nồi, đổ 200ml nước nấu thịt nhừ, cho tiếp thêm 300ml nước và gạo đã đãi sạch vào nấu đến khi hạt gạo nở, cháo đặc thì cho nước nhục thung dung vào, đun sôi cho muối, bột ngọt, rồi tắt lửa, đậy kín vung trong 5 phút là được. Ăn vào sáng và tối trong ngày. Người đại tiện lỏng không nên dùng. Tác dụng: bổ thận tráng dương, nhuận trường thông tiện. Dùng cho người liệt dương, di tinh, xuất tinh sớm. mon-an-thuoc-tu-thit-de-tri-xuat-tinh-som-2

Canh thịt dê tôm nõn:

Thịt dê 250g, tôm nõn 25g, gừng, hành, tiêu bột, muối vừa đủ. Thịt dê rửa sạch, luộc chín, thái mỏng cho vào nồi đất cùng tôm, gừng, hành, tiêu bột, muối, nước vừa đủ, đun to lửa tới sôi rồi chuyển đun nhỏ lửa nấu chín nhừ. Ăn kèm trong bữa cơm. Tác dụng: ôn thận bổ dương, bổ hư, mạnh cơ thể, trị các chứng do thận dương hư suy gây ra như liệt dương xuất tinh sớm, váng đầu hoa mắt, thần kinh mệt mỏi, lưng gối đau mỏi.
Canh thịt dê đương quy: Thịt dê 500g, đương quy 75g, gừng tươi 10g, đại hồi hương, quế bì, muối vừa đủ. Đương quy, gừng cho vào túi vải. Thịt dê rửa sạch, lọc bỏ màng thái nhỏ cho vào nồi cùng hồi hương, quế bì, nước vừa đủ đun nhỏ lửa tới chín nhừ, bỏ túi thuốc ra là được. Ăn thịt uống canh, chia 2 bữa. Tác dụng: tán hàn, bổ huyết, ôn tỳ, kiện vị, điều kinh, tán phong, chống lão hóa, kéo dài tuổi thọ.

Trị phụ nữ huyết hư, sản hậu bụng đau, kinh nguyệt không đều, đầu đau khi có kinh, vú đau tức, kinh huyết giảm, tử cung phát triển kém, sẩy thai liên tiếp, sắc mặt trắng bệch, kinh bế, lưng gối lạnh đau; nam giới liệt dương di tinh.

Lương yMinh Minh

Theo SKDS

Bài thuốc chữa bệnh phụ nữ đến từ cá chép

Cá chép không những là món ăn ngon do thịt dày và béo, ít xương dăm, thớ thịt trắng mịn, mùi vị thơm ngon… mà còn chứa nhiều chất dinh dưỡng, có tác dụng chữa trị bệnh tốt. Theo Đông y, cá chép là dương tính trong âm tính, có tác dụng lợi tiểu tiện, cho nên có thể chữa được bệnh khi kết lạnh; bình phổi thông sữa, làm sạch đường tiêu hóa, bài tiết và trừ khử được tả độc sưng tấy. Cá chép còn được coi là thuốc tiên chữa bệnh phụ nữ.

ca-chep-bo-am-chua-benh-phu-nu-1

Xin giới thiệu một số bài thuốc chữa bệnh phụ nữ từ cá chép.

An thai: Một con cá chép nặng khoảng nửa cân, để cả vẩy, mổ bỏ tạp ruột, trộn thêm nửa lạng gạo nếp, rửa sạch, cho thêm ít vỏ quýt, gừng sống. Đổ tất cả vào nồi ninh chín, cho thêm ít muối, ăn 5 – 7 lần sẽ có hiệu quả rất nhanh.

Nôn ở thời kỳ đầu mang thai: Một con cá chép nặng khoảng 250g đánh vẩy, mổ bỏ nội tạng, rửa sạch, cho thêm 6g sa sâm đập nhỏ, 10g gừng tươi thái mỏng. Bỏ cả hai thứ vào trong bụng cá hầm chín, ăn trong ngày, có công hiệu kiện tỳ hòa vị, giảm thổn thức, tiêu trừ nôn mửa.

Tăng lượng sữa: Một con cá chép nặng khoảng 250g, một chân giò lợn (loại bé), 3g thông thảo. Hầm thật nhừ, ăn dần 1 – 2 ngày sẽ có nhiều sữa.

Chữa ứ huyết sau sinh: Nghiền, tán nhỏ vẩy cá chép, cho vào từ 3 – 5g nước đun sôi. Uống với ít rượu nếp có công hiệu làm tan huyết, thông huyết.

Chữa động thai: Cá chép một con 500g, a giao (sao) 20g, gạo nếp 100g, nước vừa đủ, nấu cháo gần chín cho gừng, vỏ quýt, muối. Ăn liền một tuần thì khỏi.

Chữa mỏi lưng, phù thũng: Cá chép tươi một con (400 – 500g), rễ cây gai 15g, gạo nếp 100g, cá chép làm sạch nấu lấy nước bỏ xương. Rễ gai sắc lấy nước bỏ bã. Lấy nước cá, nước rễ gai nấu cháo ăn nóng ngày 2 lần, một liệu trình 3 – 5 ngày.

BS. Đào Minh

Theo SKDS

Bài thuốc chữa bệnh muộn con ở nam giới

Theo y học hiện đại, vô sinh nam phần lớn là do số lượng tinh trùng mỗi lần xuất tinh không đủ, chất lượng tinh trùng yếu (tỷ lệ sống, số di động nhanh ít…). Để điều trị vô sinh nam, điều quan trọng là phải dùng thuốc hoặc món ăn có tác dụng bổ thận, tráng dương, sinh tinh ích tủy… trong đó tăng cường chức năng của thận có vai trò vô cùng quan trọng, vì theo YHCT thận tàng tinh, sinh tinh và là chủ cơ quan sinh sản.

Dưới đây là những món ăn có tác dụng bổ thận, tráng dương, sinh tinh ích tủy giúp khắc phục vô sinh nam:

Gà hầm kỷ tử: gà trống 1 con, kỷ tử 20g, hoàng tinh 20g. Gà làm thịt, moi ruột, rửa sạch, cho 2 vị thuốc vào hầm nhừ để ăn. Món ăn bài thuốc này thích hợp với bệnh nhân vô sinh có các triệu chứng: thắt lưng, đầu gối mỏi nhừ, miệng khô, hoa mắt, chóng mặt.

mon-an-giup-quy-ong-chua-benh-muon-con

Canh đuôi lợn, tục đoạn: đuôi lợn 50g, đỗ trọng 20g, ba kích, tục đoạn 20g, nhục thung dung 20g, đậu đen 30g, gia vị vừa đủ. Đuôi lợn rửa sạch đem hầm với các vị thuốc trên, nêm gia vị vừa dùng. Dùng liên tục 7 – 10 ngày. Công dụng: bổ thận, sinh tinh.

Canh hải sâm: hải sâm 100g ngâm cho nở, măng 20g, nấm hương 5g, dầu thực vật, rượu, bột ngọt, hành băm, gừng băm, muối, tiêu bột vừa đủ. Hải sâm thái từng thỏi, măng xé nhỏ, phi hành, gừng cho thơm, đổ vào nước dùng, cho tiếp hải sâm, nấm, măng, gia vị đun tới sôi, rắc tiêu bột là được. Ăn kèm trong bữa cơm. Công dụng bổ thận tráng dương ích khí, tăng số lượng, chất lượng tinh trùng.

Thịt chó 250g, tiên mao, tiên linh tì mỗi thứ 15g, nấu chín nhừ để ăn giúp sinh tinh.

Thịt dê 100g, gạo tẻ 50g. Thịt rửa sạch thái nhỏ, cho vào nấu cháo với gạo tẻ để ăn. Món ăn này dành cho những bệnh nhân thắt lưng mỏi nhừ, ít tinh trùng.

Tôm nõn 250g, rau hẹ 100g. Cho tôm đã rửa sạch vào rán, sau đó cho hẹ vào xào chín để ăn. Thích hợp với bệnh nhân vô sinh nói chung.

Gan lợn 100g, rau chân vịt 50g đem xào chín để ăn. Thích hợp với bệnh nhân tinh trùng ít hoặc sức hoạt động của tinh trùng yếu.

Trứng chim sẻ 4 quả, đánh lẫn với thịt của 5 quả long nhãn, nấu chín lên ăn, mỗi ngày 3 lần. Thích hợp với các bệnh nhân vô sinh nói chung.

Dương vật bò 25g, dương khởi thạch (một loại khoáng chất) 25g, bột hạt dẻ 25g, gạo tẻ 100g. Nấu dương khởi thạch lấy nước, dùng nước đó nấu cháo với dương vật bò để ăn, ngày 2 lần. Thích hợp với bệnh nhân liệt dương, không xuất tinh, tinh trùng ít và yếu.

Lương y Hoài Vũ

Theo SKDS

Bài thuốc dân gian chữa táo bón sau khi sinh nở

Chế độ ăn uống của chị em sau sinh  thường có nhiều chất dinh dưỡng mà thiếu chất xơ do vậy mà hay bị táo bón, thường 2 – 3 ngày, thậm chí 4 – 5 ngày mới đại tiện 1 lần. Nguyên nhân do chức năng tiêu hóa bị giảm đi, dạ dày co bóp yếu, thức ăn bị đọng lại trong thời gian dài; do sau khi sinh, vùng cơ xương chậu bị tổn thương ít nhiều nên lực co bóp không đủ. Xin giới thiệu một số món ăn, nước uống vừa đảm bảo dinh dưỡng lại chữa được chứng bệnh này để chị em tham khảo.

Cháo khoai lang: khoai lang tươi 250g, gạo lức 200g. Khoai rửa sạch cắt miếng, cho  cùng gạo đã vo sạch vào nồi, nước vừa đủ, đun to lửa cho sôi sau nhỏ lửa nấu thành cháo loãng. Ngày ăn vài lần, mỗi lần 1 bát.

Cháo hà thủ ô, táo đỏ: hà thủ ô 50g, táo đỏ 3 quả, gạo lức 100g, đường phèn 30g. Hà thủ ô cho vào nồi đất, nước vừa đủ, đun sôi, cô đặc lấy nước, bỏ bã, cho gạo đã đãi sạch và táo đỏ vào đun to lửa sau nhỏ lửa nấu thành cháo loãng. Ngày ăn 1 bát, chia 2 lần.

Cháo khoai sọ: khoai sọ 250g, gạo lức 50g. Rửa sạch khoai, bỏ vỏ, thái thành miếng, gạo vo sạch cùng bỏ vào nồi, cho nửa lít nước, đun to lửa cho sôi sau đun nhỏ lửa nấu thành cháo, cho dầu ăn, gia vị vừa đủ. Ăn tùy ý.

Cháo vừng đen: vừng đen 10g, gạo lức 50g. Giã nát vừng, nghiền tan trong nước, lọc lấy nước, cùng gạo đã vo sạch, cho vào nồi, thêm nước, đun to lửa cho sôi, sau đun nhỏ lửa nấu thành cháo. Chia ăn 2 lần trong ngày.

