Tag Archives: an thần

Bùng phát dịch dại vào mùa hè

Bộ Y tế khuyến cáo, tay chân miệng là bệnh truyền nhiễm do virút gây ra và có thể gây thành dịch lớn. 6 thông điệp dưới đây sẽ giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về dịch bệnh này và các biện pháp phòng chống:

Theo báo cáo của Bộ Y tế trình Chính phủ, thống kê từ 10 tỉnh: Thanh Hóa, Yên Bái, Tuyên Quang, Sơn La, Phú Thọ, Lào Cai, Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Ngãi, Quảng Nam, trong 4 tháng đầu năm 2014, có 14 người mắc bệnh dại đã tử vong. Dại là bệnh truyền nhiễm từ chó, mèo lây sang người qua vết cắn, nếu đã phát bệnh thì tỷ lệ tử vong là 100%. Bệnh đã xuất hiện ở nhiều tỉnh, đang có xu hướng gia tăng. Làm thế nào để phòng chống và ngăn chặn bệnh dại?

Bệnh dại lây truyền từ chó mèo sang người qua vết cắn

bung-phat-dich-dai-vao-mua-he
Các loài động vật dễ bị bệnh dại là chó, mèo, lừa, ngựa, bò, cừu, lợn, chồn, cáo, dơi… Virut dại có trong nước bọt của động vật bị dại, lây bệnh cho người hay động vật khác qua vết cắn, vết cào, vết liếm (sau đây gọi chung là vết cắn) nhưng không bao giờ lây qua được da lành.

Sau khi xâm nhập vào cơ thể người qua vết cắn, virut theo dây thần kinh lên não với vận tốc khoảng 3mm/giờ, gây tổn thương thần kinh trung ương. Virut nhân lên trong não, rồi di chuyển theo thần kinh đến các cơ quan như tuyến nước bọt, thận, phổi, tim, gan… Ở tuyến nước bọt, virut nhân lên số lượng lớn, tạo ra nguồn lây bệnh nguy hiểm nhất. Kể từ ngày virut vào cơ thể người, thời gian ủ bệnh rất thay đổi từ 1 tuần đến trên 1 năm, trung bình 1 – 2 tháng, phụ thuộc vào số lượng virut, khoảng cách từ vết cắn đến thần kinh trung ương. Thực tế cho thấy: tỷ lệ phát bệnh dại và tử vong cao nhất từ vết cắn ở mặt, trung bình ở tay, thấp hơn là ở chân.

Phát hiện kịp thời bệnh dại
Thời kỳ ủ bệnh được tính từ khi bị chó cắn đến khi phát bệnh, đây là khoảng thời gian quý báu để cứu sống người bệnh. Dấu hiệu của thời kỳ này chỉ duy nhất là vết cắn. Vì vậy, người bị chó cắn phải đi khám để tiêm phòng bệnh dại là việc làm quan trọng nhất.

Thời kỳ tiền triệu là các dấu hiệu xuất hiện trước khi phát bệnh dại, bệnh nhân có biểu hiện lo lắng, thay đổi tính tình, có cảm giác ngứa, đau ở nơi bị cắn. Lưu ý rằng đến lúc này, bệnh nhân đã quên việc bị chó cắn.
Thời kỳ toàn phát: thường có 2 thể bệnh là thể hung dữ và thể liệt. Ở thể hung dữ hoặc co cứng, biểu hiện một tình trạng kích thích tâm thần vận động, bệnh nhân trở nên hung tợn, điên khùng, gây gổ, đập phá lung tung và nhanh chóng tiến tới hôn mê và tử vong. Bệnh nhân bị co cứng, run rẩy tứ chi, co giật, co thắt họng và thanh khí quản gây triệu chứng sợ nước. Bệnh nhân khát không dám uống, chỉ nhìn thấy hoặc nghe thấy tiếng nước chảy cũng gây tăng co thắt họng và rất đau. Tình trạng co thắt này tăng lên mỗi khi có kích thích dù rất nhỏ như: gió thổi, quạt điện, mùi vị thức ăn, ánh sáng…nên bệnh nhân có nét mặt luôn căng thẳng, hoảng hốt, mắt sáng và đỏ, tai thính, có thể có tình trạng kích thích sinh dục, cương cứng dương vật ở đàn ông. Bệnh nhân sốt tăng dần, vã mồ hôi, tăng tiết đờm dãi, rối loạn tim mạch và hô hấp, ảo giác. Các triệu chứng này tiến triển nặng dần và tử vong sau 3 – 5 ngày do ngừng tim, ngừng thở.

Thể liệt: hay gặp ở bệnh nhân bị chó dại cắn đã tiêm vaccin nhưng tiêm muộn, virut đã vào đến não gây bệnh. Bệnh nhân thường không có triệu chứng sợ nước, sợ gió.

Ban đầu có thể thấy đau nhiều vùng cột sống, sau đó xuất hiện hội chứng liệt kiểu Landry: đầu tiên liệt chi dưới, sau đó rối loạn cơ vòng, rồi liệt chi trên. Khi tổn thương tới hành não, xuất hiện liệt thần kinh sọ, ngừng thở và ngừng tim, tử vong.

Điều trị
Khi bị chó mèo cắn, có 2 việc cần làm là điều trị vết cắn và tiêm thuốc phòng bệnh dại. Điều trị vết cắn: ngay sau khi bị chó cắn, bạn phải rửa, dội thật kỹ vết thương bằng nước xà phòng. Tiếp theo, rửa lại vết thương bằng nước lọc và lau khô sát khuẩn vết thương bằng các thuốc sẵn có như: cồn iod, nước oxy già, nước muối sinh lý. Nhưng không nên khâu vết thương sớm, trừ vết thương ở mặt. Cần tiêm phòng huyết thanh kháng uốn ván và dùng kháng sinh chống nhiễm khuẩn vết thương.

