Tag Archives: ăn măn

Ăn quá mặn làm tăng nguy cơ một số bệnh nguy hiểm

Bệnh tim mạch, bao gồm cả nhồi máu cơ tim và đột quỵ đang là một trong 10 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu thế giới. Hiện nay ước tính mỗi năm có khoảng 17,3 triệu người trên thế giới chết vì những bệnh lý liên quan đến tim mạch.

“Kẻ thù số một” của trái tim

Ăn mặn đã là thói quen của rất nhiều người và đó cũng là nguyên nhân chính gây bệnh cao huyết áp. TS-BS Trần Thị Minh Hạnh, Trưởng Phòng Dinh dưỡng cộng đồng, Trung tâm Dinh dưỡng TPHCM, giải thích khi ăn nhiều muối, chúng ta đã vô tình đưa nhiều natri vào trong cơ thể. Tuy natri rất quan trọng cho cơ thể nhưng khi hàm lượng natri trong máu tăng, thận sẽ phải làm việc không ngừng để lọc máu.

Nếu lượng natri trong máu cao vượt khả năng lọc của thận, sẽ làm gia tăng áp lực thẩm thấu trong lòng mạch. Hậu quả là nước sẽ di chuyển vào bên trong lòng mạch theo áp lực thẩm thấu gây tăng thể tích máu. Điều này dẫn đến tăng huyết áp và tăng gánh nặng hoạt động của tim, nghĩa là tim phải bơm một lượng máu lớn hơn bình thường với áp lực cao, về lâu dài sẽ dẫn đến suy tim.

an-man

Do đó, việc cắt giảm đi số lượng muối không cần thiết mà chúng ta ăn hằng ngày sẽ giúp chúng ta tránh mắc phải những bệnh lý về tim mạch. Kết quả của một nghiên cứu gần đây của Trường Đại học California (Mỹ) cho thấy nếu khi còn trẻ chúng ta giảm sử dụng khoảng 3.000 mg muối ăn/ngày thì khi về già có thể giảm được 30% – 43% nguy cơ mắc bệnh tăng huyết áp.

Ngoài ra nghiên cứu cũng cho thấy, nếu giảm ăn muối suốt thời gian khi còn trẻ đến 50 tuổi thì sẽ giảm 7% – 12% nguy cơ mắc bệnh động mạch vành, giảm từ 8% – 14% nguy cơ mắc bệnh tim và giảm từ 5% – 8% nguy cơ mắc bệnh đột quỵ.

Ăn bao nhiêu muối là vừa?

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), để giữ sức khỏe tốt, một người bình thường không nên ăn quá 6 g muối/người/ngày (tương đương 1 muỗng cà phê muối). Cần lưu ý lượng muối cho phép ăn vào ở đây không chỉ là muối ăn mà còn là muối ẩn chứa trong các thực phẩm khác. Trong khi đó, Viện Dinh dưỡng cho biết người Việt Nam hiện nay đang dùng muối lên đến 18-22 g/người/ngày, cao gấp 3 lần so với khuyến cáo.

Sở dĩ có tình trạng trên là bởi từ xa xưa, người Việt Nam đã quen dùng muối để tạo các gia vị mặn như nước mắm, nước tương, tương, chao,… và dùng muối để bảo quản thức ăn tránh hỏng như các loại mắm, khô cá, các loại rau cải muối chua,… Bên cạnh đó, theo xu hướng của cuộc sống hiện đại, chúng ta lại sử dụng nhiều loại thực phẩm chế biến sẵn thường chứa lượng muối cao gấp đôi so với lượng muối dùng trong thức ăn chế biến tại gia đình mà chúng ta thường ít để ý đến.

Vì vậy, giảm lượng muối ăn hằng ngày trong món ăn, vừa giữ gìn sức khỏe mà vẫn vừa cảm thấy ngon miệng đang là mối quan tâm của nhiều người. Theo BS Minh Hạnh, để làm được điều này, chúng ta phải tập dần dần, không thể giảm đột ngột (trừ các trường hợp bị các bệnh lý mà bác sĩ chỉ định phải ăn nhạt). Chúng ta nên bắt đầu giảm muối từng bước một như: chọn các loại nước chấm có công thức giảm mặn, pha loãng thay vì ăn nguyên chất, nêm thức ăn nhạt hơn thói quen ăn uống bình thường, hạn chế các món chế biến mặn, thực phẩm chế biến sẵn…

Đồng thời, các bà nội trợ có thể chủ động bảo vệ sức khỏe của gia đình mình bằng cách tích cực tìm hiểu các cách chế biến món ăn lành mạnh mà không cần dùng nhiều muối. Cả gia đình nên ăn giống nhau và cùng giảm muối, chứ không kiêng riêng cho một người vì sẽ khó thực hiện. Các bà mẹ cũng nên tập cho trẻ thói quen ăn ít muối ngay từ nhỏ để hình thành thói quen ăn uống tốt cho sức khỏe.

