Tag Archives: ảo giác

Bùng phát dịch dại vào mùa hè

Bộ Y tế khuyến cáo, tay chân miệng là bệnh truyền nhiễm do virút gây ra và có thể gây thành dịch lớn. 6 thông điệp dưới đây sẽ giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về dịch bệnh này và các biện pháp phòng chống:

Theo báo cáo của Bộ Y tế trình Chính phủ, thống kê từ 10 tỉnh: Thanh Hóa, Yên Bái, Tuyên Quang, Sơn La, Phú Thọ, Lào Cai, Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Ngãi, Quảng Nam, trong 4 tháng đầu năm 2014, có 14 người mắc bệnh dại đã tử vong. Dại là bệnh truyền nhiễm từ chó, mèo lây sang người qua vết cắn, nếu đã phát bệnh thì tỷ lệ tử vong là 100%. Bệnh đã xuất hiện ở nhiều tỉnh, đang có xu hướng gia tăng. Làm thế nào để phòng chống và ngăn chặn bệnh dại?

Bệnh dại lây truyền từ chó mèo sang người qua vết cắn

bung-phat-dich-dai-vao-mua-he
Các loài động vật dễ bị bệnh dại là chó, mèo, lừa, ngựa, bò, cừu, lợn, chồn, cáo, dơi… Virut dại có trong nước bọt của động vật bị dại, lây bệnh cho người hay động vật khác qua vết cắn, vết cào, vết liếm (sau đây gọi chung là vết cắn) nhưng không bao giờ lây qua được da lành.

Sau khi xâm nhập vào cơ thể người qua vết cắn, virut theo dây thần kinh lên não với vận tốc khoảng 3mm/giờ, gây tổn thương thần kinh trung ương. Virut nhân lên trong não, rồi di chuyển theo thần kinh đến các cơ quan như tuyến nước bọt, thận, phổi, tim, gan… Ở tuyến nước bọt, virut nhân lên số lượng lớn, tạo ra nguồn lây bệnh nguy hiểm nhất. Kể từ ngày virut vào cơ thể người, thời gian ủ bệnh rất thay đổi từ 1 tuần đến trên 1 năm, trung bình 1 – 2 tháng, phụ thuộc vào số lượng virut, khoảng cách từ vết cắn đến thần kinh trung ương. Thực tế cho thấy: tỷ lệ phát bệnh dại và tử vong cao nhất từ vết cắn ở mặt, trung bình ở tay, thấp hơn là ở chân.

Phát hiện kịp thời bệnh dại
Thời kỳ ủ bệnh được tính từ khi bị chó cắn đến khi phát bệnh, đây là khoảng thời gian quý báu để cứu sống người bệnh. Dấu hiệu của thời kỳ này chỉ duy nhất là vết cắn. Vì vậy, người bị chó cắn phải đi khám để tiêm phòng bệnh dại là việc làm quan trọng nhất.

Thời kỳ tiền triệu là các dấu hiệu xuất hiện trước khi phát bệnh dại, bệnh nhân có biểu hiện lo lắng, thay đổi tính tình, có cảm giác ngứa, đau ở nơi bị cắn. Lưu ý rằng đến lúc này, bệnh nhân đã quên việc bị chó cắn.
Thời kỳ toàn phát: thường có 2 thể bệnh là thể hung dữ và thể liệt. Ở thể hung dữ hoặc co cứng, biểu hiện một tình trạng kích thích tâm thần vận động, bệnh nhân trở nên hung tợn, điên khùng, gây gổ, đập phá lung tung và nhanh chóng tiến tới hôn mê và tử vong. Bệnh nhân bị co cứng, run rẩy tứ chi, co giật, co thắt họng và thanh khí quản gây triệu chứng sợ nước. Bệnh nhân khát không dám uống, chỉ nhìn thấy hoặc nghe thấy tiếng nước chảy cũng gây tăng co thắt họng và rất đau. Tình trạng co thắt này tăng lên mỗi khi có kích thích dù rất nhỏ như: gió thổi, quạt điện, mùi vị thức ăn, ánh sáng…nên bệnh nhân có nét mặt luôn căng thẳng, hoảng hốt, mắt sáng và đỏ, tai thính, có thể có tình trạng kích thích sinh dục, cương cứng dương vật ở đàn ông. Bệnh nhân sốt tăng dần, vã mồ hôi, tăng tiết đờm dãi, rối loạn tim mạch và hô hấp, ảo giác. Các triệu chứng này tiến triển nặng dần và tử vong sau 3 – 5 ngày do ngừng tim, ngừng thở.