Dùng thuốc phòng bệnh dại gồm 2 loại là huyết thanh kháng dại và vaccin phòng bệnh dại.
Tiêm huyết thanh phòng bệnh dại trong các trường hợp: vết cắn rộng, sâu, nhiều vết cắn, bị cắn ở đầu, mặt, cổ, tay bởi một con chó có biểu hiện dại. Tiêm càng sớm sau khi bị cắn càng có hiệu quả cứu sống bệnh nhân.

Tiêm vaccin: nếu con vật cắn bạn đã bị giết chết (mà không có điều kiện xét nghiệm để xác định nó bị dại hay không) hoặc đã mất tích. Trường hợp con vật cắn bạn vẫn sống khỏe mạnh, cần nhốt nó để theo dõi nó trong vòng 10 ngày. Trong thời gian theo dõi đó, nếu thấy nó bị ốm hoặc thay đổi tính tình thì bạn cần đi tiêm vaccin ngay. Trái lại, nếu con vật vẫn khỏe sau 10 ngày thì bạn không cần tiêm vaccin.

Việc điều trị khi đã lên cơn dại: đến nay chưa có thuốc gì có thể cứu sống bệnh nhân khi đã lên cơn dại. Nên chỉ điều trị triệu chứng như: an thần, để bệnh nhân nằm ở nơi yên tĩnh, riêng biệt.

Phòng bệnh
Bệnh dại là bệnh tối nguy hiểm nên khi săn sóc bệnh nhân bạn phải mặc đầy đủ trang bị bảo hộ như: mũ, quần áo, găng tay, ủng, rửa tay xà phòng kỹ sau khi săn sóc rồi sát khuẩn bằng cồn. Các đồ dùng của bệnh nhân cần đốt hủy. Các đồ sắt, giường, tủ, sàn nhà… cần lau rửa bằng xà phòng và phun thuốc khử khuẩn.

Theo sức khỏe đời sống

Bài thuốc chữa đau bụng do lạnh

Rau muối thường mọc ở các bãi sông, ven đường, ruộng và nương rẫy bỏ hoang thường được bà con miền núi, ven biển sử dụng làm rau nấu canh ăn có tác dụng thanh nhiệt. Cây rau muối đã có vị mặn nên khi chế biến nên không cần bỏ muối.

Loài cây thảo mà mặt lá có những điểm trắng rất nhỏ như giọt sương muối nên được gọi là cây rau muối. Thân cây nhẵn, phân nhánh nhiều. Lá mọc so le, có cuống ngắn, các lá phía dưới lớn hơn, có hình thoi, có răng lượn sóng ở mép, lá có màu lục trắng và có phấn (do có lông mọng nước, làm cho mặt lá như rắc bột, rắc muối). Hoa tập hợp thành chùm, bao hoa trắng không cuống, nhuỵ có 2 đầu nhuỵ. Quả bế; hạt óng ánh, màu đen. Mùa ra hoa khoảng tháng 2 – 6, có quả vào mùa thu.

Toàn cây được sử dụng làm thuốc, thân cây có lá chứa 87,7% nước, 5,3% protein, 1,2% glucid và khoáng toàn phần 2,2%. Ngoài ra cây có các muối khoáng như: calcium, phospho, vitamin C…
Theo Đông y, rau muối có vị ngọt, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, sát khuẩn, chữa tả lỵ, chống ngứa. Ngoài ra rau có tác dụng nhuận tràng và trừ giun, lá có tác dụng chống viêm, an thần, nhuận tràng nhẹ, trị kiết lỵ, tiêu chảy…

bai-thuoc-chua-dau-bung-do-lanh

Một số bài thuốc thường dùng

Bài 1: Chữa đau bụng do lạnh: Rễ cây rau muối 20g, rửa sạch. Cho 500ml nước sắc còn 150ml nước, chia 2 lần uống trong ngày. Uống lúc còn ấm, dùng liền 5 ngày.

Bài 2: Chữa cước khí đầu gối, bàn chân đau nhức: Lá rau muối 20g, cho 500ml nước sắc còn 150ml nước, chia 3 lần uống nóng trong ngày, cách nhau mỗi lần 3 giờ. Dùng 5 – 10 ngày. Kết hợp với ngâm chân. Lấy cả cây rau muối (1 nắm to), rửa sạch cho vào nồi đổ ngập nước, đun sôi khoảng 15 phút. Để nước ấm (tránh bị nóng gây bỏng) ngâm chân 15 phút, ngâm cho nước đến nguội (rồi chế thêm nước cho nóng). Sau đó, lau khô chân và xoa bóp 2 bàn chân, đặc biệt gan bàn chân (xoa bóp 5 phút). Làm như vậy nhiều lần sẽ rất tốt.

Bài 3: Giảm đau răng, viêm chân răng: Lấy 20g lá rau muối, rửa sạch, cho 400ml nước, sắc đặc còn 100ml nước, ngậm và súc miệng thường xuyên sẽ hiệu nghiệm (sau mỗi lần ngậm hay súc miệng không được nuốt).

Lưu ý: Để bài thuốc có hiệu quả và phù hợp với cơ địa cần được các nhà chuyên môn bắt mạch tư vấn

Theo sức khỏe đời sống

Trị chân đau nhức, tê mỏi với dâm bụt

Dâm bụt (miền Nam gọi là bông bụp), xuyên can bì, là loại cây nhỡ, cao từ 1 – 2m, lá đơn, mọc cách, phiến lá khía răng cưa. Hoa to, màu đỏ hồng, cũng có loại màu trắng hồng, màu vàng, hoa thường mọc ở nách lá hay đầu cành. Cây mọc hoang ở nhiều nơi và được trồng làm cây cảnh, hàng rào và làm thuốc.