Nguồn giáo dục

Chữa mắt sưng bằng dưa leo

Nghiên cứu của các chuyên gia y học Đức cho biết dưa chuột có tác dụng rất tốt để chữa mắt sưng.

Nhiều người buổi sáng khi tỉnh dậy hoặc ngồi làm việc cả ngày trước máy tính, thường bị hiện tượng sưng mọng mắt. Qua nghiên cứu, các chuyên gia y học xác định nguyên nhân gây sưng mọng mắt là trong khi ngủ có một lượng bạch huyết (Lymphe) bị ngưng đọng ở lớp da quanh vùng mắt. Hiện tượng này thường xảy ra trong trường hợp ngủ ít, ăn mặn hoặc nhìn lâu vào màn hình.

chua-mat-sung-bang-dua-leo

Để khắc phục tình trạng này, các chuyên gia khuyên trước hết là nên ngủ đủ giờ, mặt khác có thể sử dụng một số “mẹo” để giúp mắt nhanh chóng trở lại trạng thái bình thường như đơn giản nhất là dùng dưa chuột cắt lát đắp lên vùng mắt bị sưng 10 đến 15 phút, cũng có thể làm tương tự với bông thấm sữa lạnh, thìa kim loại để lạnh, nhưng không được lạnh quá sẽ gây tổn hại cho mắt, cơ quan rất nhạy cảm.

Tuy nhiên, các bác sĩ cũng cảnh báo nếu sáng ngủ dậy mắt không chỉ bị sưng mà còn ngứa và bỏng rát, lông mi dính bết vào nhau thì không phải do tích tụ của Lymphe, mà nguyên nhân là do dị ứng hoặc viêm nhiễm. Trường hợp này cần phải đến khám ở bác sĩ chuyên khoa.

Theo TTXVN/Vietnam+

Tìm hiểu bệnh xơ vữa động mạch

Xơ vữa động mạch là tổn thương trong đó một khối vật chất bất thường tạo thành bên trong động mạch, nó bám lên thành động mạch làm cho lòng động mạch bị hẹp lại, hậu quả là sự vận chuyển máu trong cơ thể bị cản trở, thiếu máu nuôi các bộ phận cơ thể do động mạch chi phối.

Tại sao lại bị xơ vữa động mạch?

Xơ vữa động mạch là sự thu hẹp của động mạch do các mảng bám được tạo thành trong lòng mạch máu. Xơ vữa động mạch có thể xảy ra, ảnh hưởng đến bất kỳ động mạch nào trong cơ thể, bao gồm cả động mạch ở tim, não, cánh tay, chân, xương chậu và thận.

image description

Đến nay, khoa học vẫn chưa biết rõ nguyên nhân gây xơ vữa động mạch. Các nghiên cứu cho thấy rằng, xơ vữa động mạch là một bệnh tiến triển chậm và phức tạp có thể bắt đầu trong thời thơ ấu, phát triển nhanh hơn khi cao tuổi. Xơ vữa động mạch có thể bắt đầu xảy ra khi các lớp bên trong của động mạch bị tổn thương bởi các yếu tố: hút thuốc lá thuốc lào; số lượng một số chất béo và cholesterol trong máu tăng hơn bình thường; bị bệnh tăng huyết áp; mức đường trong máu cao hơn bình thường; hít phải khói thuốc lá rất nhiều sẽ làm trầm trọng thêm và đẩy nhanh sự phát triển của xơ vữa động mạch trong động mạch vành, động mạch chủ và động mạch ở chân; người ít hoạt động thể chất; người có thói quen ăn ít rau, ăn nhiều chất béo bão hòa, ăn mặn, ăn quá ngọt; người có cha mẹ hoặc anh chị em bị xơ vữa động mạch; bệnh nhân bị bệnh tim mạch; ô nhiễm không khí… Do thành mạch bị tổn thương, cùng với thời gian, chất béo, cholesterol, tiểu cầu, tế bào mảnh vỡ và canxi lắng đọng trên thành động mạch. Các chất này có thể kích thích các tế bào của thành động mạch tạo ra các chất khác tiếp tục làm dày khối xơ vữa dẫn đến có nhiều tế bào tích tụ trong lớp áo trong của thành động mạch, nơi có tổn thương xơ vữa động mạch. Các tế bào này tích lũy lại, trong đó có nhiều tế bào vỡ ra. Đồng thời, chất béo cũng đọng lại xung quanh các tế bào này. Các mảng xơ này có thể dính lại với nhau hình thành cục máu đông.