Thể liệt: hay gặp ở bệnh nhân bị chó dại cắn đã tiêm vaccin nhưng tiêm muộn, virut đã vào đến não gây bệnh. Bệnh nhân thường không có triệu chứng sợ nước, sợ gió.

Ban đầu có thể thấy đau nhiều vùng cột sống, sau đó xuất hiện hội chứng liệt kiểu Landry: đầu tiên liệt chi dưới, sau đó rối loạn cơ vòng, rồi liệt chi trên. Khi tổn thương tới hành não, xuất hiện liệt thần kinh sọ, ngừng thở và ngừng tim, tử vong.

Điều trị
Khi bị chó mèo cắn, có 2 việc cần làm là điều trị vết cắn và tiêm thuốc phòng bệnh dại. Điều trị vết cắn: ngay sau khi bị chó cắn, bạn phải rửa, dội thật kỹ vết thương bằng nước xà phòng. Tiếp theo, rửa lại vết thương bằng nước lọc và lau khô sát khuẩn vết thương bằng các thuốc sẵn có như: cồn iod, nước oxy già, nước muối sinh lý. Nhưng không nên khâu vết thương sớm, trừ vết thương ở mặt. Cần tiêm phòng huyết thanh kháng uốn ván và dùng kháng sinh chống nhiễm khuẩn vết thương.

Dùng thuốc phòng bệnh dại gồm 2 loại là huyết thanh kháng dại và vaccin phòng bệnh dại.
Tiêm huyết thanh phòng bệnh dại trong các trường hợp: vết cắn rộng, sâu, nhiều vết cắn, bị cắn ở đầu, mặt, cổ, tay bởi một con chó có biểu hiện dại. Tiêm càng sớm sau khi bị cắn càng có hiệu quả cứu sống bệnh nhân.

Tiêm vaccin: nếu con vật cắn bạn đã bị giết chết (mà không có điều kiện xét nghiệm để xác định nó bị dại hay không) hoặc đã mất tích. Trường hợp con vật cắn bạn vẫn sống khỏe mạnh, cần nhốt nó để theo dõi nó trong vòng 10 ngày. Trong thời gian theo dõi đó, nếu thấy nó bị ốm hoặc thay đổi tính tình thì bạn cần đi tiêm vaccin ngay. Trái lại, nếu con vật vẫn khỏe sau 10 ngày thì bạn không cần tiêm vaccin.

Việc điều trị khi đã lên cơn dại: đến nay chưa có thuốc gì có thể cứu sống bệnh nhân khi đã lên cơn dại. Nên chỉ điều trị triệu chứng như: an thần, để bệnh nhân nằm ở nơi yên tĩnh, riêng biệt.

Phòng bệnh
Bệnh dại là bệnh tối nguy hiểm nên khi săn sóc bệnh nhân bạn phải mặc đầy đủ trang bị bảo hộ như: mũ, quần áo, găng tay, ủng, rửa tay xà phòng kỹ sau khi săn sóc rồi sát khuẩn bằng cồn. Các đồ dùng của bệnh nhân cần đốt hủy. Các đồ sắt, giường, tủ, sàn nhà… cần lau rửa bằng xà phòng và phun thuốc khử khuẩn.

Theo sức khỏe đời sống

Nhận biết, xử trí ngộ độc cà độc dược

Trong y học cổ truyền, cà độc dược được coi là một trong 50 vị thuốc cơ bản với tên gọi dương kim hoa. Trong thực tế, ngộ độc cà độc dược cũng hay gặp do ăn nhầm, hoặc chế biến nhầm hoa, lá cây cà độc dược làm thức ăn. Bài viết dưới đây xin cung cấp những thông tin cơ bản về nhận biết và xử trí khi ngộ độc cà độc dược.