Theo y học cổ truyền, dâm bụt có vị ngọt, tính bình, không độc, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu, an thần,… Thường dùng chữa kiết lỵ, mụn nhọt, rong kinh, kinh nguyệt không đều, bạch đới, khó ngủ, hồi hộp…

Một số đơn thuốc thường dùng
Khó ngủ, hồi hộp, nước tiểu đỏ: Hoa dâm bụt phơi khô, mỗi lần dùng một nhúm 15 – 20g, hãm uống thay trà hàng ngày. Hoặc lá dâm bụt 15g, hoa nhài 12g. Sắc uống vào buổi chiều, dùng trong 7 – 10 ngày.

tri-chan-dau-nhuc-te-moi-voi-dam-but

Chữa mụn nhọt đang mưng mủ: Hoa dâm bụt, lá trầu không, lá thồm lồm mỗi thứ 50g, giã nát, đắp lên chỗ mụn nhọt. Mỗi ngày thay thuốc 1 lần. Hoặc dùng lá và hoa một nắm, rửa sạch, giã với một ít muối hạt, đắp lên chỗ nhọt đang sưng mưng mủ sẽ đỡ đau nhức, đỡ sưng nóng và chóng vỡ mủ.
Chân đau nhức, tê mỏi: Lá dâm bụt, lá si, lá đào, lá mận, lá thài lài tía, mỗi thứ 30g phơi khô, thái nhỏ, sao qua, ngâm với ít rượu, dùng xoa bóp hằng ngày.

Chữa rong kinh: Rễ dâm bụt 40g, lá huyết dụ 30g, sắc uống ngày 1 thang. 7 ngày là một liệu trình.
Hỗ trợ điều trị di tinh: Hoa dâm bụt 10g, hạt sen 30g. Sắc uống ngày 1 thang. 10 ngày là một liệu trình.

Chữa kiết lỵ (biểu hiện bụng đau quặn, mót đại tiện nhiều lần, phân lầy nhầy như nước mũi, hoặc màu máu cá): Hái 10 bông hoa dâm bụt bỏ cuống hoa, cho vào bát ăn cơm, thêm 1 thìa cà phê đường, đem hấp cơm. Khi cơm chín lấy bát thuốc ra ăn.

Hoặc: Hoa dâm bụt 10g, lá mơ lông 8g, trứng gà một quả. Thái nhỏ hoa dâm bụt và lá mơ lông cho vào bát, đập trứng vào hấp cách thủy hoặc hấp cơm cũng được, ăn hết một lần, dùng 3 – 5 ngày có hiệu quả tốt.

Trị khí hư (bạch đới): Vỏ dâm bụt 40 – 50g thái nhỏ, sao vàng, sắc uống liên tục trong 1 tuần, nghỉ 10 ngày, nếu bệnh chưa hết thì lại uống tiếp.

Chữa kinh nguyệt không đều: Vỏ rễ dâm bụt 30g, lá huyết dụ 25g, ngải cứu 10g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần/ngày. Uống 3 – 5 ngày kỳ kinh 7 ngày.

Nguồn sức khỏe đời sống

Ngũ vị tử an thần, bổ thận…

Ngũ vị tử còn gọi là ngũ mai tử, huyền cập, là quả chín phơi hay sấy khô của cây ngũ vị (Schisandra sinensis Baill.), thuộc họ ngũ vị tử (Schisandraceae). Ngoài ra còn có nam ngũ vị tử là quả của cây nắm cơm (Kadsura japonica L.), cùng thuộc họ ngũ vị tử. Theo Đông y, ngũ vị tử vị chua, tính ôn; vào kinh phế và thận. Có tác dụng an thần, liễm phế, bổ thận, chí hãn sáp tinh chỉ tả sinh tân chỉ khát. Dùng cho các trường hợp viêm khí phế quản mạn tính gây hen suyễn, sau sốt nhiễm khuẩn, mất nước, khát nước, hồi hộp đánh trống ngực tim đập mạnh loạn nhịp, mất ngủ, ngủ hay mê, quên lẫn giảm trí nhớ. Liều dùng: 4-8g.

ngu-vi-than-tu-an-than-bo-than

Cách dùng ngũ vị tử làm thuốc

Chữa chứng cơ thể hư nhược, ra nhiều mồ hôi (tự ra nhiều mồ hôi hoặc mồ hôi trộm): bá tử nhân 125g, bán hạ khúc 125g, mẫu lệ 63g, nhân sâm 63g, ma hoàng căn 63g, bạch truật 63g, ngũ vị tử 63g, đại táo 30 quả. Đại táo nấu nhừ, nghiền nát loại bỏ hạt. Các vị khác nghiền chung thành bột mịn, nhào với đại táo làm hoàn bằng hạt ngô. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 20 – 30 viên.

Chữa thận dương hư, hoạt tinh: tang phiêu tiêu 12g, ngũ vị tử 8g, long cốt 12g, phụ tử 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Chữa chứng tân dịch không đủ, miệng khô, khát nước: đảng sâm 12g, mạch đông 12g, ngũ vị tử 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Dùng cho bệnh nhân viêm gan mạn tính: ngũ vị tử sao khô tán mịn, mỗi lần uống 3g, ngày 3 lần. Đợt dùng 30 ngày, uống với nước sôi hoặc nước cơm, thêm chút muối đường.

Món ăn – bài thuốc có ngũ vị tử:

Bài 1: Rượu nhân sâm ngũ vị tử: rượu 500ml, nhân sâm 10-20g, ngũ vị tử 30g, câu kỷ tử 30g. Ngâm 7 ngày. Uống trước khi đi ngủ 15-20ml. Dùng cho các trường hợp suy nhược thần kinh, hồi hộp, đánh trống ngực, mất ngủ.