Biểu hiện của xơ vữa động mạch

Xơ vữa động mạch là một bệnh diễn tiến chậm, âm thầm và thường không có dấu hiệu ban đầu nên hầu hết người bệnh đều không biết mình có bệnh cho đến khi động mạch bị hẹp một cách trầm trọng hoặc bị tắc hoàn toàn một động mạch. Nguy hiểm hơn, đến khi phải đi cấp cứu khẩn cấp như đau tim hay đột quỵ bệnh nhân mới biết mình bị bệnh. Một số người chú ý đến sức khỏe có thể phát hiện được các triệu chứng như đau ngực hoặc phát ban. Nhìn chung, các triệu chứng của bệnh phụ thuộc vào động mạch bị tổn thương. Xơ vữa động mạch cảnh là động mạch cung cấp máu lên não, khi bị hẹp có thể bị đột quỵ với triệu chứng: đột ngột suy yếu, khó thở, nhức đầu, nói khó, tê liệt, nhìn khó một mắt hoặc cả hai mắt.

Xơ vữa động mạch vành là động mạch cung cấp máu nuôi tim, nếu sự cung cấp máu đến tim bị thiếu, có thể gây đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim, với các triệu chứng: nôn mửa, hốt hoảng, đau ngực, ho…

Xơ vữa động mạch thận là động mạch cung cấp máu đến thận, nếu việc cung cấp máu bị hạn chế sẽ gây tổn thương thận mạn tính. Bệnh nhân có các triệu chứng: mất cảm giác ngon miệng, phù bàn tay và bàn chân, khó tập trung…

Xơ vữa động mạch ngoại biên là các động mạch chân tay, hay gặp ở động mạch chân bị xơ vữa. Các triệu chứng phổ biến nhất là đau chân ở một hoặc cả hai chân, vị trí ở bắp chân, đùi và mông. Tính chất đau: nặng nề ở chi dưới, chuột rút, các cơ bắp chân. Các triệu chứng khác có thể là: rụng lông chân, ở nam có rối loạn cương dương, tê ở chân, màu sắc của da chân thay đổi, chân yếu…

Khám thấy âm thổi đó là một dấu hiệu của mạch máu bị hẹp dẫn tới việc thay đổi dòng chảy trong mạch; giảm huyết áp ở chi; phình mạch ở gối và bụng; mất mạch hoặc giảm cường độ của mạch; siêu âm, chụp cắt lớp thấy tổn thương xơ vữa động mạch. Do thiếu máu làm cho vết thương ở chi lâu lành…

Điều trị và phòng bệnh

Mục đích điều trị nhằm làm giảm triệu chứng, giảm các yếu tố nguy cơ gây xơ vữa động mạch; giảm nguy cơ hình thành cục máu đông; phòng ngừa xơ vữa động mạch… Bệnh nhân cần thực hiện ăn uống lành mạnh, năng hoạt động thể chất, phòng tránh thừa cân. Điều trị nội khoa: dùng thuốc để ngăn chặn sự hình thành mảng xơ vữa, dùng các thuốc để giảm cholesterol, thuốc hạ huyết áp…

Phẫu thuật để điều trị các trường hợp xơ vữa động mạch nặng, nong mạch vành hoặc bắc cầu động mạch vành…
Phòng tránh xơ vữa động mạch bằng các biện pháp: ăn thực phẩm giàu chất xơ, giảm ăn mặn, giảm các loại thức ăn có nhiều cholesterol; hạn chế uống rượu bia; tập thể dục đều đặn hàng ngày; bỏ hút thuốc lá thuốc lào; tránh căng thẳng về thể chất và tinh thần…

Theo SKDS

Dự phòng tai biến mạch máu não

Để dự phòng tai biến mạch máu não (TBMMN) nên thực hiện đúng những điều sau:

– Những người trên 50 tuổi nên được kiểm tra huyết áp định kỳ, ít nhất là một năm 2 lần, đồng thời làm các xét nghiệm kiểm tra các yếu tố nguy cơ như tiểu đường, mỡ máu…

– Quản lý và điều trị tốt các yếu tố nguy cơ của TBMMN nhất là tăng huyết áp, tiểu đường, tăng mỡ máu… bằng thuốc theo chỉ định của thầy thuốc chuyên khoa (điều trị dự phòng cấp I).

tai-bien

– Đối với những người đã mắc TBMMN cần phải tuân thủ điều trị dự phòng cấp II để tránh tái phát lần sau: điều trị thuốc chống ngưng tập tiểu cầu (aspegic, plavix, disgren…) đối với thể nhồi máu não và điều trị tốt các yếu tố nguy cơ.