Cháo quả dâu: quả dâu tươi 60g, gạo nếp 100g. đường phèn vừa đủ. Quả dâu ngâm nước rửa sạch, vớt ra để ráo, cho cùng gạo nếp đãi sạch vào nồi đất, nước 1 lít, đun to lửa cho sôi, sau nhỏ lửa nấu thành cháo loãng, cho đường vào là được. Ngày 1 bát chia ăn vài lần.

Mật ong pha dầu vừng: mật ong 50g, dầu vừng 25g.  Dầu vừng đựng vào bát, lấy đũa tre đánh cho nổi bọt, thấy bọt nổi kín đặc thì vừa khuấy đánh, vừa đổ dầu vừng vào, tiếp tục khuấy đều và đổ khoảng 100ml nước sôi khuấy đánh sao cho các thứ thành một thể dịch chung là được. Uống nóng.

chua-tao-bon-sau-khi-sinh-no

Canh hải sâm nấu mộc nhĩ: hải sâm 50g, ruột già lợn 200g, mộc nhĩ đen 20g, rượu trắng, bột ngọt, hành băm, gừng tươi băm, muối tinh vừa đủ. Hải sâm ngâm nở, rửa sạch, lòng lợn xát muối bên trong ruột, rửa sạch các tạp chất, cắt thành từng đoạn, mộc nhĩ ngâm nở rửa sạch, nước vừa đủ, cho hải sâm, ruột lợn, mộc nhĩ, hành, rượu, đun to lửa cho sôi sau nhỏ lửa đun tới chín nhừ, cho gia vị là được. Ăn kèm trong bữa ăn.

Nước sơn tra, củ cải: sơn tra tươi 10 quả, củ cải 1 củ, giấm ăn một ít. Củ cải rửa sạch thái miếng cho vào nồi đất cùng sơn tra rửa sạch và giấm, nước vừa đủ nấu nước. Ngày 1 thang chia 3 lần uống, có thể ăn sơn tra.

Ngoài ra, chị em nên uống nhiều nước (nước sôi để nguội, nước chè xanh, nước canh, nước hoa quả, sữa đậu nành…); ăn nhiều rau và quả chín; giữ tinh thần vui vẻ lạc quan; vận động cơ thể và các tập bài tập phù hợp; kết hợp làm việc và nghỉ ngơi hợp lý để có thể lực tốt nhất.

Lương y  Minh Chánh

Bài thuốc cho trẻ suy dinh dưỡng

Suy dinh dưỡng trẻ em Đông y gọi là cam tích. Nguyên nhân thường gặp là do trẻ ăn uống không điều độ (cai sữa quá sớm, ăn nhiều chất ngọt hoặc béo quá, no hoặc đói thất thường) làm tỳ vị bị tổn thương; do chăm sóc không đúng cách hoặc không phù hợp với các giai đoạn phát triển sinh lý của trẻ nhỏ làm nguyên khí hao tổn, tân dịch bị tổn thương.

Khi mới mắc, trẻ hơi gầy, kém ăn hoặc ăn nhiều, đi cầu nhiều, phân khi lỏng khi đặc, đầy bụng, có thể sốt nhẹ, miệng khát, lòng bàn chân, bàn tay nóng, người bứt rứt, hay khóc, ngủ không yên, rêu lưỡi hơi vàng, mạch tế hoạt. Nặng hơn trẻ miệng khô, khát nước, sôi bụng, tiêu chảy, có khi táo bón, bụng to, gân xanh nổi lên, nước tiểu đục trắng, rêu lưỡi trắng. Trẻ suy dinh dưỡng lâu ngày làm người gầy, bộ mặt nhăn nheo như người già, tinh thần mệt mỏi, ăn uống kém, tiếng khóc nhỏ, rêu lưỡi mỏng khô, lông tóc khô; kèm theo da khô, loét niêm mạc, loét miệng, lắng đọng sắc tố, tử ban, phù thũng… Phương pháp điều trị: Vừa công vừa bổ. Trước hết phải tiêu tích (tiêu đồ ăn bị tích trệ), tiếp đến tẩy trùng tích (trừ giun sán), sau đó bổ hư lý tỳ điều vị. Dùng các bài thuốc sau:

Thuốc uống:

bai-thuoc-cho-tre-suy-dinh-duong-1

Bài 1:“Tiêu cam lý tỳ thang”: tam lăng 2g, thanh bì 4g, lô hội 0,2g, sử quân tử 4g, hoàng liên 4g, thần khúc 6g, nga truật 4g, trần bì 4g, binh lang 2g, cam thảo sống 4g, mạch nha 6g. Sắc 3 lần, hợp lại, chia uống 3 lần trong ngày, nên dùng nước đăng tâm thảo và đại táo làm thang. Dùng khi bệnh mới phát, do tích trệ, phần nhiều thuộc thực chứng. bai-thuoc-cho-tre-suy-dinh-duong-2

Bài 2: “Sử quân tử tán”: sử quân tử ngâm, ủ, bóc vỏ lụa và cắt phần đầu nhọn. Tất cả sấy khô, tán bột, ngày uống 2 – 4g, uống lúc đói. Tác dụng tẩy trùng tích (giun sán). bai-thuoc-cho-tre-suy-dinh-duong-3

Bài 3: “Sâm linh bạch truật tán”: bạch biển đậu 20g, nhân sâm 40g, bạch linh 40g, bạch truật 40g, cam thảo 40g, hoài sơn 40g, liên nhục 20g, cát cánh 20g, ý dĩ 20g, sa nhân 20g. Tất cả tán bột, ngày uống 3 lần, mỗi lần 4 – 8g tùy theo tuổi. Tác dụng bổ hư điều vị. bai-thuoc-cho-tre-suy-dinh-duong-4

Bài 4: “Tập thành hoàn gia giảm”: lô hội 0,8g, ngũ linh chi 4g, dạ minh sa 4g, trần bì 6g, xuyên khung 8g, xuyên quy 8g, mộc hương 6g, sử quân tử 8g, nga truật 6g, hoàng liên 6g, thịt cóc 12g, thanh bì 6g. Tất cả tán nhỏ, trộn với nước mật lợn làm viên, ngày uống 4 – 6g. Chữa chứng cam ở các tạng phủ. bai-thuoc-cho-tre-suy-dinh-duong-5

bai-thuoc-cho-tre-suy-dinh-duong-6 bai-thuoc-cho-tre-suy-dinh-duong-7

Bài thuốc phòng chữa chứng huyết hư

Phụ nữ thuộc âm, lấy huyết làm chủ. Kinh kỳ cũng như mặt trăng và nước thủy triều. Mặt trăng tròn lại khuyết, thủy triều xuống lại lên; kinh nguyệt cứ 1 tháng 1 lần đều đặn. Tuy nhiên, nhiều chị em lại mắc chứng huyết hư gây kinh nguyệt sắc nhợt nhạt, người mệt mỏi, da dẻ không tươi nhuận, ảnh hưởng sức khỏe. Sau đây là một số bài thuốc giúp phái đẹp khắc phục tình trạng này.

Nếu sắc huyết nhợt và chất loãng là do huyết hư nên dùng bài “Thập toàn đại bổ”: nhân sâm 12g, bạch linh 12g, đương quy 12g, bạch thược 12g, nhục quế 6g, bạch truật 12g, hoàng kỳ 12g, thục địa 12g, xuyên khung 12g, chích thảo 4g, gừng tươi 3 lát, hồng táo 3 quả. Các vị cho vào ấm, đổ 7 bát nước sắc còn 2 bát, chia uống 2 lần trong ngày.

bai-thuoc-phong-chua-chung-huyet-hu

Nếu kinh nguyệt nhiều tháng không thấy, da trắng bệch, môi nhợt, người mệt mỏi, hay hoa mắt chóng mặt nhức đầu, hơi thở ngắn, hồi hộp đánh trống ngực, ngủ hay mơ mộng, tinh thần uể oải chậm chạp; chất lưỡi bệu; mạch vi tế vô lực là kinh bế do huyết hư, nên bổ huyết, dưỡng huyết, thông kinh. Dùng bài “Dưỡng huyết thông kinh thang”: đan bì 12g, xuyên khung 12g, đương quy (tảy rượu) 16g, thược dược (giấm sao) 16g, sinh địa 16g, trần bì 8g, bạch truật 12g, hương phụ (thất chế) 12g, sài hồ 12g, hoàng kỳ 10g, cam thảo 6g. Các vị cho vào ấm, đổ 7 bát nước sắc còn 3 bát, chia uống 3 lần trong ngày.

Để phòng chữa chứng huyết hư, chị em cần lưu ý:

– Kiêng dùng thức ăn cay, chua, nóng hay kích thích (ớt, hồ tiêu…)

– Tính tình nên khoan hòa, kiêng tư lự và hạn chế gắt gỏng.

– Bệnh khỏi rồi, hàng ngày nên dùng bài Tứ vật thang để bồi bổ sức khỏe và phòng bệnh trở lại và một số bài thuốc bổ huyết bảo kiện mỹ dung sau:

Bài Tứ vật thang: đương quy 12g, xuyên khung 6g, thục địa 12g, bạch thược (tửu sao) 8g. Sắc 3 bát lấy 1 bát, uống nóng.

Bài Gia vị bát trân hoàn: toàn đương quy 120g, sinh địa 150g, bạch thược 30g, xuyên khung 40g, nhân sâm 30g, bạch truật (sao) 100g, bạch linh 75g, chích cam thảo 50g, ngũ gia bì 300g, đại táo (bỏ hạt) 150g, đào nhân 150g, bạch mật (đường trắng)  liều lượng thích hợp. Các dược liệu tán bột, trộn mật làm hoàn, đựng trong bình kín. Mỗi lần dùng 15 – 20g, ngày 2 – 3 lần uống với rượu nấu từ gạo nếp. Bổ khí dưỡng huyết, kiện tỳ hoà vị, tư bổ can thận, dinh dưỡng da cơ. Dùng cho người trung niên và cao tuổi khí huyết hư thể trạng suy nhược, da dẻ khô ráp, dung nhan kém tươi tắn, tinh thần mỏi mệt, đau đầu hoa mắt chóng mặt, đau lưng mỏi gối, kinh nguyệt không đều. Người cơ địa béo mập không nên dùng.

TS. Nguyễn Đức Quang

Trị dứt điểm bệnh quai bị từ bài thuốc dân gian

Khoảng 1/3 các trường hợp nhiễm bệnh không gây nên các triệu chứng sưng tuyến nước bọt rõ ràng trên lâm sàng. Trên 50% bệnh nhân mắc bệnh quai bị có hiện tượng tăng bạch cầu trong dịch não tủy. Một số bệnh nhân có biểu hiện viêm màng não rõ với các triệu chứng nhức đầu, nôn mửa, cứng cổ…

Các biến chứng khác hiếm gặp hơn gồm viêm khớp, viêm tuyến giáp, viêm khớp xương hàm, viêm cầu thận, (glomerulonephritis), viêm cơ tim, xơ hóa nội tâm mạc, giảm tiểu cầu, thất điều tiểu não, viêm tủy cắt ngang, viêm đa dây thần kinh lan lên, viêm tụy cấp, viêm buồng trứng (oophoritis), và giảm thính lực.

tri-dut-diem-benh-quai-bi-tu-bai-thuoc-dan-gian

Quai bị gây nên do một loại virus ARN thuộc Rubulavirus trong họ Paramyxoviridae.