Bài 2: Tim lợn hầm ngũ vị tử: tim lợn 1 cái, ngũ vị tử 9g. Tim lợn rạch mở, rửa sạch, cho ngũ vị tử vào, khâu lại, hầm cách thủy. Dùng cho bệnh nhân hồi hộp loạn nhịp tim, mất ngủ, thở gấp, vã mồ hôi, kích ứng, khát nước.

Bài 3: Ngũ vị tử hồ đào tán: ngũ vị tử 100g, hồ đào nhân 250g. Ngũ vị tử ngâm nước sau nửa ngày cho mềm, tách bỏ hạt, đem sao cùng với hồ đào, để nguội tán thành bột mịn. Mỗi lần uống 9g với nước sôi hoặc nước hồ nước cơm. Dùng cho nam giới di mộng tinh.

Kiêng kỵ: người bệnh bên ngoài có biểu tà, trong có thực nhiệt không được dùng; người viêm khí phế quản mới phát gây ho, sốt không dùng.

TS. Nguyễn Đức Quang

Theo SKDS

Những loại trà không nên dùng sau bữa ăn trưa

Có nhiều loại trà quảng cáo trị đủ thứ bệnh từ viêm gan, huyết áp, tim mạch, béo phì… với giá rẻ đã được nhiều người dùng uống hàng ngày. Tuy nhiên, đã có những vụ tai biến về trà thảo dược xảy ra.

Nhân trần không nên kết hợp với cam thảo

Nhân trần – cam thảo là 2 vị thuốc tốt, nhưng kết hợp với nhau sẽ không tốt vì cam thảo giữ nước, nhân trần lại giúp đào thải. Uống nước nhân trần pha cam thảo thay trà không đúng cách còn bị tương tác thuốc, nhất là người tăng huyết áp.

Trà đắng giúp giảm cân, an thần, ngủ ngon, hạ cholesterol máu, trị tiểu đường, bệnh tim mạch, chữa cảm lạnh, đau nhức… Nhưng các chuyên gia dược xếp vào nhóm dược thảo có chứa chất gây hại cho gan, uống nhiều sẽ rối loạn cung cấp máu cho gan, dẫn đến sưng gan, vàng da, bụng có nước, chân phù, chậm nhịp tim, hạ huyết áp đột ngột… Thậm chí mất thăng bằng, tự ngã, tử vong vì suy gan cấp tính, suy giảm chức năng tình dục.

nhung-loai-tra-khong-nen-dung-sau-bua-an-trua

Để trà thảo dược phát huy tác dụng, cần dùng điều độ, tránh uống thường xuyên một loại trà. Ảnh minh họa

Các lương y, bác sĩ khuyến cáo: Không phải bất cứ loại trà thảo dược nào cũng an toàn. Nếu có bệnh dùng trà thảo dược sai, bệnh sẽ nặng hơn. Người không có bệnh, uống nhiều trà thảo dược có thể bị ngộ độc dược chất.

Mua trà cần có nguồn gốc rõ ràng, dùng đúng hướng dẫn sử dụng, xem kỹ xuất xứ, hạn sử dụng. Không nên mua nguyên cây về nấu uống vì rất khó xác định nguồn gốc, độ an toàn (do khi trồng dùng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc kích thích tăng trưởng, nguồn nước ô nhiễm…) hoặc sơ chế không đảm bảo vệ sinh, sẽ hại cho sức khỏe.

Ai không nên uống trà thảo dược?

Theo ông Nguyễn Xuân Hướng, nguyên Chủ tịch Trung ương Hội Đông y Việt Nam, người có sức khỏe bình thường có thể sử dụng trà có nguồn gốc thực phẩm từ rau quả như bí đao, rau má, rau đắng, mướp đắng (khổ qua)… Nhưng có những loại trà thảo dược như: Hoa sơn trà, hoa tam thất, hoàn ngọc, nha đam, lược vàng… có tính chất chữa bệnh, dùng thường xuyên thì tính vị (nóng, lạnh, đắng, cay…) của thuốc sẽ làm cơ thể bị mất cân bằng.

Công dụng của các dược liệu có khác nhau, bào chế, liều dùng, cách dùng cũng tạo đặc trưng (như giải nhiệt chống khát, lợi niệu giải độc, kích thích tiêu hóa, giảm mỡ máu, cải thiện trí nhớ, chống viêm loét tiêu hóa, kháng khuẩn tiêu viêm…). Có loại trà thảo dược hợp với người này, nhưng không hợp với người kia.

Người vừa phẫu thuật hoặc đang dùng thuốc, người bị rối loạn chức năng thận, bệnh tim, viêm loét dạ dày và các vấn đề tâm lý, trẻ nhỏ cơ thể còn non nớt không nên uống trà thảo dược.

Người có bệnh tăng nhãn áp, thiếu máu, bệnh gan các bác sĩ khuyên nên tránh uống trà. Người yếu nếu uống trà thảo dược với tính hàn và vị đắng sẽ làm tổn hại đến dương khí và tì vị, dẫn đến nhiều căn bệnh khác.

Đặc biệt, các bà bầu muốn uống trà phải có ý kiến của bác sĩ, bởi các loại thảo mộc khi pha thành trà, cô đặc và uống quá nhiều sẽ không tốt tới sức khỏe mẹ và thai nhi. Một số loại trà có thể vô tình gây kích thích tử cung, co thắt dạ con (như với trà hoa cúc, thìa là, trà sả, ma hoàng, rễ cam thảo, lá mâm xôi, hoa hồi, cây ngải đắng, cây hương thảo…).

Nếu không có bệnh lý về gan, không có y lệnh thì bà bầu tuyệt đối không dùng nhân trần, cam thảo (kẻo cơ thể thải nhiều nước và dinh dưỡng sẽ khiến thai bị suy dinh dưỡng, sinh non hoặc thiếu cân, chết lưu…).