– Thay đổi các thói quen có hại cho sức khoẻ như uống rượu, hút thuốc lá, ăn mặn…

– Đi bộ, tập thể dục đều đặn tránh béo phì, thừa cân…

BS. Khúc Thị Nhẹn

Nguồn sức khỏe & đời sống

Uống nước sai cách cũng gây tổn hại sức khỏe

Nước không thể thiếu cho sức khoẻ của cơ thể. Tuy nhiên, nhiều thói quen uống nước phản khoa học sẽ gây nhiều ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ cơ thể.

có biết, các cây nước nóng lạnh ở gia đình hay văn phòng làm việc lại chính là nơi ẩn náu của rất nhiều loại vi khuẩn trong đó có các loại nấm mốc vi khuẩn đặc biệt nguy hiểm như: E. coli, Staphylococcus gây tiêu chảy?

Ngoài các chất cặn trong nước lâu ngày tích tụ trong bình chứa nước, việc đóng mở van nước hàng ngày cũng là cách nhanh nhất để vi khuẩn xâm nhập, sinh sôi và phát triển.

Do vậy, hãy vệ sinh và lau rửa bình nước thường xuyên để đảm bảo có được nguồn nước sạch.

uong-nuoc-dung-cach

Quên uống nước ngay sau khi ăn mặn

Ăn mặn gây ra áp lực máu cao, cũng có thể dẫn đến giảm tiết nước bọt, làm niêm mạc miệng bị phù nề, do vậy chúng ta thường có phản ứng khát nước ngay sau khi ăn mặn.

Sữa đậu nành là sự lựa chọn lý tưởng cho bạn sau bữa ăn nhiều muối bởi loại nước này chứa 90% thành phần là nuớc, giúp bạn nhanh chóng giảm cảm giác khát cũng như làm trung hoà lượng muối trong cơ thể.

Bạn không nên uống sữa, sữa chua hoặc các loại nước có vị ngọt bởi đường càng làm tăng cảm giác khát.

Không uống nước trước khi ngủ

Thói quen uống nước trước khi ngủ đặc biệt tốt cho người cao tuổi bởi khi ngủ quá trình mất nước trong cơ thể nhanh hơn. Uống nước trước khi ngủ giúp lưu thông mạch máu, giảm nguy cơ đột quỵ và tắc mạch máu não ở người già.

Ngoài ra, trong mùa đông hanh khô, nước cũng có thể “nuôi dưỡng” đường hô hấp, giúp mọi người ngủ ngon hơn.

Theo tiin

Ăn mặn ảnh hưởng nặng nề cho tim mạch

Ăn mặn – Yếu tố nguy cơ của tăng huyết áp và các bệnh lý tim mạch

Bệnh vào từ miệng, đó là câu nói dân dã mà rất đúng. Ăn là nhu cầu đầu tiên và không thể thiếu của mỗi con người, nhưng trên mâm cơm hằng ngày lại tiềm ẩn biết bao nguy cơ gây bệnh nếu không biết cách chế biến đúng hoặc không ăn uống một cách khoa học. Thừa cân – béo phì, tăng huyết áp và các bệnh lý tim mạch có thể đến với bất cứ ai với chế độ ăn không hợp lý trong những bữa cơm hằng ngày.

an-man-gay-kho-so-cho-tim

Muối là một gia vị không thể thiếu trong chế biến các món ăn hằng ngày, nhưng nếu ăn quá nhiều sẽ rất nguy hiểm. Bởi với một chế độ ăn mặn (thừa muối), chúng ta có nguy cơ bị tăng huyết áp (THA) và các biến chứng nặng nề của tăng huyết áp như: đột quỵ, nhồi máu cơ tim, suy tim, suy thận…

Thế nào được gọi là ăn mặn?

Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, người trưởng thành mỗi ngày nên sử dụng ít hơn 6 gam muối (một thìa cà phê), nếu ăn nhiều hơn thì được gọi là ăn mặn.

Người Việt Nam một số vùng miền có thói quen ăn mặn. Ăn cơm phải có nước mắm, dưa cà… Hay những người dân vùng biển cũng có thói quen ăn mặn, uống nước mắm. Có gia đình lại ăn mặn để tiết kiệm thức ăn.