Triệu chứng ngộ độc

Do trong thành phần hóa học của cây cà độc dược hầu hết là alkaloid, trong đó alkaloid chính là L-scopolamin (hyoscin), ngoài ra còn có hyoscyamine, atropine, scopolamine. Do vậy ngộ độc cà độc dược là biểu hiện tác động dược lý và hóa học của các alkaloid nói trên, với biểu hiện triệu chứng của các thuốc có tác dụng kháng cholinergic với các mức độ khác nhau.

Cơ chế tác dụng của atropine và nhóm thuốc này do tác dụng kháng thụ thể muscarinic, gây ức chế gắn acetylcholine vào các receptor cholinergic muscarinic ở các tế bào cơ trơn, cơ tim, tế bào tuyến, hạch tự động và thần kinh trung ương. Độ nhạy cảm của các thụ thể muscarinic phụ thuộc vào các cơ quan khác nhau trong cơ thể. Triệu chứng ngộ độc phụ thuộc nhiều vào liều lượng thuốc, liều thấp có biểu hiện nhẹ như hơi khô miệng, giảm tiết mồ hôi và nhịp chậm, liều cao hơn gây nhịp nhanh, giãn đồng tử, da khô nóng đỏ, ảo giác, mê sảng và hôn mê.

ngo-doc-ca-doc-duoc

Ngoài ra, triệu chứng còn phụ thuộc vào loại dược chất khác nhau, scopolamine thường dễ qua hàng rào máu não sớm gây nên các triệu chứng thần kinh trung ương như trạng thái phởn phơ, mất định hướng, ảo giác, quên, mê sảng ngay cả với liều thấp. Atropine ít gây tác động lên thần kinh trung ương hơn, ngay cả với liều điều trị. Ngược lại, với liều atropine và scopolamine rất thấp có thể gây nên nhịp chậm liên quan tới việc ức chế thụ thể cholinergic ở hậu hạch, liều cao gây nhịp nhanh xoang dai dẳng.

Thời gian khởi đầu triệu chứng sau khi bị ngộ độc cũng rất khác biệt, phụ thuộc nhiều vào tình trạng phơi nhiễm. Bệnh nhân hít hơi từ cây cà độc dược chế biến có triệu chứng ngay nhưng tác dụng ngắn. Nếu bệnh nhân ăn nhầm hoa, lá cà độc dược có thể biểu hiện triệu chứng chậm hơn nhưng thường kéo dài cho tới khi các biện pháp hạn chế hấp thu và thải trừ độc chất có tác dụng hoàn toàn.

Ngộ độc cà độc dược dễ bị nhầm lẫn

Chẩn đoán bệnh nhân ngộ độc cà độc dược có thể nhầm lẫn do bệnh nhân trong tình trạng nặng không cung cấp được các thông tin liên quan. Các triệu chứng thần kinh có thể nhầm lẫn với các tình trạng khác như ngộ độc rượu, ngộ độc các thuốc kích thích giao cảm, các triệu chứng của bệnh lý thần kinh… Ngộ độc các thuốc kích thích hệ giao cảm như amphetamine, cocaine cũng thường có biểu hiện trạng thái kích thích, đồng tử giãn, tăng thân nhiệt, tuy nhiên nếu khám kỹ có thể thấy da ẩm ướt, có nhu động ruột. Ngộ độc diethylamide hay mescaline thường có ảo giác màu sắc, lung linh, bệnh nhân thường thụ động hơn nhưng định hướng tốt hơn với không gian và thời gian.

Cũng cần chú ý phân biệt với biểu hiện kháng cholinergic ở các bệnh nhân ngộ độc các thuốc chống trầm cảm vòng, kháng histamin; bệnh nhân viêm não, viêm màng não cũng có biểu hiệu sốt và các triệu chứng thần kinh, khi đó cần chọc dịch não tủy để chẩn đoán xác định. Test physostigmine cũng được dùng làm biện pháp chẩn đoán ngộ độc cà độc dược, xác chẩn tình trạng ngộ độc gây triệu chứng kháng cholinergic, sau khi tiêm bệnh nhân đang từ trạng thái kích thích, mất định hướng nhanh chóng trở về bình thường. Tuy vậy, test này không được dùng thường quy trên lâm sàng để đánh giá tình trạng rối loạn ý thức.