Phụ nữ mới sinh con không uống nhiều trà thảo dược vì dễ có nguy cơ hậu sản. Người mẹ uống nhiều có thể dẫn đến bị mất sữa hoặc ít sữa.

Phụ nữ kỳ kinh nguyệt mất rất nhiều máu, thiếu chất sắt, nếu uống trà thảo dược tính hàn vào càng hại cho dạ dày, còn gây chóng mặt, đau bụng.

Trà thảo dược là dược liệu, vì vậy không thể uống nhiều một lúc, càng không thể dùng lâu. Hầu hết trà thảo dược lợi tiểu, do đó không nên uống trước khi đi ngủ, khi đói (nhất là khi vừa ngủ dậy vì sẽ ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa). Không nên uống trà thảo dược ngay sau bữa ăn vì chất tanin sẽ làm protein trong thức ăn trở nên cứng, khó tiêu… Không nên uống trà để qua đêm. Cũng không ngâm trà thảo dược trong ấm trước lúc đi ngủ để sáng hôm sau dậy uống, vì không khoa học và ảnh hưởng đến sức khỏe.

Phương Thuận – Trà Giang
Theo gia đình

Mất ngủ do suy nhược thần kinh

Mất ngủ hay khó ngủ là chứng bệnh gây giảm chất lượng cuộc sống của rất nhiều người. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất ngủ nhưng điển hình nhất là chứng suy nhược thần kinh.

Đối với mỗi người, giấc ngủ là tình trạng nghỉ ngơi tự nhiên theo chu kỳ của thể xác và tâm thần. Trong khi ngủ, người ta thường nhắm mắt và mất ý thức một phần hay hoàn toàn, do đó sẽ giảm các vận động cũng như phản ứng đối với kích thích bên ngoài. Giấc ngủ có vai trò rất quan trọng, giúp cơ thể nghỉ ngơi và phục hồi năng lượng. Thời gian ngủ trung bình của một người bình thường khoảng 7-8 tiếng mỗi ngày (dao động từ 4-11 tiếng).

Một số biểu hiện của hiện tượng mất ngủ bao gồm: khó ngủ hay khó duy trì giấc ngủ, dậy quá sớm, ngủ dậy vẫn cảm thấy mệt. Nếu mất ngủ thoáng qua sẽ gây trạng thái buồn ngủ, vẻ mặt kém linh hoạt. Còn khi mất ngủ kéo dài, người bệnh cảm thấy mệt mỏi, trầm cảm, dễ cáu gắt, giảm sức tập trung chú ý. Đặc biệt, dù mất ngủ thoáng qua hay kéo dài cũng đều ảnh hưởng đến khả năng làm việc, học tập, dễ gây tai nạn khi lái xe, vận hành máy móc,…

mat-ngu-do-suy-nhuoc-than-kinh

Ước tính khoảng 35-50% trường hợp mất ngủ mạn tính có liên quan đến bệnh lý tâm thần, điển hình là suy nhược thần kinh hay còn gọi là tâm căn suy nhược. Theo Y học cổ truyền, suy nhược thần kinh gây ra do chức năng của tạng tâm và can mất thăng bằng “tâm chủ thần” do đó, một khi chức năng này bị ảnh hưởng sẽ gây ra các chứng lo âu, mất ngủ, trầm cảm. Ngoài ra, can chủ về tức giận, cáu gắt. Nếu chức năng này của can không được tốt, sẽ làm cho việc sơ tiết của can kém đi, ảnh hưởng nhiều đến hoạt động tinh thần mà xuất hiện các chứng ngủ không yên giấc, nặng thì xuất hiện một số bệnh về tinh thần. Bên cạnh đó, can còn có chức năng “chủ huyết”, là kho dự trữ huyết và điều tiết huyết cho cơ thể. Khi chức năng này kém đi sẽ dẫn đến huyết không được lưu thông tốt và gây đau nhức. Nếu huyết không thu về can khi nghỉ ngơi sẽ xuất hiện triệu chứng bồn chồn, khó ngủ.

Để điều trị mất ngủ do suy nhược thần kinh, hướng điều trị là người bệnh cần có chế độ lao động, dinh dưỡng, nghỉ ngơi hợp lý, kết hợp với thuốc giúp thăng bằng lại chức năng của tâm can, giúp dưỡng tâm, an thần, sơ can, hành khí, giải uất, bổ huyết, hành huyết…

Từ xa xưa, Y học cổ truyền đã sử dụng hợp hoan bì (vỏ cây hợp hoan) – cây thuốc quý đã được sử dụng làm thuốc hơn 2000 năm qua giúp giải căng thẳng, làm tinh thần hoan hỷ, vui vẻ, do đó có tên là hợp hoan. Người Nhật Bản gọi cây này “nemu-no-ki” hay “nebu-no-ki”, trong đó “nemu” có nghĩa là ngủ (cách gọi này dựa trên hiện tượng của lá cây cụp lại vào ban đêm).