Trong một khảo sát gần đây đã cho biết, người Việt Nam chúng ta đang có khuynh hướng ăn khá nhiều muối. Lượng muối trung bình mỗi người tiêu thụ từ 18 – 22g mỗi ngày, trong khi lượng khuyến cáo không quá 5g. Như vậy, lượng muối ăn đã nhiều gấp 3 – 4 lần so với khuyến cáo. Đây cũng là một trong các yếu tố gây tăng tỷ lệ người bị THA và các bệnh lý tim mạch ở nước ta.

Thói quen ăn mặn ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe và là một trong những yếu tố nguy cơ gây THA và các bệnh lý tim mạch. Với chế độ ăn nhiều muối, nước sẽ được giữ lại trong lòng mạch làm tăng thể tích máu lưu thông, làm tăng áp lực máu trong lòng mạch dẫn tới THA.

Việc sử dụng quá nhiều muối dẫn đến một số bất lợi khác đối với sức khỏe như: giữ nước trong các bệnh suy tim, thận nhiễm mỡ. Gây phù chu kỳ, phù trước kỳ kinh, phù vô căn. Tăng co thắt, kích thích cơn suyễn. Liên quan đến ung thư dạ dày. Tăng thải Ca++ qua thận, tăng nguy cơ loãng xương…

Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, chế độ ăn nhiều muối (natri chlorua) thì tần suất mắc bệnh THA tăng cao rõ rệt. Người dân ở vùng biển có tỷ lệ mắc bệnh THA cao hơn nhiều so với những người ở đồng bằng và miền núi. Nhiều bệnh nhân THA ở mức độ nhẹ chỉ cần ăn chế độ giảm muối là có thể điều trị được bệnh. Chế  độ ăn giảm muối là một biện pháp quan trọng để điều trị  cũng như phòng bệnh THA.

Ăn mặn Tăng huyết áp là gì?

Tăng huyết áp là khi huyết áp tâm thu (HA tối đa) lớn hơn hoặc bằng 140mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương (HA tối thiểu) lớn hơn hoặc bằng 90mmHg.

Các yếu tố nguy cơ của tăng huyết áp: Ăn mặn; Hút thuốc lá, thuốc lào; Đái tháo đường; Rối loạn lipid máu; Thừa cân, béo phì; Uống nhiều rượu, bia; Ít vận động thể lực; Có nhiều stress (căng thẳng, lo âu quá mức); Tuổi cao; Tiền sử gia đình có người bị tăng huyết áp.

Để giảm hơn 50% lượng muối ăn hằng ngày là một thói quen rất khó đối với người dân vùng biển hoặc những người đang quen ăn mặn.

Các chuyên gia của Viện Dinh dưỡng Quốc gia đã gợi ý chế độ ăn giảm muối

– Một chế độ ăn tăng cường thêm nhiều loại gia vị khác nhau để tạo cảm giác bớt nhạt nhẽo như cho thêm vị chua, cay, ngọt.

– Riêng mùa hè, cơ thể bài tiết nhiều mồ hôi hơn mùa đông, vì vậy mỗi người cũng cần ăn tăng thêm một chút muối để bổ sung lượng muối bị mất qua mồ hôi.

– Giảm lượng muối tiêu thụ < 6g/ ngày bằng cách: hạn chế sử dụng những thức ăn chế biến sẵn như mỳ ăn liền, giò chả, lạp xưởng, đồ hộp… Chú ý với những loại thức ăn nhanh, những món ăn công nghiệp luôn có lượng muối khá cao.

– Muối thường được đề cập trong chế độ ăn hằng ngày là muối ăn sodium chloride (NaCl). Tuy nhiên, có nhiều loại muối khác có cùng gốc sodium (natri) tồn tại trong các loại thức ăn, thức uống công nghiệp như: monosodium glutamate (mỳ chính), sodium citrate, sodium bicarbonate… cũng có tác hại tương tự NaCl khi dùng nhiều.

– Giảm những thức ăn mặn như mắm, tương, dưa, cà… trong bữa cơm hằng ngày ở gia đình; Giảm một số thói quen của người Á Đông như chấm muối, chấm nước mắm… khi không thật sự cần; Bớt dùng bột ngọt…

– Giảm các yếu tố bất lợi trong thực phẩm: rượu, bia, cafein, chất béo bão hòa…

– Tăng cường các yếu tố bảo vệ: thực phẩm giàu K, Mg, Ca, các chất chống ôxy hóa, chất xơ… và những thực phẩm có tính chất an thần, lợi tiểu nhẹ… như: rau cải, cà chua, bầu bí, khóm, mía , cam, khoai lang, khoai tây, khoai môn, đậu xanh, đậu đen… (500 – 600g rau trái, 30-40g đậu đỗ/ngày).

ThS. Phạm Trần Linh

Theo SKDS