Nguyên nhân gây bệnh

Quai bị gây nên do một loại virus ARN thuộc Rubulavirus trong họ Paramyxoviridae. Các nguyên nhân khác gây viêm tuyếm mang tai gồm virus vùi hạt cự bào (cytomegalovirus-CMV), virus á cúm type 1 và 3, virus cúm A (influenza A virus), coxsackievirus, virus ruột (enterovirus), virus gây suy giảm miễn dịch ở người (Human Immunodeficiency Virus-HIV), tụ cầu khuẩn, và các Mycobacterium không gây lao khác.

Các nguyên nhân gây viêm tuyến mang tai hiếm gặp khác có thể do ăn nhiều tinh bột, phản ứng thuốc (phenylbutazone, thiouracil, các thuốc chứa iốt) và các rối loạn chuyển hóa (như bệnh đái tháo đường, xơ gan và suy dinh dưỡng) có thể bị 2 lần.

Bài thuốc uống trị quai bị

Bài 1. Huyền sâm 15 g, hạ khô thảo 6 g, bản lam căn 12 g, sắc uống.

Bài 2. Vỏ cây gạo 40 g, cạo bỏ vỏ giấy bên ngoài, thái lát, sao vàng, sắc uống.

Bài 3. Củ sắn dây 16 g, bạc hà 6 g, cúc tần sao 10 g, thăng ma 10 g, thạch cao sống 10 g, cam thảo 6 g, hoa cúc 15 g, hoàng cầm (nam) sắc uống.

Bài 4. Quả ké 12 g, sài đất 12 g, bồ công anh 12 g, sắc với 3 bát nước lấy nửa bát, uống mỗi ngày 2 lần.

Bài 5. Hạ khô thảo 20 g, cây mũi mác 30 g, kim ngân 20 g sắc uống trong ngày.

Bài 6. Trường hợp sốt cao, mệt mỏi, chán ăn: Thổ linh 20 g, sài đất, ngân hoa, thương nhĩ, đinh lăng, hương nhu mỗi thứ 16 g, mã đề 12 g sắc uống ngày 1 thang.

Bài 7. Khi bị biến chứng viêm tinh hoàn: Lệ chi 20 g, thương nhĩ, ngân hoa, hoàng bá, hạ khô thảo, thổ linh, sài đất, đinh lăng, cối xay mỗi thứ 16 g, cam thảo 10 g sắc uống ngày 1 thang. Cho bệnh nhân nằm nghỉ, tránh vận động.

Thuốc bôi, đắp hoặc dán ngoài

Bài 1. Hạt gấc (đốt thành than) 3-4 hạt, cói hoặc chiếu rách 1 nhúm (chừng 5 g), đốt thành than. Hai vị trộn đều, hòa với dầu vừng, bôi vào chỗ sưng.

Bài 2. Nhân hạt gấc (giã nát, đốt thành than) 4-5 hạt, giấm thanh 5 ml, tinh cối đá (đã vô trùng) 6-10 g, tất cả trộn đều, bôi vào chỗ sưng mỗi ngày 4-5 lần.

Bài 3. Nhân hạt gấc 2-3 hạt, giấm thanh hoặc rượu trắng 10 ml, đem hạt gấc mài vào giấm hay rượu rồi bôi nhiều lần vào chỗ sưng.

Bài 4. Hạt cam thảo dây lượng vừa đủ, tán thành bột, trộn với lòng trắng trứng gà rồi bôi lên chỗ sưng viêm, mỗi ngày thay thuốc một lần. Một công trình nghiên cứu trên 485 ca quai bị cho thấy, có 402 ca đạt hiệu quả ngay từ lần đầu.

Bài 5. Xích tiểu đậu 30 g, đại hoàng 15 g, thanh đại 30 g, tất cả tán bột, mỗi lần dùng 5 g trộn đều với lòng trắng trứng gà bôi lên nơi sưng nhiều lần trong ngày.

Bài 6. Giấm chua để lâu ngày, tỏi lượng vừa đủ. Giã nát tỏi, trộn với giấm, bôi lên chỗ tổn thương, mỗi ngày 2-3 lần.

Bài 7. Bột tiêu 1 g, bột mì 8 g, trộn 2 thứ với nước ấm thành dạng hồ rồi đắp lên nơi sưng, mỗi ngày thay thuốc một lần.

Bài 8. Lá na, lá gấc, lá cà độc dược, 3 thứ rửa sạch, giã nhỏ, đắp vào nơi sưng.

Bài 9. Giun đất 2-3 con cho vào cốc, thêm một ít đường rồi đảo đều, sau nửa giờ dùng bông sạch thấm chất dịch do giun tiết ra rồi bôi lên nơi sưng, mỗi ngày 2-3 lần.

Bài 10. Cóc 1 con, rửa sạch, chặt bỏ đầu từ phía dưới 2 u to, lột lấy da, dùng kéo cắt thành những miếng như cao dán rồi dán lên nơi sưng, sau chừng 8 giờ thì thay miếng khác. Thường sau 3 ngày thì khỏi.

Bài 11: Bồ công anh tươi 60 -120g, đem rửa sạch cả lá và rễ, thêm vào một lòng trắng trứng gà (thêm ít dấm cũng được), trộn đều, đem đắp chỗ đau, sau khi khô bỏ đi thay miếng khác.

Bài 12: Lấy một nắm hoa cúc tươi (hoặc lá hoa cúc dại) rửa sạch giã nát như bùn, thêm ít dấm, đắp chỗ đau, khô bỏ đi, thay miếng khác.

Bài 13: Lấy 1 – 2 miếng củ cải muối để lâu, đem đắp vào chỗ đau, ngày 2 – 3 lần.

Bài 14: Lấy 50 gam xương rồng bà, giã nát, đắp vào chỗ đau, ngày 2 – 3 lần.

Bài 15: lấy 50 – 100g rau sam giã nát, đắp vào chỗ sưng, ngày 2 – 3 lần.

Bài 16: lá hẹ 600g, giã nát, bỏ vào thêm 3g muối ăn, trộn đều chia làm 3 phần đắp vào chỗ đau, khô thay miếng khác. Ngày 3 – 5 lần.

Các bài thuốc bôi trên làm hằng ngày đến khi hết sưng thì thôi.

tri-dut-diem-benh-quai-bi-tu-bai-thuoc-dan-gian1

Món ăn trị bệnh quai bị

1. Đậu xanh 30 g, cải trắng 3 cây. Đậu xanh ninh cả vỏ cho nhừ rồi cho rau cải vào nấu chín, chia làm 2 lần ăn trong ngày, liên tục trong 3-5 ngày.

2. Đậu xanh 200 g, đậu tương 50 g, đường trắng 30 g. Ninh nhừ 2 loại đậu rồi cho đường quấy đều, chia 2-3 lần ăn trong ngày.

3. Hoa kinh giới 10 g, bạc hà 10 g, sắc lấy nước rồi nấu với 50 g gạo tẻ thành cháo ăn trong ngày.

4. Mướp đắng 100 g bỏ ruột, thái miếng, chế thành các món ăn để dùng trong vài ngày.

Chú ý: Để tăng hiệu quả điều trị, nên dùng kết hợp một bài thuốc uống, một bài thuốc bôi đắp và một món ăn bài thuốc.

Nguồn giáo dục

Thanh lọc máu và thận nhờ su hào xanh

Theo các chuyên gia, su hào được đánh giá là loại thực phẩm giúp thanh lọc máu và thận tốt, loại bỏ các chất độc ra khỏi cơ thể, giúp tiêu hóa dễ dàng. Trong su hào có chứa nhiều chất xơ, canxi, phôt pho, sắt, vitamin C, axit nicotic.

1. Giúp hệ tiêu hóa khỏe mạnh

Su hào có hàm lượng chất xơ tuyệt vời cho cơ thể. Một bát su hào có chứa 5 gram chất xơ, bằng 19% lượng chất xơ cơ thể cần mỗi ngày. Chất xơ giúp hệ tiêu hóa hoạt động tốt bằng cách duy trì sức khỏe của ruột và ruột kết. Nó cũng có vai trò quan trọng trong việc duy trì lượng vi khuẩn có lợi trong ruột ở mức cân bằng. Tất cả những yếu tố trên giúp bạn giảm nguy cơ mắc các bệnh ở đường tiêu hóa, bệnh trĩ và ung thư ruột kết.

thanh-loc-mau-va-than-nho-su-hao-xanh

2. Giúp máu lưu thông tốt

Su hào là thực phẩm ít chất béo hoà tan và cholesterol. Điều đó có nghĩa rằng, nó rất tốt cho tim và hệ tuần hoàn máu. Chất béo hòa tan được biết đến là có hại cho cơ thể. Nếu ăn uống nhiều chất này sẽ làm tăng nồng độ cholesterol có hại ở trong máu. Từ đó dẫn đến nhiều bệnh ở tim như đau tim và đột quỵ. Hơn nữa, su hào giàu chất chống oxi hóa nên giúp tế bào ngăn ngừa sự tổn thương bởi các phân tử gốc tự do đi vào cơ thể qua hô hấp hoặc ăn uống. Những phân tử gốc này thường làm tăng nguy cơ đau tim và ung thư.

3. Giúp hệ miễn dịch khỏe mạnh

Mùa đông hệ miễn dịch của chúng ta dễ bị tấn công do sự phát triển mạnh của vi rút, do vậy mà chúng ta dễ bị cảm cúm, ho, xổ mũi và mệt mỏi. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, nếu bạn chăm ăn su hào vào mùa đông, nó sẽ giúp bạn tăng cường sức khỏe hệ miễn dịch.

Lý do là trong su hào có chứa rất nhiều vitamin C. Một bát su hào sống có chứa lượng vitamin C nhiều hơn 1,4 lần so với nhu cầu cơ thể cần mỗi ngày. Hệ miễn dịch khỏe mạnh cũng giúp bạn chống lại các bệnh như tim mạch và ung thư. Ngoài ra vitamin C còn giúp cải thiện sự hấp thụ và phục hồi nguồn cung vitamin E cho cơ thể.

thanh-loc-mau-va-than-nho-su-hao-xanh1

4. Tăng cường chức năng thần kinh và cơ

Su hào cũng là loại củ giàu kali. Một bát su hào sống đáp ứng được khoảng 14% lượng kali cơ thể cần mỗi ngày. Kali là khoáng chất cần thiết cho sức khỏe của cơ thể cũng như chức năng thần kinh. Nó cũng hỗ trợ tích lũy carbohydrate- thành phần được sử dụng như là “nhiên liệu” cho cơ bắp. Nếu cơ thể nhận đầy đủ lượng kali cũng sẽ giúp bạn xử lý thông tin nhanh và không bị kích động khi gặp chuyện rắc rối.