Để tăng cường tác dụng của hợp hoan bì, ngày nay, các nhà khoa học đã sử dụng vị thuốc này làm thành phần chính, kết hợp cùng các thảo dược quý như: ngũ vị tử, viễn chí, hồng táo, toan táo nhân có tác dụng dưỡng tâm, an thần kinh, hành khí, giải uất, phá ứ và tăng cường lưu thông máu. Để tiện cho việc sử dụng của người bệnh, bài thuốc trên đã được bào chế theo dây chuyền công nghệ hiện đại, dưới dạng viên nén tiện dụng có tên là thực phẩm chức năng Kim Thần Khang. Sản phẩm Kim Thần Khang có tác dụng dưỡng tâm, an thần kinh, giải trầm uất, tăng cường lưu thông máu, giúp hỗ trợ điều trị tình trạng mất ngủ, khó ngủ và các triệu chứng khác của suy nhược thần kinh như: đau đầu, đau nhức mình mẩy, hư phiền, hồi hộp, đánh trống ngực, căng thẳng thần kinh, suy nhược dễ bị kích thích; giúp làm giảm hẳn các triệu chứng trầm cảm, lo âu, nghi bệnh, stress. Sản phẩm có tác dụng cải thiện sức khỏe toàn trạng của cơ thể, cải thiện tình trạng kém ăn, suy giảm trí nhớ, khó tập trung, suy nhược thần kinh, suy nhược cơ thể…

Để hỗ trợ điều trị các trường hợp mất ngủ do suy nhược thần kinh, nên dùng Kim Thần Khang với liều 2-4 viên/lần x 2 lần/ngày. Để nâng cao sức khỏe tâm, thần kinh, phòng ngừa suy nhược thần kinh và các triệu chứng nên dùng Kim Thần Khang với liều 1-3 viên/lần x 2 lần/ngày. Uống trước bữa ăn 30 phút và dùng 1 đợt liên tục từ 3-6 tháng để có kết quả tốt nhất.

Theo gia đình

Uống trà có tác dụng phòng, chữa bệnh

Một số loại trà có tác dụng chữa bệnh này thì các loại trà khác lại tốt hơn để phòng ngừa bệnh khác. Vì vậy, hãy chọn loại trà thích hợp với sức khỏe của mình.

Rõ ràng, các loại trà đều chứa chất chống oxy hóa nên trà được coi là thức uống có khả năng giúp cơ thể tránh bệnh tật và trung hòa các gốc tự do – những phân tử tự nhiên gây thiệt hại cho tế bào khỏe mạnh trong cơ thể, đặc biệt là các bệnh tim mạch, Alzheimer và cả bệnh ung thư…

Mặc dù tất cả các loại trà đều có chứa chất chống oxy hóa tốt cho sức khỏe – nhưng không phải với cùng lưu lượng như nhau. Vậy nên, đối với một số loại trà có tác dụng chữa bệnh này thì các loại trà khác lại tốt hơn để phòng ngừa bệnh khác. Do vậy, tùy theo tình trạng sức khỏe của bạn ở từng thời điểm mà chọn loại trà thích hợp cho mình nhé.

– Nếu bạn đang chiến đấu với tình trạng lên cân – béo phì: Hãy uống trà trắng

uong-tra-co-tac-dung-phong-chua-benh

Trà trắng là loại trà ít được chế biến nhất từ cây camellia sinensis (tên khoa học của cây trà). Loại trà này chứa chất chống oxy hóa polyphenol cao nhất nên có tác dụng giúp giảm cholesterol, giảm huyết áp, giúp virus và vi khuẩn chậm phát triển…

Trong một nghiên cứu năm 2009 của Đức đã thấy rằng chiết xuất trà trắng giúp ngăn chặn sự tăng trưởng của các tế bào mỡ mới, đồng thời kích thích sự phá vỡ những tế bào chất béo đang tồn tại trong cơ thể, do đó dễ dàng giúp bạn giảm cân.

– Nếu bạn có nguy cơ mắc bệnh tim mạch: Hãy uống trà xanh

Trà xanh không những có tác dụng làm dịu tâm trạng mà còn tốt cho tim của bạn. Trà xanh chứa nhiều chất chống oxy hóa gọi là catechin – một dạng đặc biệt của epigallocatechin gallate (EGCG). Chất chống oxy hóa này đặc biệt mang lại lợi ích cho sức khỏe tim mạch.

Theo Tiến sĩ Sandra Davidge, một giáo sư tại Đại học Alberta ở Edmonton và là tác giả của một bài nghiên cứu năm 2008 về EGCG thì catechin hoạt động như một chất chống viêm giúp bảo vệ các tế bào lót bên trong các mạch máu. “Sức khỏe của các tế bào này là rất quan trọng, nếu chúng bị hư hỏng hoặc bị suy giảm có thể dẫn tới tình trạng huyết áp cao và các vấn đề tim mạch khác”, cô nói.

– Nếu bạn đang lo lắng: Hãy uống trà hoa cúc
uong-tra-co-tac-dung-phong-chua-benh-hoa-cuc
Kết quả của một nghiên cứu ngẫu nhiên được công bố trên Tạp chí Clinical Psychopharmacology năm 2009 cho thấy trà hoa cúc có thể giúp ích trong điều trị rối loạn lo âu của con người. Theo giải thích của Evelyn Coggins – một chuyên gia về thực phẩm ở Pemberton, BC thì hoa cúc được coi là một liều thuốc an thần rất tốt.

Trà hoa cúc có chứa apigenin – một chất flavonoid và có hiệu quả chống lo âu, khi liên kết với các thụ thể tương tự trong não sẽ có tác dụng như một loại thuốc giảm đau.

– Nếu bạn dễ bị vấn đề tiêu hóa: Hãy uống hồng trà

Không chỉ không chứa caffeine mà hồng trà còn chứa nhiều flavonoid, rooibos – các chất chống oxy hóa có đặc tính kháng viêm tốt. Theo Tiến sĩ Nabeel Ghayur, một nghiên cứu sinh tại Đại học McMaster ở Hamilton, người đồng tác giả của một bài nghiên cứu năm 2006 về những lợi ích sức khỏe của rooibos thì tác dụng chống viêm này có thể giúp giảm các rắc rối liên quan đến tiêu hóa.

“Flavonoids và rooibos đóng góp vào sự thư giãn của cơ bắp ruột và các mô ruột nên có thể chống lại những ảnh hưởng không tốt đến dạ dày và sự tiêu hóa”, Tiến sĩ Nabeel Ghayur nói.