Việc chẩn đoán ngộ độc cà độc dược thường dựa rất nhiều vào hỏi bệnh và khám lâm sàng tìm các dấu hiệu và triệu chứng của hội chứng kháng cholinergic. Việc phát hiện các dị vật như hạt quả cà, hoa cà từ các biện pháp hạn chế hấp thu qua đường tiêu hóa hoặc gia đình bệnh nhân mang tang vật đến có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định chẩn đoán. Các xét nghiệm tìm độc chất là các alkaloid có trong thành phần cây cà độc dược (atropine, scopolamine…) hiện chưa làm được tại các phòng xét nghiệm thường quy. Các xét nghiệm cần chú ý làm như chức năng gan, thận, đường máu, điện giải đồ, men CK, điện tâm đồ, khí máu… là cần thiết để đánh giá tình trạng bệnh nhân và theo dõi trên lâm sàng.

Cách xử trí khi ngộ độc

Điều trị ngộ độc cà độc dược cần chú ý tới việc điều trị hỗ trợ (hô hấp, tuần hoàn, thần kinh…), dùng các biện pháp hạn chế hấp thu, tăng thải trừ như gây nôn, rửa dạ dày, dùng than hoạt kết hợp với thuốc nhuận tràng, tăng cường bài niệu. Triệu chứng kích thích, co giật do tác dụng kháng cholinergic có thể kiểm soát tốt bằng truyền hoặc tiêm tĩnh mạch benzodiazepine. Benzodiazepin được coi là an toàn hơn physostigmine khi chẩn đoán chưa rõ ràng, khi ngộ độc hoặc ngộ độc phối hợp các chất gây chậm dẫn truyền nhĩ – thất (thuốc trầm cảm vòng, hoặc điện tim thấy QRS giãn).

Tóm lại, cà độc dược là một vị thuốc Đông y tốt, chữa được nhiều tình trạng bệnh lý, tuy vậy trong quá trình sử dụng, bệnh nhân cần chú ý tuân thủ các hướng dẫn của thầy thuốc Đông y có nhiều kinh nghiệm. Trong cuộc sống hằng ngày, cũng cần chú ý trong chế biến thức ăn uống, tránh chế biến nhầm thực phẩm từ cây cà độc dược. Người lớn cũng chú ý tránh cho con trẻ tiếp xúc dễ gây ra ăn nhầm từ cây, lá, quả cà độc dược. Khi có triệu chứng ngộ độc cần biết cách sơ cứu và đưa người bị nạn tới Khoa Hồi sức cấp cứu – Chống độc gần nhất hoặc Trung tâm Chống độc để được xử trí kịp thời.

Nhận dạng cây cà độc dược

Thân thảo, cao 1-2m, sống quanh năm. Phần gốc của thân hoá gỗ. Thân và cành non màu xanh lục hay tím, có nhiều lông to. Lá đơn, mọc so le, phiến lá nguyên hình trứng nhọn, gốc phiến lá không đều nhau. Hoa mọc đơn độc ở nách lá. Cánh hoa màu trắng hay vàng, dính liền nhau thành hình phễu, dài 16–18cm. Quả hình cầu, đường kính khoảng 3cm, mặt ngoài có nhiều gai mềm, chứa nhiều hạt màu vàng. Ở Việt Nam, cà độc dược được trồng hay mọc hoang ở khắp nơi, hay gặp ở Hải Dương, Vĩnh Phú, Thanh Hóa, Nghệ An, Ninh Thuận…

Theo giáo dục

Bị ảo giác do uống quá nhiều cà phê

Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Anh cho biết uống quá nhiều cà phê có thể gây ảo giác, theo đó những người uống hơn 7 tách cà phê mỗi ngày sẽ có nguy cơ bị ảo giác gấp ba lần so với những người chỉ uống 1 tách cà phê/ngày.