5. Giúp mẹ và thai nhi phát triển tốt hơn

Các vitamin và khoáng chất có trong su hào như selen, axit folic, kali, magiê… giúp bổ sung dưỡng chất cho quá trình mang thai của bạn tốt hơn, hoạt động não bộ, hệ thần kinh của trẻ khoẻ hơn.

6. Tốt cho người muốn giảm cân

Mặc dù là thực phẩm giàu chất dinh dưỡng nhưng su hào có chứa rất ít calo. Chúng ta biết rằng, mức dinh dưỡng trên mỗi ca lo càng cao thì thực phẩm đó càng tốt cho sức khỏe. Một bát su hào sống có chứa khoảng 36 calo. Do vậy su hào là thực đơn lý tưởng cho những người ăn kiêng vì nó đáp ứng được lượng vitamin và khoáng chất mà không làm vượt quá lượng calo. Chúng ta biết rằng calo thừa mà không được “đốt cháy” sẽ dẫn đến thừa cân.

Ngoài những chất trên, su hào còn chứa nhiều chất khoáng khác tốt cho cơ thể như đồng, canxi, mangan, sắt và phốt pho.

7. Thanh lọc máu và thận

Su hào được xem là loại thực phẩm cung cấp khá tốt về vitamin C, potassium, vitamin B6, vì vậy, theo các chuyên gia, su hào được đánh giá là loại thực phẩm giúp thanh lọc máu và thận tốt, loại bỏ các chất độc ra khỏi cơ thể, giúp tiêu hóa dễ dàng. Tuy nhiên, nếu ăn nhiều su hào cũng gây hao tổn khí huyết.

Một số bài thuốc từ su hào

– Tiêu đờm: Thân hoặc lá su hào rửa sạch cắt miếng. Cho dầu vừng vào xào rồi nấu làm canh. Ăn ngày 1 – 2 lần. Hoặc su hào bỏ vỏ giã nát, thêm mật ong. Khi ăn kết hợp uống với nước đã đun sôi.

– Miệng khô, khát nước: Su hào cắt miếng, giã nát, cho thêm đường trộn và nước đun sôi, dùng ăn sống.

– Tiêu nhọt: Su hào đem giã nát nhừ đắp vào chỗ đau. Hoặc su hào giã nát, vắt lấy nước để uống.

Nguồn giáo dục

Các loại rau thơm có tác dụng chữa bệnh

Dưới đây là những chia sẻ của đầu bếp Võ Quốc (TP HCM) về công dụng của các loại rau mùi.

Húng quế

Theo y học, húng quế rất tốt cho hệ tiêu hóa, trị chứng đầy hơi, co thắt dạ dày, đau bụng, khó tiêu. Nó còn có tác dụng kích thích sữa cho những bà mẹ mới sinh hoặc làm dịu cơn buồn nôn ở một số người. Húng quế cũng có tác dụng kích thích tóc mọc. Người ta thường vò nát lá quế sau đó xát lên da đầu, massage nhẹ nhàng. Khi dùng cho da, nó có tác dụng làm se lỗ chân lông và có thể được xem như một thứ nước tắm rất mát cho cơ thể.

Đất ẩm là môi trường thích hợp để cây phát triển. Khi trồng húng quế, không nên bón nhiều phân vì sẽ làm giảm lượng tinh dầu thơm rất đặc biệt của cây. Để cây phát triển tươi tốt, mọc rậm rạp thì nên thường xuyên cắt tỉa cành, tốt nhất là cứ mỗi 2 đến 3 tuần một lần.

Sả (cỏ chanh)

xa

Sả rất tốt cho hệ tiêu hóa, có tác dụng kích thích ra mồ hôi, hạ sốt ở người bệnh cảm và giúp lợi tiểu. Sả còn được dùng để điều trị chứng co thắt cơ, chuột rút, thấp khớp, đau đầu.

Trong vấn đề chăm sóc sắc đẹp cho phụ nữ, sả rất hữu dụng vì tinh dầu sả chứa nhiều Vitamin A. Khi trên người có những vết thâm, chỉ cần nấu ít sả giống như trà, xoa nhẹ sẽ giúp xóa tan những mảng thâm. Món ăn có sự kết hợp giữa sả và hạt tiêu sẽ giúp giảm những rắc rối về kinh nguyệt và chứng nôn mửa. Tuy nhiên, tinh dầu sả có thể là nguyên nhân gây dị ứng sưng tấy da ở một số người.

Sả thường được trồng bằng cách chiết cây, khi sả đủ lớn, bạn có thể tách chồi của nó để găm những bụi sả mới. Việc chăm bón cho sả cũng khá bình thường, chỉ cần tưới nước, bón phân 3 tuần 1 lần.

Bạc hà (húng cây)

Bạc hà là một bài thuốc khá hữu hiệu trong việc chữa trị cảm cúm và các vết côn trùng cắn, giúp lợi tiêu hóa, chữa chứng đầy hơi, thấp khớp, nấc cục, thông cổ, trị viêm xoang nhẹ… Dầu bạc hà cay có thể làm dịu cơn hen suyễn nhẹ bằng cách ngửi. Phụ nữ có mang thì nên thận trọng khi dùng vì rất có thể dẫn đến sẩy thai.

Bạc hà rất dễ chăm sóc, không cần phải bón phân, chỉ cần tưới nước. Có thể trồng nó bằng hạt nhưng trồng bằng cách chiết cành, cây sẽ sinh trưởng nhanh hơn. Nếu trồng bạc hà ở vườn nên chú ý đến ánh nắng mặt trời vì khi nắng quá gay gắt, sẽ làm cây khô héo, trụi lá.

Theo Khánh Hòa
VnExpress

Chữa viêm xoang cực kỳ hiệu quả từ cây giao

Cây giao có nơi lại gọi là cây xương cá, cây nọc rắn, cây càng cua, cây càng tôm, cây xương khô, cây san hô xanh, thập nhị, cây quỳnh cành giao… tên khoa học là Euphorbia Tiricabira L., thuộc họ thầu dầu Euphorbiaceae. Cây mọc hoang nhiều nơi, ở thôn quê cây có thể dùng làm hàng rào. Công dụng chủ yếu là chữa chứng bệnh viêm xoang mũi.

Toàn cây giao có vị cay, hơi chua, tính mát, hơi có độc, có tác dụng thúc sữa, sát trùng, khử phong, tiêu viêm, giải độc.

Do cây giao thuộc họ xương rồng, có mủ đục có hại cho mắt nên trong mọi thao tác làm thuốc (cắt, bẻ…) nhất thiết phải thật cẩn thận, tránh để mủ này dính vào mắt (có thể mang kính), tránh trường hợp mủ có khả năng làm hại, đui mắt.

cay_giao
Những dụng cụ nhất thiết phải có để chữa bệnh xoang gồm: 1. Một ấm nước nhỏ (bằng kim loại, sành sứ đều được và lưu ý sau này không dùng ấm này để nấu nước uống vì sợ độc). 2. Lấy một tờ lịch treo tường loại lớn quấn xéo lại thành một cái ống dài. Lưu ý ống phải dài khoảng 50cm, nếu ngắn quá thì hơi sẽ quá nóng, dễ bị phỏng da; còn nếu dài quá thì hơi không đủ mạnh để hít. Ống phải quấn sao cho một đầu vừa miệng vòi ấm, còn một đầu nhỏ hơn dùng để hít. Nếu có ống tre hay trúc được thông lỗ giữa các đốt cây thì tốt hơn, nhưng không được dùng loại ống bằng nhựa bởi dễ nóng chảy.

Bài thuốc xông mỗi ngày gồm một chén (bát) nước và khoảng 70gr cây. Nếu không có cân thì có thể đếm khoảng 15-20 đốt cây thuốc cho một ngày dùng. Thường buổi sáng dùng phần lớn lượng cây thuốc trong phần thuốc của cả ngày, chừa lại một vài nhánh nhỏ để đến chiều bổ sung lượng thuốc đã bốc hơi.

Nếu dùng một lần một ngày thì trọn phần thuốc đã định vào một lần. Cắt nhỏ các đốt cây thành cỡ một nửa đốt ngón tay rồi thả vào ấm. Nên cắt cây ngay trên miệng ấm để cho mủ cây nhỏ vào ấm càng tốt. Sau đó đặt ấn lên bếp, nên sử dụng loại bếp có chức năng tăng giảm lửa như bếp ga mini. Đầu tiên vặn lửa thật lớn cho nước trong ấm sôi sùng sục. Khi thấy hơi xông ra nhiều từ vòi ấm thì bớt lửa đến cực nhỏ, canh sao cho hơi vẫn còn bốc ra nhẹ ở vòi ấm. Kế tiếp đưa một đầu ống đã quấn vào vòi ấm, còn một đầu cho vào mũi để hít hơi xông lên.

Thời gian xông là hai lần trong một ngày (nên sử dụng vào sáng và tối). Thuốc đã dùng buổi sáng nên để dành và hâm lại dùng buổi tối. Khi hâm dùng lần hai thì nhớ bổ sung thêm một ít nước cùng vài đốt cây mới. Sau đó đổ bỏ, hôm sau lại làm liều thuốc mới. Hai hôm đầu xông mỗi lần 20 phút, từ ngày thứ 3 – 5 mỗi lần 25 phút, sau đó xông 30 phút mỗi lần và duy trì như vậy cho đến hết bệnh. Khi bệnh đã khỏi, nên xông củng cố thêm vài lần, mỗi lần 45 phút rồi mới nghỉ hắn. Trẻ em nên xông với thời gian ngắn hơn so với người lớn, để khi quen dần mới tăng thời gian lên.

Theo giáo dục

Một số bài thuốc trị bệnh từ cây sa kê

Trong 100g phần quả ăn được có các chất sau: protein 1,2g %, chất béo 0,3g %, chất bột đường 23g %, chất xơ 1,34 %, chất khoáng 0,94 %, gồm kali 296mg %, calci 27mg %, magiê 26mg %, đồng 0,12mg %, sắt 0,8mg %, mangan 0,14mg % và các Vitamin B1, B2, C, PP.

Lá sa kê có tác dụng kháng sinh, tiêu viêm, lợi tiểu, trị tiêu chảy, đái tháo đường, huyết áp cao, sỏi thận, bệnh gút và viêm gan vàng da. Ngày dùng một lá, sắc uống như nước trà, nhưng chỉ dùng một tuần, lại nghỉ một tuần, không nên uống liên tục thay nước trà. Rễ sa kê có tính làm dịu, trừ ho. Vỏ cây Sa-kê có tác dụng sát khuẩn.

Một số bài thuốc trị bệnh từ cây sa kê

1. Chữa mụn, nhọt

Theo lương y Phạm Như Tá, lá sa kê thường được đốt thành than, tán mịn, phối hợp với dầu dừa và nghệ tươi, giã nát, làm thành bánh để đắp chữa mụn rộp. Hoặc dùng lá sa kê và lá đu đủ tươi, lượng bằng nhau, giã với chút vôi (vôi ăn trầu) cho đến khi có màu vàng dùng để đắp chữa sưng háng, mụn nhọt, áp xe.

mot-so-bai-thuoc-tri-benh-tu-cay-sa-ke
2. Viêm gan

Dân gian sử dụng lá sa kê tươi đem nấu nước uống để chữa phù thũng và dùng cho người bị viêm gan. Chẳng hạn người ta dùng 100 gr lá sa kê tươi, 50 gr diệp hạ châu (chó đẻ) tươi, 50 gr củ móp gai tươi, 50 gr cỏ mực khô đem nấu nước chung để uống.