– Nếu bạn bị cao huyết áp: Hãy uống trà hoa dâm bụt

Theo kết quả từ một nghiên cứu năm 2009 của Đại học Tufts ở Massachusetts thì người uống 3 tách trà dâm bụt mỗi ngày sẽ giảm đáng kể tình trạng huyết áp cao.

Trà dâm bụt có chứa một chất chống oxy hóa mà các nhà khoa học tin rằng có thể giúp mở rộng mạch máu, cho phép máu lưu thông tự do hơn.

– Nếu bạn muốn phòng bệnh ung thư: Hãy uống trà xanh

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh hiệu ứng chống ung thư của trà xanh. Trà xanh không chỉ có tác dụng giảm nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ và ung thư tuyến tiền liệt cao ở nam giới mà nó còn được chứng minh là giúp ngăn ngừa hoặc làm chậm tiến triển của các bệnh ung thư khác.

Richard Beliveau, giáo sư hóa sinh tại Đại học Quebec ở Montreal và là giáo sư giải phẫu và sinh lý học tại Đại học Montreal, cho biết chất chống ung thư ố trong trà xanh chính là catechin. “Catechin can thiệp vào quá trình phát triển của bệnh ung thư”, ông giải thích.

Ngoài ra, trà xanh rất giàu chất phytochemical – chất được biết như là chất polyphenol có hoạt động chống oxy hóa. Điều này nghĩa là chúng có ảnh hưởng chế ngự sự phát triển của các phân tử bệnh, loại bỏ gốc tự do trong cơ thể và giúp tránh khỏi bệnh ung thư.

Nguồn afamily

Tác dụng của Hạt sen : dưỡng tâm, an thần, ngon, mát, bổ

Hạt sen dùng cho các trường hợp: tỳ hư tiết tả (tiêu chảy), tiêu chảy lỏng, lỵ dài ngày, hồi hộp mất ngủ, cơ thể suy nhược.

Tất cả các bộ phận của cây sen đều được dùng làm thuốc trong y học cổ truyền. Đặc biệt, hạt sen có nhiều dưỡng chất (tinh bột, protein, lipid, bêta-amyrin, anpha-amyrin, stigmasterol, bêta-sitosterol, campestola, Ca, P, Fe…), không những là nguyên liệu để chế biến nhiều món ngon trong ngày hè như chè hạt sen, cháo gà hạt sen, cơm chiên hạt sen… mà còn là vị thuốc quý cho sức khỏe.
7d7hatsen

Hạt sen tên thuốc là liên nhục, có vị ngọt, chát, tính bình; vào các kinh: tâm, tỳ và thận. Có tác dụng dưỡng tâm an thần, ích thận, bổ tỳ, sáp tràng, an thai, lợi thủy. Dùng cho các trường hợp di tinh đái hạ, tỳ hư tiết tả (tiêu chảy), tiêu chảy lỏng, lỵ dài ngày, hồi hộp mất ngủ, cơ thể suy nhược. Hằng ngày có thể dùng 12g – 20g dưới dạng nấu, hầm, tán bột, làm mứt…

Một số cách dùng hạt sen làm thuốc

Dưỡng tâm, an thần:toan táo nhân 12g, hạt sen 12g, viễn chí 12g, phục thần 12g, hoàng kỳ 12g, đảng sâm 12g, cam thảo 4g, trần bì 6g. Sắc uống. Trị chứng hư lao tâm phiền không ngủ được, tim đập hồi hộp, đầu váng, mắt hoa…

Kiện tỳ, cầm tiêu chảy:hạt sen 16g, hoàng liên 6g, đảng sâm 12g. Sắc uống. Dùng trị chứng tỳ hư tiết tả, lỵ lâu ngày không khỏi.

Ích thận, cố tinh: hạt sen, ba kích, bổ cốt chỉ, sơn thù, long cốt, phụ tử, phục bồn tử. Các vị liều lượng bằng nhau. Nghiền chung thành bột mịn, dùng hồ nếp làm hoàn. Mỗi lần uống 12g, vào lúc đói, chiêu với nước muối loãng. Dùng trị chứng thận hư, di tinh, băng lậu, đới hạ…

Một số món ăn – bài thuốc có hạt sen

Chè bột trứng gà hạt sen:hạt sen 30g, đường 30g, rượu 30ml, trứng gà 1 quả. Nấu hạt sen chín nhừ, cho đường, rượu và lòng đỏ trứng, khuấy tan. Đun sôi lại, cho ăn trước khi đi ngủ. Dùng cho các trường hợp bị bệnh lâu ngày, người cao tuổi, sau đẻ, cơ thể suy nhược.

Chè hạt sen củ súng:hạt sen 30g, củ súng 30g, đường liều thích hợp. Nấu chè cho ăn vào bữa điểm tâm buổi sáng. Dùng cho các trường hợp di tinh, tảo tiết, đái hạ huyết trắng, kinh nguyệt quá nhiều, tiểu đêm nhiều.

Hạt sen hầm thịt lợn: hạt sen 30g, thịt lợn nạc 150g, thêm gia vị hầm nhừ. Ăn ngày 1 lần. Dùng cho các trường hợp doạ sẩy thai, sẩy thai liên tiếp, phụ nữ có thai đau lưng.

Cháo hạt sen:hạt sen 30g, gạo tẻ 150g. Nấu cháo, thêm đường hoặc muối. Dùng cho các trường hợp suy nhược cơ thể, tiêu lỏng dài ngày.

Kiêng kỵ: Hạt sen tính bình không độc, không có cấm kỵ đặc biệt nhưng các trường hợp đầy bụng, không tiêu, táo bón nên hạn chế.