Ông Simon Jones, chuyên gia tâm lý tại Đại học Durham, Anh, tác giả của công trình nghiên cứu trên, cho biết đây chỉ là bước đầu trong quá trình tìm hiểu về các yếu tố gây ảo giác. Kết quả nghiên cứu của ông Jones đã được công bố ngày 14/1 trên tạp chí chuyên ngành tâm lý học tại Anh “Personality and Individual Differences”.

ao-giac

Tác giả và nhóm nghiên cứu của ông đã phỏng vấn 200 sinh viên về thói quen uống cà phê, đồ uống và các sản phẩm khác có chứa caffeine. Kết quả cho thấy những người uống lượng cà phê tương đương với ít nhất 7 tách cà phê mỗi ngày sẽ có khả năng mắc chứng ảo giác.

Các nhà nghiên cứu cũng kiểm tra mức độ căng thẳng của những người tham gia thí nghiệm. Thực tế, hormon gây căng thẳng thần kinh được tiết ra với số lượng nhiều hơn khi người ta tiêu thụ chất caffeine. Có thể chính lý do này đã gây ra tình trạng ảo giác đối với những người dùng quá nhiều cà phê.

Giai đoạn nghiên cứu tiếp theo của các nhà khoa học là kiểm tra xem chất caffeine có thực sự là nguyên nhân gây ra ảo giác hay không. Theo các chuyên gia, những phát hiện này là bằng chứng tiếp theo cho thấy caffeine có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe con người. Những nghiên cứu mới đây cũng đã rút ra kết luận rằng caffeine giúp làm giảm nguy cơ gây ung thư buồng trứng, nhưng lại làm tăng nguy cơ xẩy thai.

Nguồn việt nam net

Sơ cứu ngộ độc nấm

Ngộ độc nấm độc chỉ xảy ra khi ăn các nấm mọc hoang dại, thường vào mùa xuân và hè và ở các vùng rừng núi. Loại nấm độc nhất là nấm lục (hay nấm độc xanh đen), có hình thức hấp dẫn nhất, ngộ độc nặng nề, diễn biến ngộ độc không thể lường trước được và là nguyên nhân tử vong của hầu hết các trường hợp ngộ độc nấm xảy ra hàng năm ở nước ta.

Biểu hiện ngộ độc chính:

Loại biểu hiện ngộ độc sớm:Thường biểu hiện sau ăn 30 phút đến 2 giờ, tối đa là 6 giờ. Biểu hiện tuỳ thuộc vào loại nấm:

– Nấm đỏ (nấm mặt trời, tên khoa học: Amanita muscaria), nấm mụn trắng (nấm tán da báo, tên khoa học: Amanita pantheria): buồn ngủ, chóng mặt, khó chịu, ảo giác, sảng, giật cơ, co giật.

– Nấm mực (tên khoa học: Coprinus atramentarius): do khi ăn bệnh nhân có uống rượu, bia, biểu hiện đỏ mặt, cổ, ngực, cảm giác bốc hoả, vã mồ hôi, trống ngực, nhịp tim nhanh, đau ngực, thở nhanh, khó thở, buồn nôn, nôn, đau đầu, hạ huyết áp.

– Nấm phiến đốm chuông (tên khoa học: Paneolus campanulatus): điều hoà các động tác vận động kém, tăng vận động, ảo giác, hoang tưởng. Có thể có đồng tử (con ngươi mắt) giãn, kích thích vật vã, co giật.

so-cuu-ngo-doc-nam

Loại biểu hiện ngộ độc muộn:

– Xuất hiện sau khi ăn 6 – 40 giờ (trung bình 12 giờ).

– Hầu hết các trường hợp do nấm lục (nấm độc xanh đen, tên khoa học: Amanita phalloides).

– 6 – 40 giờ sau ăn, bệnh nhân mới biểu hiện nôn, đau bụng, ỉa chảy dữ rội và nhiều. Vào thời điểm này hầu hết chất độc đã vào máu.

– Sau 1 – 2 ngày: Các biểu hiện tiêu hoá trên đỡ, người bệnh (thậm chí có thể cả cán bộ y tế) nghĩ là bệnh đã khỏi. Trên thực tế tình trạng ngộ độc vẫn tiếp diễn âm thầm ở các cơ quan khác.