3. Cao huyết áp

Một số trường hợp có huyết áp cao, người ta dùng 2-3 lá sa kê tươi đã vàng vừa rụng xuống, cùng 50 gr lá chè xanh và 50 gr rau bồ ngót tươi đem nấu nước uống trong ngày.

4. Chữa gout

Với bệnh gút, dùng độ 100 gr lá sa kê tươi, 100 gr dưa chuột và 50 gr cỏ xước khô đem nấu nước uống trong ngày.

5. Chữa tiểu đường

Với bệnh tiểu đường (thể 2) thì lấy 100 gr lá sa kê tươi, 100 gr trái đậu bắp tươi, và 50 gr lá ổi còn non đem nấu nước để uống trong ngày.

6. Viêm gan vàng da

Những người bị viêm gan vàng da, có thể dùng lá sa kê còn tươi chừng 100g, diệp hạ châu tươi 50g, củ móp gai tươi 50g, cỏ mực khô 20-50g. Tất cả đem nấu chung để lấy nước dùng trong ngày.

7. Chữa đau răng

Khi bị đau răng, để chữa cơn đau tạm thời trước khi đến khám ở nha sĩ, có thể lấy rễ cây sa kê đem nấu nước ngậm và súc miệng.

Theo giáo dục

Điều trị á sừng hiệu quả khi đông về

 Có một bài thuốc điều trị dùng ngoài rất hữu hiệu gồm: quế chi, đào nhân, đại hoàng, ba vị lấy lượng bằng nhau đun lên lấy dịch đắp vào hoặc ngâm vào chỗ da bị tổn thương, ngâm trong vòng 1 tuần thì da sẽ mềm mại.

Vào mùa Đông, độ ẩm không khí thường xuống thấp khiến vùng da những người bị á sừng dễ bị nứt ra, rớm máu và đau đớn, gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Theo các chuyên da, á sừng là một bệnh viêm da cơ địa dị ứng, là bệnh ngoài da khá phổ biến có thể gặp ở nhiều vị trí da khác nhau khiến da thường khô và bong tróc, nhưng rõ rệt nhất là da ở đầu ngón chân, ngón tay. Vào mùa Đông, khi độ ẩm không khí xuống thấp tình trạng nứt nẻ càng nặng thêm, phần da bị bệnh dễ bị nứt toác ra, rớm máu đau đớn, có thể ảnh hưởng đến sinh hoạt và công việc.

dieu-tri-a-sung-hieu-qua-khi-dong-ve

Theo Ths. Bs. Phan Thị Hoa – Trưởng khoa Da liễu, Bệnh viện Y học cổ truyền Tuệ Tĩnh, có 2 yếu tố nguyên nhân dẫn đến viêm da cơ địa, đó là do nguyên nhân cơ địa di truyền và nguyên nhân dùng hóa chất tẩy rửa quá mạnh hoặc dùng thuốc bôi không đúng cách.

Để chăm sóc bệnh á sừng vào mùa Đông, người bệnh tuyệt đối nhớ hoàn toàn không tiếp xúc với hóa chất tẩy rửa. Càng tiếp xúc với chất tẩy rửa nhiều bao nhiêu càng rửa trôi mất lớp lipit của da bấy nhiêu, khiến bệnh càng trầm trọng hơn. Người bị á sừng ở tay thì khi rửa bát, lau nhà, giặt quần áo nên đi một găng tay túi bóng trước, sau đó đi một găng tay cao su rồi mới bắt tay vào làm.

Người bệnh á sừng nên luôn luôn dùng kem dưỡng ẩm, một ngày có thể bôi kem 3 – 4 lần vào vùng da bị bệnh, vì dưỡng ẩm là chìa khóa để người bệnh điều trị bệnh khô da, đặc biệt là bệnh á sừng.

Ngoài ra, có một bài thuốc điều trị dùng ngoài rất hữu hiệu gồm: quế chi, đào nhân, đại hoàng, ba vị lấy lượng bằng nhau đun lên lấy dịch đắp vào hoặc ngâm vào chỗ da bị tổn thương, ngâm trong vòng 1 tuần thì da sẽ mềm mại.

Bên cạnh đó, các chuyên gia cũng khuyến cáo người bệnh cần lưu ý chế độ dinh dưỡng hợp lý, đặc biệt tăng cường các thức ăn bổ dưỡng cho da.

Theo giáo dục

Bài thuốc trị nẻ hiệu quả trong mùa đông

Mùa đông lạnh giá thường phát sinh chứng tay chân bị nứt nẻ. Trung y cho rằng tay chân nứt nẻ có liên quan đến bệnh nấm ngoài da, đồng thời kết hợp huyết mạch trở trệ không thông làm da dẻ mất nhuận dưỡng mà sinh bệnh.

Dưới đây, xin giới thiệu cổ phương của Trung Hoa có tên là “Thâm sư trị tay chân nứt nẻ” trích trong “Thâm sư phương”. Đây là phương có công hiệu chữa chứng da tay chân bị nứt nẻ.

Lấy xuyên tiêu lượng vừa đủ (khoảng 20 – 30g) sắc lấy nước để dùng.

bai-thuoc-tri-ne-hieu-qua-trong-mua-dong

Nước sắc của xuyên tiêu để ngâm chỗ bị nẻ ngày 2 lần, sau đó để khô tự nhiên rồi lấy tủy não heo hoặc tủy não dê làm nhuyễn để bôi lên nơi đau một lớp mỏng hoặc có thể thay thế bằng mỡ heo để bôi, hiệu quả đều như nhau).

Theo nghiên cứu dược lý thì xuyên tiêu có tác dụng ức chế đối với nhiều loại vi khuẩn và tác dụng gây tê cục bộ, làm cho giảm đau, giảm ngứa tốt.

Nếu tay chân bị nứt nẻ lại còn nóng, đau thì dùng phương “Tam vật hoàng cẩm thang”.

Trong phương gồm hoàng cầm 6g, khổ sâm 12g, cao đại hoàng 24g. Cho cả 3 vị thuốc trên sắc nhỏ lửa, kỹ, rồi chắt lấy nước để dùng. Ngày dùng 1 thang chia ra làm 3 và uống nước thuốc trước bữa ăn.

Trong phương cao đại hoàng có công năng thanh nhiệt lương huyết, sinh tân, bổ ích âm dương. Hoàng cầm có tác dụng tả hỏa, giải độc, lợi tiểu. Khổ sâm khu phong sát khuẩn. Cả 3 vị hợp lại càng tăng công hiệu thanh nhiệt, lương huyết, dưỡng huyết, khu phong, trừ thấp khiến đẩy lùi khỏi chứng thấp nhiệt uất kết ở da thịt, tay chân bị nứt nẻ nóng đau.

Theo Bs. Hoàng Xuân Đại
SKĐS

Bài thuốc dân gian trị đau răng

Có rất nhiều nguyên nhân gây đau nhức răng như sâu răng, viêm lợi, nướu răng,… Người bệnh cần khám tại cơ sở y tế chuyên khoa để xác định nguyên nhân và điều trị triệt để. Trong quá trình điều trị để răng đỡ đau và đạt kết quả nhanh có thể dùng một số bài thuốc đơn giản sau:

Bài 1: Quả vải phơi khô 20g, rễ lá lốt 20g, đổ một bát nướcsắc lấy nước đặc. Ngậm nhiều lần trong ngày.

Bài 2: Lá trầu không, củ nghệ vàng, búp bàng, mỗi thứ 50g. Rửa sạch, giã nhỏ, ngâm với rượu. Khi dùng đem đun cách thuỷ (đậy kín nút chai để rượu không bay hơi) cho sôi 30 phút rồi lấy ra để nguội. Ngậm (súc miệng) trong 5 – 10 phút hay dùng bông thấm thuốc bôi vào chỗ đau, sau nhổ nước thuốc đi. Hoặc lấy vài lá trầu không, rửa sạch, thêm ít muối, giã nhỏ, hoà vào một chén rượu. Gạn lấy nước trong để ngậm liên tục tới khi giảm đau nhức.

nghe-vang

Bài 3: Vỏ thân cây gạo 50g, thạch xương bồ 50g, sắc lấy nướcđặc để ngậm. Trước khi ngậm cho thêm vài hạt muối.

Bài 4: Vỏ trắng của cây ruối 100g, rượu 100ml. Cạo vỏ ngoài,thái nhỏ cho vào rượu ngâm, ngày ngậm 4 – 5 lần, dùng trong 2 – 3 ngày liềnhoặc sắc nước lá ruối hòa với một ít muối để súc miệng.

Bài 5: Hoa tươi của cây cúc áo 50g hoa ngâm với 300ml rượu trắng. Ngâm trong 10 – 15 ngày là được. Khi bị đau răng ngậm một ít rượu này trong vài phút, sau đó nhổ đi và súc miệng sạch. Ngày ngậm 5 – 10 lần.

Bài 6: Nhân hạt gấc nướng chín vàng, tán bột, trộn với một ít dấm thanh, chấm vào chỗ răng đau. Chỉ cần chấm vài lần vào buổi chiều là đêm hết đau và có thể ngủ được.

Bài 7: Vỏ thân cây trám trắng, cạo bỏ lớp vỏ ngoài, rửa sạch, phơi khô, lấy 50g thái mỏng, sắc lấy nước đặc, ngậm nhổ nước. Ngày làm nhiều lần.

Bài 8: Lấy rễ lá lốt, rửa thật sạch, giã nát với mấy hạt muối, vắt lấy nước cốt, dùng bông sạch chấm vào răng đau, ngậm 2 – 3 phút rồi súc miệng bằng nước muối. Ngày chấmthuốc 3 – 5 lần.

Bài 9: Vỏ thân cây sao đen 100g, cạo bỏ lớp bẩn thô bênngoài, rửa sạch, thái mỏng, sắc đặc, ngậm khi răng đau. Có thể phối hợp hai vịlá lốt và sao đen, 2 vị bằng nhau, sắc đặc, ngậm khi răng đau nhức, tác dụnggiảm đau nhanh hơn.

Theo Bác sĩ Thu Vân
SKĐS

Dưa hấu – Món ăn ngon, thanh nhiệt, giải thử

Dưa hấu là loại quả bổ và ngon, dễ ăn, rất thích hợp trong những ngày hè oi bức. Dưa hấu cung cấp cho cơ thể một lượng nước khá lớn cùng nhiều vitamin A, B, C và các nguyên tố vi lượng Ca, Fe, Mg, P… Thịt quả phần bầu trắng, lớp vỏ xanh và hạt dưa hấu đều là những vị thuốc chữa nhiều bệnh, đặc biệt nước ép dưa hấu chữa say nắng nóng rất hiệu quả.