Theo Sức khoẻ & Đời sống

Bệnh viêm quanh khớp vai: Chớ nên coi thường (kỳ II)

Kỳ 2: Điều trị và dự phòng viêm quanh khớp vai

Viêm quanh khớp vai bao gồm các trường hợp đau và hạn chế vận động của khớp vai do tổn thương phần mềm quanh khớp vai như gân cơ, dây chằng, bao khớp. Trong 10 trường hợp đau vùng khớp vai thì có tới 9 trường hợp do viêm quanh khớp vai, tức là không phải đau ở khớp vai mà là đau xung quanh khớp vai. Nguyên nhân của bệnh rất phong phú, chủ yếu là do chấn thương, do thời tiết lạnh và ẩm, các bệnh vùng cổ, ngực, bệnh lý thần kinh.

benh_viem_quanh_khop_vai_cho_nen_coi_thuong_ky2

Hậu quả của điều trị không đúng hoặc không được điều trị

Bệnh viêm quanh khớp vai nếu điều trị không đúng thì sẽ tiến triển nặng dần, dẫn đến các biến chứng đứt gân, khiến khả năng phục hồi rất khó khăn. Bệnh nhân bị đau đớn, hạn chế vận động kéo dài sẽ bị trầm cảm, lo lắng, ảnh hưởng lớn đến khả năng làm việc, sinh hoạt và giấc ngủ. Khớp vai có thể bị đông cứng, giả liệt, gây tàn phế cho bệnh nhân. Ngoài ra bệnh nhân có thể phải gánh chịu các tai biến do dùng thuốc hay thủ thuật như bị nhiễm khuẩn khớp vai hay áp-xe cơ vùng vai, dị ứng thuốc, có thể dẫn đến tử vong. Để tránh các hậu quả của viêm quanh khớp vai khi bị đau vai, bệnh nhân cần đến bệnh viện  khám ngay để được chẩn đoán đúng và điều trị bệnh kịp thời.

Các phương pháp điều trị bệnh viêm quanh khớp vai

Điều trị viêm quanh khớp vai bao gồm điều trị đợt cấp và điều trị duy trì. Điều trị đợt đau cấp làm giảm nhanh chóng các triệu chứng đau vai, góp phần sớm phục hồi được chức năng vận động của khớp. Điều trị duy trì có mục tiêu phục hồi các mô bị tổn thương, tăng cường sức mạnh của khớp vai và tránh tái phát bệnh. Bệnh nhân cần xác định thái độ kiên trì và hợp tác với bác sĩ, tránh nôn nóng, chạy chữa hết nơi này đến nơi khác… Điều trị viêm quanh khớp vai phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau như nội khoa, ngoại khoa, vật lý trị liệu, phục hồi chức năng và cả Đông y. Ở bệnh viện bác sĩ có thể kê đơn thuốc giảm đau, chống viêm (celebrex, mobic), giãn cơ (myonal), an thần hay tiêm thuốc chống viêm corticoid tại chỗ vào vùng bao gân cơ bị tổn thương. Có thể áp dụng các biện pháp vật lý trị liệu như chườm lạnh, hay dùng đèn hồng ngoại, laser, sóng ngắn, vi sóng, điện từ trường. Có thể chườm lạnh bằng cách lấy nước đá viên cho vào túi ni lông rồi chườm lạnh vùng vai đau trong 5-10 phút. Khi vai đỡ đau thì mới được vận động nhẹ nhàng. Cũng có thể xoa bóp, bấm huyệt, châm cứu. Khi cần cũng có thể dùng cồn thuốc đắp trên vùng khớp vai bị đau. Cánh tay được nghỉ ngơi sẽ hồi phục dần dần mà không cần phải phẫu thuật. Đa số bệnh nhân viêm quanh khớp vai có thể khỏi bệnh sau 6 tháng đến 3 năm. Chỉ có các vận động viên thể thao trẻ, sau khi được điều trị bằng nhiều phương pháp khác nhau mà không khỏi mới có thể tính đến phẫu thuật. Ngoài ra trong trường hợp bị đứt gân cơ quanh vai có thể chỉ định phẫu thuật nối gân.

Chế độ sinh hoạt, vận động thế nào khi bị viêm quanh khớp vai?

Trong giai đoạn đau vai cấp tính cần phải để cho vai được nghỉ ngơi. Khi bị đau vai  ít thì chỉ cần tránh không cử động tay bên vai bị đau. Khi đau vai nhiều thì cần cố định cánh tay bên vai đau bằng một cái khăn đeo vào cổ để cho cơ vai được nghỉ ngơi dưỡng thương. Sau khi điều trị có hiệu quả thì bắt đầu tập luyện để phục hồi chức năng khớp vai. Tuy nhiên các bài tập luyện bao giờ cũng phải dần dần, từ nhẹ đến nặng, từ dễ đến khó, không được quá sức. Cần phải luyện tập thường xuyên vùng khớp vai trong 1-2 năm. Có thể tập thái cực quyền. Để phòng tránh bệnh nên kiên trì tập luyện sức khỏe ngay từ khi còn trẻ để phòng tránh quá trình thoái hóa vai khi đến tuổi trung niên. Mùa hè tránh để gió thổi vào người quá lâu. Khi bị mưa ướt cần phải tắm bằng nước nóng ngay. Tăng cường giữ ấm vào mùa đông, ban đêm ngủ nên tránh để lộ vai ra ngoài. Tránh lao động quá mức trong thời gian dài. Tăng cường dinh dưỡng, nâng cao sức đề kháng của cơ thể. Bệnh nhân cũng cần được an ủi về mặt tâm lý, tránh những biểu hiện lo âu, căng thẳng, lo lắng vì bệnh tật. Cũng cần chăm sóc bệnh nhân trong sinh hoạt hằng ngày.

Theo SKĐS