– Sau 3 – 4 ngày: Vàng mắt, vàng da, mệt mỏi, ăn kém, đái ít dần, phù, chảy máu nhiều nơi, hôn mê và tử vong.

Sơ cứu:

– Gây nôn (bằng biện pháp cơ học): Trong vòng vài giờ sau ăn nấm (tốt nhất trong giờ đầu tiên) nếu bệnh nhân là người trên 2 tuổi, tỉnh táo, chưa nôn nhiều. Cho bệnh nhân uống nước và gây nôn.

– Uống than hoạt: liều 1gam/kg cân nặng người bệnh.

– Cho người bệnh uống đủ nước, tốt nhất là dùng oresol.

– Nhanh chóng đưa người bệnh đến cơ sở y tế gần nhất.

– Nếu người bệnh hôn mê, co giật: cho người bệnh nằm nghiêng.

– Nếu người bệnh thở yếu, ngừng thở: hà hơi thổi ngạt hoặc hô hấp nhân tạo bằng các phương tiện cấp cứu có tại chỗ.

– Không tự về nhà trong 1 – 2 ngày đầu kể cả khi các biểu hiện ngộ độc ban đầu đã hết.

– Ngộ độc nấm loại biểu hiện muộn cần được điều trị tại các cơ sở y tế có phương tiện hồi sức tích cực tốt (thường tuyến tỉnh trở lên).

Nguồn giáo dục

Gây ảo giác trong y học có hiệu quả

Mùa xuân năm 2004, bà Sandy Lundahl ở tuổi 50 đến Trung tâm Nghiên cứu sinh học tập tính của Khoa y, Ðại học Johns Hopkins (Hoa Kỳ) tình nguyện tham gia một loạt các thí nghiệm về các chất gây ảo giác lần đầu tiên được phép ở nước này từ hơn 30 năm nay. Bà điền vào các tập câu hỏi, chuyện trò với 2 người làm thí nghiệm. Họ đến ngồi với bà suốt cả 8 giờ làm thí nghiệm trong không gian được sắp xếp cho mục đích này. Bà uống 2 viên thuốc rồi nằm dài trên ghế đi-văng, đeo mặt nạ che mắt để được thoải mái.

Psilocybine – Liệu pháp gây ảo giác?

Các viên thuốc có chứa một lượng lớn psilocybine, chất hoạt tính chủ yếu có trong nấm gây ảo giác thuộc bộ Agaricales. Psilocybine gây ra những thay đổi tính khí và tri giác, nhưng hiếm khi gây ra những ảo giác thực sự. Kết thúc thí nghiệm, khi các tác dụng của psilocybine tiêu tan hết, bà Lundahl, người chưa từng dùng chất gây ảo giác trước đó, lại điền các câu hỏi mới. Bà cho biết mình đã trải qua một thí nghiệm kiểu thần bí, giống như thí nghiệm mà những người đi tìm các giá trị tinh thần trong một số nền văn hóa nói lại. Lúc này, bà cảm thấy sung sướng, không còn cảm nhận thời gian và không gian. Trạng thái thay đổi ý thức mà bà trải qua trong mấy giờ liền sẽ làm thay đổi lâu dài tính khí.

1 năm sau, bà cho biết ngày nào cũng nghĩ đến thí nghiệm đó và từ đó thấy tính tình luôn luôn vui vẻ và mãn nguyện cuộc sống hơn. Bà là 1 trong số 36 người tình nguyện đã tham gia cuộc khảo cứu, bắt đầu năm 2001 và kết thúc năm 2006. Phần lớn giới khoa học đón chào việc khôi phục lại lĩnh vực nghiên cứu đã từng bị bỏ rơi suốt mấy thập niên này.