Theo Đông y, dưa hấu có vị ngọt, tính hàn; vào tâm, vị, bàng quang. Vỏ quả có vị ngọt tính mát; vào kinh tâm và vị. Hạt dưa vị ngọt tính bình. Dưa hấu có tác dụng thanh nhiệt giải thử, trừ phiền chỉ khát, lợi thủy. Dùng cho các trường hợp say nắng, say nóng gây sốt nóng mất nước, trạng thái tinh thần kích ứng, miệng khô, họng khát, tiểu ít, đái buốt, đái dắt. Dưa hấu có tác dụng thanh giải nóng nực, lợi niệu. Hạt vị ngọt, tính lạnh; tác dụng hạ nhiệt, lợi tiểu, hạ huyết áp, tăng sinh lực.

Cách dùng dưa hấu làm thuốc:

Giải nắng nóng:

Dưa hấu bổ ra ép lấy nước khoảng 250ml, uống. Dùng cho người bệnh miệng khô nứt, khát nước, trạng thái kích thích thần kinh.

Vỏ quả dưa hấu 20g, lá sen tươi 12g, kim ngân hoa tươi 16g, hoa biển đậu tươi 12g, ty qua bì 12g, trúc diệp tươi 12g. Sắc uống. Trị nóng nực ra mồ hôi nhiều, đầu váng, mắt hoa đau nhức.

Nước ép dưa hấu liều lượng tùy ý, uống rải rác trong ngày. Dùng cho các trường hợp loét miệng, viêm họng.

Thanh nhiệt, lợi niệu: Dùng cho chứng thấp nhiệt hoàng đản, bụng báng nước, tiểu tiện nóng rát không thông.

Bột tây qua: tây qua, sa nhân, tỏi. Bổ quả dưa ra lấy phần bầu trắng, cho sa nhân, tỏi vào trong, trát đất kín, phơi cho khô, lại sấy khô. Loại bỏ bùn đất, tán nhỏ. Ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 4g, uống với nước ấm. Trị báng nước.
dua-hau-thanh-nhiet
Món ăn – bài thuốc có dưa hấu:

Vỏ dưa 40g, mạch nha 20g, ý dĩ 20g nấu thành cháo đặc. Ăn trong ngày, liền 5 – 7 ngày. Thích hợp cho người mùa hè ăn uống kém, tiêu hóa không tốt, đầy bụng, người mệt mỏi.

Nước sắc tỏi, dưa hấu: dưa hấu 1 quả, tỏi 30 – 60g.  Khoét một miếng tạo ra lỗ hổng, cho tỏi đã bóc vỏ vào, đặt miếng dưa vừa khoét cho kín, cho vào nồi đun cách thủy, lấy ra ép lấy nước uống. Dùng cho bệnh nhân xơ gan cổ trướng, viêm thận cấp và mạn.

Tây qua bì thang: dưa hấu (lấy phần vỏ, bỏ ruột đỏ) 60g, diếp cá 30g, rau mướp 30g nấu canh, thêm gia vị ăn. Dùng cho trường hợp viêm tắc mũi dạng viêm khô. Liên tục 3 – 5 ngày.

Nước ép dưa hấu: nước ép dưa hấu (chủ yếu phần cùi) 200ml để sẵn. Chi tử 12g, xích thược 2g, hoàng liên 2g, cam thảo 2g sắc lấy nước, cho nước ép dưa hấu vào, thêm chút ít đường phèn khuấy tan, uống dần ít một, ngậm trong miệng khoảng vài phút trước khi nuốt. Liên tục trong ngày. Dùng cho bệnh nhân viêm họng loét miệng.

Dưa hấu xào cà rốt: tây qua bì (lớp vỏ xanh) 300g, cà rốt 200g, gừng tươi 15g. Tây qua bì thái lát; cà rốt thái lát, gừng tươi đập giập, xào với dầu thực vật, thêm gia vị. Ăn thành bữa phụ hoặc trong bữa chính. Ngày 1 lần, đợt dùng 7 – 10 ngày. Dùng cho các bệnh nhân viêm xoang, tắc ngạt mũi có đờm vàng đục, có thể lẫn tia huyết.

Vỏ quả phơi khô, đốt thành than, tán bột ngậm chữa miệng lở loét, hôi.

Kiêng kỵ: Người tỳ vị hư hàn, có bệnh hàn thấp kiêng dùng.

Theo sức khỏe đời sống

Món ăn phòng chống bệnh gút

Trong y học cổ truyền không có bệnh danh “bệnh gút” nhưng đối chiếu với các triệu chứng lâm sàng thì căn bệnh này thuộc phạm vi “thống phong” trong Đông y.

Về nguyên nhân, bệnh do ngoại tà xâm nhập cơ thể gây nghẽn tắc kinh lạc, khí trệ huyết ứ tại các khớp gây đau làm hạn chế vận động. Bệnh bắt đầu ở cơ biểu, kinh lạc sau vào cân cốt gây tổn thương các tạng phủ. Chức năng của khí huyết, tân dịch rối loạn gây ứ trên thành đàm, đàm ứ kết mà tạo thành các cục quanh khớp, dưới da. Bệnh tiến triển lâu ngày gây tổn thương can thận. Về điều trị, thống phong được coi thuộc phạm vi “chứng tý”, chia ra làm nhiều thể bệnh khác nhau để biện chứng luận trị. Phương pháp dùng ăn uống để trị liệu căn bệnh này cũng được cổ nhân hết sức coi trọng. Dưới đây, xin được giới thiệu một số ví dụ điển hình:
chong-gut
– Rau cải trắng 250g xào với dầu thực vật 20g, ăn hàng ngày, thích hợp với giai đoạn điều trị củng cố.

– Cà dái dê tím 250g rửa sạch, luộc chín, thái thành miếng, cho thêm xì dầu, dầu vừng, muối và gia vị vừa đủ, trộn đều, ăn cách nhật.

– Khoai tây 250g, dầu thực vật 30g. Rán khoai tây rồi trộn với xì dầu, muối và gia vị, ăn trong ngày. Dùng rất tốt khi bệnh tái phát.

– Củ cải 250g thái chỉ, dầu thực vật 50g. Củ cải rán qua với dầu rồi cho thêm bá tử nhân 30g, nước 500ml đun chín, chế đủ gia vị, ăn trong ngày.

– Măng tre 250g xào với 30g dầu thực vật, cho thêm muối và gia vị, ăn hàng ngày.

– Củ cải 250g thái chỉ rán qua với 30g dầu thực vật rồi cho thêm 750ml nước, 30g gạo tẻ nấu thành cháo, ăn hằng ngày.

– Hạt dẻ tán thành bột 30g, gạo nếp 50g nấu với 750 ml nước thành cháo ăn hàng ngày.

– Rau cần 100g (để cả rễ) rửa sạch thái nhỏ, gạo tẻ 30g nấu với 750ml nước thành cháo, chế đủ gia vị ăn trong ngày.

– Nho tươi 30g, gạo tẻ 50g nấu thành cháo ăn hàng ngày, dùng rất tốt trong giai đoạn cấp tính.

– Dâu tây (thảo mai) 80g rửa sạch bỏ cuống ép lấy nước, pha thêm đường phèn và nước đun sôi để nguội (khoảng 100ml) uống trong ngày.

– Khoai tây 300g, cà rốt 300g, dưa chuột 300g, táo tươi (loại táo quả to) 300g. Tất cả rửa sạch, thái miếng ép lấy nước, pha thêm một chút mật ong uống trong ngày.

– Quýt 200g, cà rốt 300g, táo 400g, lô hội 60g. Tất cả rửa sạch, ép lấy nước pha thêm mật ong uống hàng ngày.

– Cương tàm 250g, đậu đen 250g, rượu trắng 1.000ml. Đậu đen sao cháy ngâm trong rượu cùng với cương tàm, sau 5 ngày dùng được, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 20ml.

– Độc hoạt 40g, bạch tiên bì 15g, khương hoạt 30g, nhân sâm 20g, rượu trắng vừa đủ. Các vị thuốc rửa sạch, sấy khô tán vụn. Mỗi lần dùng lấy 10g bột thuốc, 7 phần nước, 3 phần rượu, đun cạn còn 7 phần, bỏ bã lấy nước uống hàng ngày.

– Tang ký sinh 200g, đậu đen 250g, rượu trắng 1.500ml. Các vị thuốc sấy khô sao thơm, tán vụn ngâm trong rượu cùng một chút mật ong sau 5 ngày thì dùng được, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 15ml.

– Độc hoạt 60g, đậu tương 500g, đương quy 10g, rượu trắng 1.000ml. Tất cả sấy khô, sao thơm, tán vụn ngâm trong rượu, cho thêm mật ong uống mỗi ngày 2 – 3 lần, mỗi lần 10 – 15ml.

Thạc sĩ Hoàng Khánh Toàn

Theo sức khỏe đời sống

Bài thuốc trị say nắng

Say nắng là bệnh thường gặp mùa hè nắng nóng. Đông y thường gọi cảm nắng, trúng nắng. Khi say nắng thường biểu hiện người nóng sốt, da ửng đỏ, đổ mồ hôi, miệng khát, tiểu vàng ít, đau đầu chóng mặt, thở mệt tim đập nhanh bệnh nặng có khi choáng ngất.

Bệnh thường gặp ở người hư nhược, dễ ra mồ hôi, người có tiền sử bệnh ngoại cảm, tim mạch, huyết áp, đái tháo đường. Nguyên nhân phần nhiều do làm việc, đi chơi ngoài nắng nóng lâu mất nước. Phòng trị say nắng nên ăn uống bổ dưỡng giải nhiệt. Sau đây là một số món ăn nước uống có tác dụng phòng trị say nắng:
Mon-an-bai-thuoc-phong-tri-say-nang
Chè đậu ván: đậu 300g ngâm nước nóng qua đêm bỏ vỏ ngoài, bột sắn dây 30g, lá dứa nếp 20g, giã lọc lấy nước, đường cát vừa đủ nấu chè ăn. Tác dụng: bổ tỳ, lợi thấp hòa trung, trị trúng nắng phát sốt người vật vã…

Chè đậu đen: đậu đen xanh lòng 300g, đường cát vừa đủ nấu chè ăn. Tác dụng bổ huyết, thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu…

Cháo đậu xanh: đậu xanh 200 – 300g còn nguyên vỏ, cà dập, nấu nhừ ăn cho thêm muối đường ăn. Tác dụng:  thanh nhiệt, giải khát, trừ phiền nhiệt, lợi ngũ tạng…

Canh cà chua: cà chua 2 – 3 trái, trứng gà 1 quả, hành gia vị vừa đủ nấu canh ăn. Tác dụng: dưỡng âm, mát huyết, thanh nhiệt, giải nắng nóng…

Canh khoai mỡ: khoai mỡ tím 100g, thịt tôm lột 50g, rau ngổ 20g thêm bột nêm, mắm muối vừa đủ nấu canh ăn.