lieu-phap-gay-ao-giac-trong-y-hoc-co-hieu-qua

Tại Trường đại học Johns Hopkins, các công trình về psilocybin được tiến hành theo 2 trục: Thứ nhất là khảo sát tỉ mỉ các tác dụng tâm lý của phân tử này ở người tình nguyện lành mạnh và thứ hai là đánh giá xem liệu các trạng thái thay đổi ý thức mà các chất gây ảo giác tạo ra có thể làm giảm được các bệnh tâm thần và tập tính hay không bởi các cách điều trị các bệnh này còn chưa mấy hiệu quả. Người ta chú ý tới psilocybin bởi nó có cấu trúc hóa học gần với chất dẫn truyền thần kinh, serotonin. Phân tử liên lạc giữa các tế bào thần kinh này hoạt động ở các vùng não khác nhau và điều tiết nhiều chức năng quan trọng, trong đó có tính khí, trí nhớ, sự ngon miệng, giới tính và giấc ngủ.

Vào đầu thập niên 70, việc sử dụng các chất gây ảo giác vào các mục đích giải trí rất phát triển. Sau đó, một bộ luật công bố đã sắp xếp các chất gây ảo giác vào bảng các chất ma túy, các giới hạn mới được áp đặt đối với nghiên cứu ở người. Thế là nhiều thập niên trôi đi trước khi các nghiên cứu khoa học chặt chẽ ở người lại được phép. Chính các trạng thái thay đổi ý thức do các chất gây ảo giác tạo ra làm cho các nhà khoa học chú ý. Những thay đổi này là tích cực, nhanh chóng và bền vững, còn các biện pháp tâm lý chắc phải lâu mới đạt được.

Tại Trường đại học Johns Hopkins, người ta thực hiện các thí nghiệm như thế trong phòng thí nghiệm đối với nhiều người. Nó cho phép các phân tích khoa học chặt chẽ và những người tình nguyện đều được theo dõi trước và sau khi dùng chất gây ảo giác. Như vậy, các nhà khoa học có thể theo dõi các tác động tâm lý và tập tính của trạng thái thay đổi ý thức.

Tác dụng chữa bệnh của liệu pháp ảo giác

Cách đây 40 năm, khi nghiên cứu về liệu pháp trị bệnh của các chất gây ảo giác bị gián đoạn trong khi nhiều hướng tìm tòi vẫn cần được khám phá. Ở đây có thể đề cập đến chứng nghiện rượu, khó dứt bỏ ma túy, chứng lo âu khi mắc ung thư, thái độ bối rối trước bệnh tật. Vào thời đó, phần lớn các khảo cứu đều không để lại số liệu. Những bệnh nhân mắc ung thư thường lo âu, trầm cảm, các triệu chứng mà không một thuốc chống trầm cảm, một thuốc chống ưu tư nào giảm nhẹ được.

Nghiên cứu hiện nay về các chất gây ảo giác phải xác định liệu các chất gây ảo giác có thể giúp các bệnh nhân vượt được sự phụ thuộc của họ hay không. Người ta cũng đã bắt đầu một nghiên cứu thí điểm về cai thuốc; những người tham gia nhận psilocybin đi kèm với liệu pháp nhận thức – tập tính, dạy cho bệnh nhân thay đổi tư duy và hành vi của mình như thế nào để dừng hút thuốc và cai được. Liệu pháp dùng các chất gây ảo giác chỉ có thể được chấp nhận nếu rút ra được các bài học từ hậu quả do dùng các ma túy gây ảo giác. Đôi khi nó gây ra chứng ưu tư, hoang tưởng bộ phận hoặc hoảng sợ. Trong các hoàn cảnh không được kiểm soát, nó có thể đưa đến các sự cố hoặc tự tử. Nhưng trong trung tâm nghiên cứu thường xuyên có người được đào tạo riêng để thực hiện kiểu thí nghiệm này thì không có người tham gia nào phải chịu hậu quả ngoài mong muốn.

Nếu các khảo cứu bổ sung ở phạm vi lớn là cần thiết để xác định tác dụng trị bệnh của chất gây ảo giác thì kết quả thật hứa hẹn. Nhưng có một câu hỏi vẫn còn bỏ lửng, đó là các cơ chế tác động của các chất gây ảo giác như thế nào? Các kỹ thuật chẩn đoán não dựa vào ảnh và dược lý phải trả lời câu hỏi này.

Nguyễn Thanh Hà

(Theo Pour la Science)