Canh giá đậu: giá đậu 200g, cà chua 1 quả, đậu hủ 30g, thịt heo 20g, hành hoa 10g gia vị mắm muối vừa đủ nấu canh ăn. Cho thịt, cà chua vào xào chín thơm, đổ nước vào đun sôi, đậu hủ, giá đỗ cho sau, thêm gia vị đun sôi trở lại là được. Tác dụng: bổ âm, dưỡng huyết, thanh nhiệt, giải nắng nóng…

Canh rau thập tàng: rau ngót, rau đay, mồng tơi, mảnh bát mỗi thứ 50g, thịt cua đồng 100g  nấu canh. Tác dụng: bổ âm, sinh tân dịch, thanh nhiệt, tiêu độc, giải thử thấp…

Cháo bột sắn dây: bột sắn 50g, gạo ngon 100g, thịt heo bằm 50g (cách nấu nấu cháo với thịt chín, sau cho bột sắn gia vị vào sau). Tác dụng: bổ dưỡng, giải khát, giải nóng.

Cháo mướp đắng: mướp đắng 1 – 2 quả thái lát, cúc hoa 30g, gạo ngon 100g, thêm gia vị vừa đủ nấu nhừ ăn cả cái lẫn nước. Tác dụng: thanh nhiệt, trừ phiền nhiệt, mát huyết, sáng mắt…

Ngoài ra, có thể sử dụng một số nước uống như: nước mía, nước dưa hấu, nước rau má, nước chanh, nước trái khế, nước trà đường và các loại nước trái cây tươi đều tốt. Nếu còn đau đầu nhiều dùng lá hương nhu, hoặc hoắc hương 100g rửa sạch giã nhỏ thêm chén nước chín vắt lấy nước bỏ bã uống ngày vài lần. Nếu người vẫn nóng sốt miệng khô khát dùng lá tre tươi 100g, vỏ dưa hấu 200g, gạo tẻ 100g nấu nước uống.

Lương y Minh Phúc

Theo sức khỏe  đời sống

Những món ăn trị bất lực

Bất lực hay là tình trạng suy giảm khả năng tình dục ở nam giới. Đây là vấn đề tế nhị và nhạy cảm nên đàn ông thường giấu kín và âm thầm chịu đựng. Chứng bất lực ở nam giới có nhiều biểu hiện: hoặc dương vật không cương cứng do không ham muốn, hoặc có ham muốn nhưng không “lên” được, hay có thể cương khi được kích thích nhiều, nhưng sau đó nhanh chóng trở lại như cũ. Bạn hãy sử dụng các món ăn bài thuốc dưới đây chắc chắn sẽ rất hiệu quả:

Bài 1: Nhục thung dung 20g, thận dê 1 quả. Thận dê làm sạch sau đó thái mỏng ướp mắm muối rồi cho nhục thung dung vào, đổ nước vừa phải, hầm cách thủy 1 tiếng. Món ăn bổ thận khí, ích tinh huyết, tráng dương. Ai bị “yếu khoản ấy”, mỏi gối, đau lưng, tiểu tiện ban đêm nhiều lần do thận hư nên ăn món này. Cần ăn từ 7-14 ngày.

Bài 2: Tôm he 250g rửa sạch ngâm vào rượu gạo 30 phút rồi lấy ra xào với dầu gừng trên ngọn lửa mạnh, thêm gia vị phù hợp ăn với cơm, món ăn này bổ thận tráng dương, cần ăn 7-14 ngày.
bat-luc
Bài 3: Gan dê 200g, rau hẹ 200g. Gan dê thái mỏng, cho dầu vừng vào xào với rau hẹ. Khi xào dùng ngọn lửa mạnh, lúc chín cho gia vị vừa đủ, ăn với cơm, ăn liền 7 ngày. Tác dụng ôn thận, cố tinh, ích huyết, dưỡng gan cơ thể cường tráng, sinh lực dồi dào.

Bài 4: Khởi tử 50g, dương vật bò 1 bộ. Dương vật bò rửa sạch, thái nhỏ cho vào nồi đất, đổ ít rượu trắng và khởi tử vào rồi hầm cách thủy. Tác dụng: bổ thận tráng dương, chữa di tinh, tiểu đêm nhiều lần, người già suy nhược. Cần ăn liên tục 7 ngày.

Bài 5: Thận dê 1 đôi, cà dê 1 cái, nhục thung dung 15g, khởi tử 15g, ba kích 15g, sơn dược 15g, thục địa 15g, táo tàu 15g. Cho vào nồi đất hầm cách thủy 1 tiếng. Tác dụng: ích tinh, bổ huyết, tráng dương, bổ thận khí, cơ thể cường tráng, tăng cường trí nhớ.

Bài 6: Hải mã 10g, tơ hồng 15g, sơn dược 15g, thục địa 15g, dâm hương hoắc 15g. Sắc đặc uống 7 ngày, mỗi ngày 1 thang. Tác dụng: bồi bổ thận khí, chữa bệnh cương kém, tiểu đêm nhiều lần.

Bài 7: Cá chép một con 1kg, vừng đen 1,5kg, gạo nếp 0,5kg. Nấu cháo, ngày ăn 1 lần, ăn liên tục 7 ngày. Tác dụng bổ thận tráng dương, mạnh khỏe, trẻ trung lâu dài.

Nguồn sức khỏe đời sống

Dùng sả trị bệnh

Hầu như quanh nhà ở vùng nông thôn đều có trồng một số bụi sả để bình thường dùng làm gia vị và dùng để xông giải cảm, diệt muỗi quanh nhà…  sả còn nhiều tác dụng khác mà chúng ta chưa biết đến, trong đó có công dụng làm thuốc trị bệnh.

Mô tả cây

Cây sả còn được gọi là cỏ sả, hương mao, tên khoa học là Cymbopogon citratus (DC.) Stapf., thuộc họ Lúa (Poaceae).

Dung-sa-lam-thuoc

Sả có vị đắng, tính ấm, mùi thơm, tác dụng đánh tan mùi hôi thối, trừ tà khí, giải cảm hàn thấp, nóng sốt, trị đau bụng lạnh, nôn mửa.

Người ta trồng sả để lấy thân rễ làm gia vị ăn sống, làm dưa, ướp thịt cá. Lá sả dùng nấu nước gội đầu, thường phối hợp với một số cây có tinh dầu khác (bạc hà, kinh giới, lá chanh, ngải cứu, lá buởi…) để nấu nước xông giải cảm.

Sả còn được dùng để cất tinh dầu. Củ sả chứa 1 – 2% tinh dầu màu vàng nhạt, thơm mùi chanh mà thành phần chủ yếu là citral (65 – 85%), geraniol (40%). Mỗi lần dùng 3 – 6 giọt pha trong sữa và nước thành nhũ tương, có tác dụng thông trung tiện, chống nôn, giảm đau, chữa đầy bụng, đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy.

Dùng ngoài, tinh dầu sả phối hợp với nhiều loại tinh dầu khác để xoa bóp làm giảm đau xương, đau mình, nhức mỏi. Bôi trên da hoặc phun trong nhà, dầu sả là thuốc diệt muỗi, bọ chét.

Kinh nghiệm dùng sả điều trị một số bệnh

Ngăn ngừa ung thư: một số nghiên cứu cho thấy mỗi 100g sả chứa đến 24,205µg beta-carotene, những chất chống oxy hóa mạnh mẽ có thể giúp ngăn ngừa ung thư. Năm 2006, một nhóm nghiên cứu do giáo sư Yakov Weinstein và bác sĩ Rivka Ofir thuộc Đại học Ben Gurion (Negev- Israel) cho thấy trong cây sả có chất citral, một hợp chất chính có tác dụng “tiêu diệt các tế bào chết trong các tế bào gây ung thư và giữ lại tế bào bình thường. Cũng theo nghiên cứu này, nồng độ citral có trong sả cũng tương đương với một tách trà. Uống nước sả tươi làm cho tế bào ung thư tự tiêu hủy, uống một liều lượng nhỏ chừng 1g cây sả tươi chứa đủ chất dầu làm cho tế bào ung thư tự tử trong ống nghiệm. Với những người đang chữa bệnh bằng tia xạ thì mỗi ngày uống 8 ly cây sả tươi trụng với nước sôi.

Cải thiện hệ thần kinh: tinh dầu sả được sử dụng để tăng cường và cải thiện các chức năng của hệ thần kinh, thông kinh lạc. Nó hỗ trợ trong điều trị một số rối loạn của hệ thần kinh như bệnh Alzheimer, bệnh Parkinson, co giật, căng thẳng, chóng mặt, run rẩy chân tay, động kinh…

Giúp tiêu hóa: trà từ cây sả và tinh dầu sả (có thể uống 3 – 4 giọt với nước đun sôi để nguội) có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa kém, ăn chậm tiêu, đầy bụng, buồn nôn, nôn mửa, kích thích trung tiện, đau dạ dày, nóng trong, co thắt ruột, tiêu chảy. Nhờ có khả năng thư giãn các cơ dạ dày, trà hoặc tinh dầu sả không chỉ giúp loại bỏ khí từ ruột, mà còn ngăn ngừa sự đầy hơi, kích thích tiêu hóa, khử hôi miệng, tiêu đờm. Uống 3 – 6 giọt tinh dầu chữa đau bụng đầy hơi.

Giải độc: ăn sả cũng có tác dụng giải độc cơ thể bằng cách tăng cường số lượng và tần suất đi tiểu (thông tiểu tiện). Điều này giúp cho gan, đường tiêu hóa, tuyến tụy, thận và bàng quang được sạch sẽ và khỏe mạnh bằng cách hỗ trợ cơ thể để loại bỏ các chất độc hại không mong muốn và acid uric qua đường tiểu bài tiết ra ngoài.

Giải độc rượu: dùng 1 bó sả giã nát, thêm nước lọc, gạn lấy 1 chén, uống hết. Người say rượu uống vào sẽ nhanh chóng tỉnh và đỡ mệt, đỡ nhức đầu.

Giảm huyết áp: bổ sung các tinh chất có trong sả sẽ có hiệu quả trong việc giảm huyết áp. Nó làm tăng tuần hoàn máu và giúp giảm bớt tất cả các vấn đề của huyết áp. Uống một ly nước trái cây có sả có thể làm giảm huyết áp đáng kể.

Giảm đau: tinh chất sả có thể làm giảm đau tất cả các loại viêm và các cơn đau nhức. Vì vậy, nếu bị đau răng, đau cơ, đau khớp hay đau ở các bộ phận khác, hãy uống trà sả vì chắc chắn nó sẽ hữu ích cho bạn.

Hỗ trợ da: chất sả là một nguyên liệu không thể thiếu trong ngành công nghiệp mỹ phẩm vì nó có rất nhiều lợi ích cho da. Tinh dầu sả cải thiện chất lượng da như giảm mụn trứng cá và mụn nhọt. Nó cũng có tác dụng làm săn chắc các cơ và các mô trong cơ thể.

Tốt cho tóc: phụ nữ thường nấu nước sả để gội đầu cho trơn tóc, sạch gầu, ít rụng tóc và có thể tránh được một số bệnh về tóc.

Trị ho do cảm lạnh, cảm cúm: củ sả 40g, gừng tươi 40g. Hai thứ rửa sạch, giã nát, nấu với 650ml nước, sôi khoảng 10 phút, bỏ bã, thêm đường vào nấu cô lại thành cao, ngậm nuốt dần trong ngày.

Trị cảm sốt do phong hàn, nhức đầu, không ra mồ hôi: lá sả, lá chanh, lá bưởi, hương nhu, húng chanh, bạc hà, ngải cứu, kinh giới… một lần dùng 4 – 6g mỗi loại nấu nước xông cho ra mồ hôi.

Giải cảm:

– Kinh giới, tía tô, trắc bách diệp, bạc hà, chanh, ngải cứu, lá tre, lá ổi (mỗi nồi dùng 5 loại lá)… đun sôi, dùng để xông giải cảm rất hiệu nghiệm.

– 15 – 30g củ sả hoặc lá tươi nấu nước xông.

– Lá sả, lá tía tô, lá kinh giới, lá ngải cứu, thêm 3 – 4 củ tỏi (thiếu một thứ cũng không được), nấu nước xông sẽ trị được nhức đầu (do thời tiết).

– Lá sả, lá tre, lá bưởi (hoặc lá chanh), lá tía tô, lá ổi, nấu nước xông, trước khi xông nên múc sẵn một chén để riêng, xông xong uống rồi đắp chăn mằm một lúc sẽ đỡ.

Giảm cảm giác buồn nôn khi có thai: củ sả băm nhỏ hãm với nước sôi uống hàng ngày.

Giải nhiệt, thông tiểu, tiêu thực: lá sả tươi 30 – 40g nấu với 1 lít nước, đun sôi khoảng 5 phút, uống.

Trị nhức đầu: lá sả, lá tía tô, lá kinh giới, lá ngải cứu với vài củ tỏi nấu nước xông.

Trị ho: rễ sả, trần bì, sinh khương, tô tử, mỗi vị 250g (4 vị này giã nát, ngâm rượu 40oC vừa đủ để được 200ml); bách bộ bỏ lõi, thái nhỏ, sao khô 500g; mạch môn bỏ lõi 300g; tang bạch bì tẩm mật, sao vàng 200g (3 vị này sắc và cô đặc lại thành 300ml cao lỏng), trộn lẫn cao lỏng và rượu thuốc, ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 10ml.

Sạch răng miệng: củ sả non rửa thật sạch, xắt nhỏ, phơi hoặc sấy khô, tán bột, mỗi lần dùng 10g, ngâm với nước nóng, dùng để súc miệng.

Trị đau răng: sắc sả lấy nước súc miệng hàng ngày.

Trị hôi nách: củ sả, giã nát, hợp với phèn phi, bôi ngày 1 lần. Dùng liên tục 7 – 10 ngày giúp cải thiện mùi hôi đáng kể.

Trị ăn uống không tiêu, đầy bụng:   củ sả giã nát, ép lấy nước cốt, phối hợp với mạch nha uống.

Trị đau dạ dày, tiêu chảy do lạnh:  củ sả 12g, gừng nướng sém vỏ ngoài 6 – 12g, củ riềng (sao) 12g, hương phụ (sao) 12g, sắc với 750ml nước, còn 300ml, chia 2 lần uống trước bữa ăn.

Trị tiêu chảy:

– Rễ sả 10g; củ gấu, vỏ rụt, mỗi vị 8g; vỏ quít, hậu phác, mỗi vị 6g; sắc uống.

– Rễ sả 10g, búp ổi 8g, củ riềng già 8g, thái nhỏ, sao qua, sắc đặc uống.

Trị đau khớp:tinh dầu sả trộn với dầu dừa bôi vào chỗ đau hoặc sưng.

Trị phù nề chân, tiểu ít, thấp thũng: lá sả 100g, rễ cỏ xước, rễ cỏ tranh hoặc bông mã đề, mỗi thứ 50g. Rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày. Dùng 3 – 4 ngày.

Trị hai chân tự nhiên phù: củ sả 12g, lá và bông mã đề 12g, sắc uống thay nước trà.

Nguồn sức khỏe đời sống

Y học cổ truyền trị loãng xương

Theo quan niệm của y học cổ truyền (YHCT), biểu hiện của loãng xương được mô tả trong phạm vi chứng hư lao. Là tên gọi chung của cả ngũ lao, thất thương và lục cực… mà cụ thể là Thận lao hay Cốt cực. Để điều trị bệnh này, YHCT chia làm 3 thể: Khí huyết hư, Thận âm hư và Thận dương hư.

Thể Khí huyết hư: Ngoài các triệu chứng đau nhức vùng cột sống thắt lưng, cột sống cổ, khớp gối…, người bệnh có các triệu chứng như: mệt mỏi, uể oải thường xuyên, ăn ngủ kém, ngại nói, thích nằm, chóng mặt, sắc mặt nhợt nhạt, rối loạn kinh nguyệt. Nếu nặng, người bệnh có thể bị sa trực tràng, sa tử cung… và thường có biểu hiện: Lưỡi nhợt, đóng rêu trắng, mạch trầm nhược (chìm và yếu). Cách trị chủ yếu là điều bổ khí huyết. Người bệnh có thể dùng một trong hai bài thuốc sau:

y_hoc_co_truyen_tri_loang_xuong

Bài 1: Bổ trung ích khí thang (có thể gia giảm tùy thể trạng từng người), gồm các vị: nhân sâm 15g; huỳnh kỳ 15g; bạch truật 10g; bạch linh 15g; đương quy 15g; thăng ma 15g; sài hồ 10g; trần bì 10g; hoài sơn 15g; đại táo 15g; cam thảo 10g

– Cách dùng: Sắc uống ngày một thang, nên uống trước khi ăn 30 phút và khi thuốc còn ấm.

Bài 2: Thập toàn đại bổ. Gồm các vị: nhân sâm15g, đương quy 10g, bạch truật 5g, xuyên khung10g, bạch linh 5g, thục địa 15g, cam thảo 10g, bạch thược 10g, huỳnh kỳ 5g , nhục quế10g.

– Cách dùng: Sắc uống mỗi ngày một thang, nên uống trước khi ăn 30 phút và khi thuốc còn ấm.

Thể Thận âm hư: Ngoài triệu chứng đau nhức như trên, bệnh nhân còn có các triệu chứng như sốt hâm hấp về chiều, đau mỏi lưng âm ỉ, cảm giác nóng trong người, thỉnh thoảng có cơn nóng phừng mặt, ngũ tâm phiền nhiệt (nóng ở lòng bàn tay, bàn chân và cảm giác nóng vùng trước ngực), đổ mồ hôi trộm. Người bệnh còn các biểu hiện như: lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch trầm tế sác.

Cách trị: Dùng bài thuốc bổ thận, ích tinh, tư âm, dưỡng huyết. Dùng bài thuốc: lục vị địa hoàng hoàn gia vị: thục địa 32g, hoài sơn 16g, sơn thù 16g, đơn bì 8g, bạch linh 8g, trạch tả 8g, đơn sâm 12g, đương quy 12g, bạch thược 8g.

– Cách dùng: Sắc uống ngày một thang, uống trước khi ăn 30 phút khi thuốc còn ấm.

Thể thận dương hư: Ngoài các triệu chứng đau nhức xương như trên, bệnh nhân cảm thấy luôn mệt mỏi, ớn lạnh, tay chân lạnh (thường có cảm giác lạnh từ đầu gối và hai khuỷu tay trở ra), tự đổ mồ hôi, ngũ canh tả (thường đi tiêu phân lỏng hoặc hơi sệt lúc sáng sớm). Lưỡi nhợt, rêu trắng, mạch trầm nhược. Cách trị: Bổ thận, trợ dương.

Bài thuốc: Hữu quy hoàn: thục địa 32g, hoài sơn 16g, sơn thù 16g, câu kỷ tử 16g, đỗ trọng 16g, thỏ ty tử 16g, lộc giác giao 16g, đương quy 16g, nhục quế 4g, phụ tử chế: 4g.

– Cách dùng: Sắc uống ngày một thang, uống trước khi ăn 30 phút, khi thuốc còn ấm.

Nếu bạn đang điều trị bằng thuốc tây có thể kết hợp với việc sử dụng thuốc Y học cổ truyền, nhưng nên đến khoa Y học cổ truyền tại các bệnh viện để được khám, tư vấn và chữa trị phù hợp.

Bác sĩ Vũ Đình Quỳnh
Theo SKĐS

Món ăn giúp chàng tăng sức lực

Không phải nam giới nào cũng nhiệt tình với chuyện ấy. Nhiều người khi được đối tác đề cập thì cảm thấy bất an. Không phải họ “chê” mà chính cơ thể không cho phép, nhất là “cậu nhỏ” lại ủ rũ. Đông y dường như đã hiểu thấu những tâm sự khó nói này nên có những món ăn, bài thuốc hữu hiệu.

Gan lợn nấu trứng gà: gan lợn 200g, trứng gà 1 quả, rượu, gia vị, nước xương hầm, gừng đủ dùng. Gan lợn rửa sạch băm nhỏ, quấy đều với lòng trắng trứng, nước xương, gia vị, hành, gừng rồi cho vào 1 bát tô, đặt vào nồi hấp cách thủy. Ăn trong vòng 1 tháng, cách ngày ăn 1 lần. Gan lợn tươi có chứa nhiều chất tổng hợp các axít amin, vitamin cần thiết cho cơ thể. Trứng gà có chứa protid, các chất dinh dưỡng có tác dụng bình can tiềm dương, thanh hỏa tức phong. Thích hợp với những người giao hợp bị chóng mặt, hay bị khó chịu, buồn nôn, mồ hôi nhiều.
Hà thủ ô, trứng gà, táo đỏ: hà thủ ô 20g, câu kỷ tử 20g, táo đỏ 10 quả, trứng gà 2 quả. Cho các thứ trên vào nồi, đun đến khi trứng chín, bóc vỏ trứng ra sau đó lại cho vào nước thuốc đun tiếp tới khi còn 1 bát con nước thì tắt bếp. Bỏ bã thuốc, ăn trứng và uống nước thuốc. Món ăn này có tác dụng tư dưỡng can thận, tăng cường sức đề kháng, chống lão hóa, chứa các axít amin, các vitamin… Những người hay bị chóng mặt, giảm trí nhớ, rụng tóc, đau xương khớp, ít có nhu cầu sinh hoạt tình dục dùng là hợp lý.

mon-an-giup-chang-tang-sinh-luc

Chim cút hầm đỗ trọng, sơn dược: chim cút 2 con, đỗ trọng 40g, táo đỏ 5 quả, sơn dược 80g, câu kỷ tử 20g, gừng tươi, gia vị đủ dùng. Chim cút làm sạch lông, bỏ nội tạng, rửa sạch để ráo nước. Táo đỏ bỏ hạt, cùng các vị thuốc khác rửa sạch. Cho tất cả vào nồi đổ nước hầm tới khi chim cút chín nhừ là dùng được. Các vị thuốc trên đều có tác dụng bổ gan thận, kiện gân cốt. Những người bị vô sinh, khó có con, tinh hoàn nhỏ, xuất tinh yếu dùng là tốt nhất.

Bs. Đào Sơn

Theo SKDS