Trang chủ » Các bệnh thường gặp, Ung thư, Ung thư vú » Nguyên nhân và chuẩn đoán ung thư vú

Nguyên nhân và chuẩn đoán ung thư vú

Các nguyên nhân dẫn đến ung thư vú hiện vẫn chưa được phát hiện đầy đủ. Nguy cơ ung thư vú rất thấp ở các phụ nữ trẻ và tăng cao khi phụ nữ lớn tuổi hơn. Hơn một nửa trường hợp ung thư vú xuất hiện ở phụ nữ trên 65 tuổi.

ungthuvu2

Một số nhân tố có thể làm tăng nhẹ nguy cơ ung thư vú được mô tả như sau:

  • Đã từng bị ung thư vú.
  • Đã từng có bệnh lành tính ở vú ( Carcinoma tiểu thuỳ tại chỗ hoặc tăng sinh tiểu thuỳ không điển hình).

Những  phụ nữ đang và vừa mới sử dụng liệu pháp thay thế hormone cũng có nguy cơ bị ung thư vú cao hơn một chút. Các phụ nữ trẻ sử dụng liệu pháp thay thế hocmone, do mãn kinh sớm hoặc bị cắt bỏ buồng trứng, không có nguy cơ cao bị ung thư vú cho đến khi họ ngoài 50 tuổi.

Uống thuốc tránh thai chỉ làm tăng nhẹ nguy cơ phát triển ung thư vú .
Phụ nữ không sinh con có nguy cơ phát triển ung thư vú cao hơn một chút so với phụ nữ đã sinh con.
Phụ nữ có kinh nguyệt lần đầu sớm (dậy thì sớm) hoặc mãn kinh muộn cũng có nguy cơ bị ung thư vú cao hơn một chút.
Phụ nữ không cho con bú cũng có nguy cơ bị ung thư vú cao hơn một chút so với phụ nữ cho con bú trong thời gian hơn 1 năm.
Tăng cân sau khi mãn kinh cũng làm tăng nhẹ nguy cơ bị ung thư vú.
Uống nhiều rượu trong thời gian dài có thể tăng nhẹ nguy cơ ung thư vú.

Gien di truyền

Một số lượng rất nhỏ (khoảng 5–10%) ung thư vú là do gen di truyền. Hai loại gen gây ung thư vú là: BRCA1 và BRCA2 – các loại khác có thể phát hiện ra trong thời gian tới.

Ung thư vú là một dạng ung thư khá phổ biến, cứ khoảng 1 trong số 9 phụ nữ Anh mắc phải bệnh này. Do đó, trong một gia đình nếu chỉ có 1 hoặc thậm chí là 2 người họ hàng được chuẩn đoán là bị ung thư vú, thì chưa chắc là do gen di truyền. Các thành viên khác trong gia đình sẽ không có nguy cơ cao bị mắc bệnh ung thư vú.

Tuy nhiên, nếu bạn gặp các trường hợp sau đây, bạn nên hỏi ý kiến bác sĩ hoặc tham khảo chuyên khoa về ung thư trong gia đình:

Có 3 người thân ruột thịt (trong cùng một dòng họ) bị ung thư vú hoặc buồng trứng ở bất kỳ độ tuổi nào, hoặc
Có 2 người họ họ hàng thân thích (trong cùng một dòng họ) bị bị ung thư vú hoặc buồng trứng ở dưới độ tuổi 60, hoặc
Có 1 người họ hàng thân thích bị mắc ung thư vú dưới độ tuổi 40, hoặc
Có một người họ hàng là nam giới bị ung thư vú, hoặc
Có một người họ hàng bị ung thư cả hai vú.

CÁC TRIỆU CHỨNG

Đối với hầu hết các phụ nữ, dấu hiệu nhận biết đầu tiên của ung thư vú là một khối u vú không đau. Các dấu hiệu khác gồm:

Thay đổi về kích cỡ và hình dáng của một bên vú
Da vú bị dính, có dạng như lúm đồng tiền
Một khối u hoặc sự dầy lên của mô vú
Một đầu vú bị lõm xuống (lõm vào trong)
Một khối u hoặc chỗ bị dầy lên sau đầu vú
Núm vú tiết ra dịch lỏng có máu (triệu chứng này rất hiếm)
U nách hoặc nách bị sưng to.

Đau  vú hiếm khi là triệu chứng của ung thư vú. Trên thực tế, rất nhiều phụ nữ khoẻ mạnh nhận thấy vú của họ cương lên và đau trước khi có kinh. Một số dạng u vú lành tính cũng có thể gây đau.

PHÁT HIỆN SỚM UNG THƯ VÚ

Chương trình phát hiện sớm ung thư vú

Xin xem phần “Chẩn đoán sớm”

Tự khám vú

Việc làm quen với vú của mình tại các thời điểm khác nhau trong tháng là một điều rất quan trọng. Vì từ đó, bạn có thể nhanh chóng cảm nhận được các thay đổi mà bạn cho là bất thường trong vú của mình.

Chúng tôi xin gợi ý một cách khám vú như sau:

Bạn hãy đứng trước gương, cởi trần tới ngang thắt lưng và quan sát kỹ càng mỗi vú. Bạn giơ cánh tay vắt lên đầu và quay nghiêng hết bên này tới bên kia để có thể trông thấy đường nét vú khi đứng nghiêng. Bạn hãy kiểm tra xem da có bất cứ chỗ nào lún xuống hay nhăn lại không. Kiểm tra kỹ càng hai núm vú xem có tiết ra dịch gì không, hoặc có biến đổi kích cỡ, mầu sách hay hình dáng không.

Hãy chống nạnh hai tai bạn lên hai bên hông hoặc đặt hai bàn tay lên phần ngực trên và ép hai bàn tay vào ngực để làm giãn các cơ ngực và nghiêng mình về phía trước.

Kế đến, bạn nằm xuống trên một mặt phẳng, kê gối cho vai bên vú bạn đang khám hơi cao hơn bên kia một chút. Dùng lòng bàn tay và các ngón tay duỗi thẳng, bạn hãy nhẹ nhàng khám rìa ngoài vú, di chuyển bàn tay theo chiều kim đồng hồ (bàn tay bên phải xoa nắn thai vú bên trái). Cánh tay bên kia thả lỏng bên bạn. Sử dụng lòng bàn tay và các ngón duỗi thẳng (để thăm khám).

Để khám vòng trong vú, bạn hãy giơ bên cánh tay không dự dụng tới lên trên đầu. Bạn hãy sờ nắn vùng dọc theo phần trên xương đòn gánh và cả trong nách nữa. Lập lại cách làm nhu vậy cho vú bên kia.

Trong trường hợp vú của bạn rất lớn, bạn hãy sử dụng cả hai tay – một bàn tay bên dưới để nâng vú lên trong khi bàn tay bên kia khám diện tích bên trên. Đổi tay để sờ nắn diện tích bên dưới.

CHẨN ĐOÁN UNG THU VÚ

Đầu tiên bạn có thể gặp bác sỹ riêng của mình (bác sĩ gia đình) để thăm khám vú. Nếu như bác sĩ riêng của bạn không biết chắc vấn đề mà bạn đang gặp phải là gì, bạn sẽ được giới thiệu đến bệnh viện để nhận được các lời khuyên của người có chuyên môn hoặc sự chữa trị phù hợp.

Tại bệnh viện, bác sĩ sẽ xem xét bệnh sử của bạn trước khi tiến hành khám. Họ sẽ kiểm tra vú của bạn và tìm kiếm bất cứ tuyến bạch huyết nào lớn tại hốc nách và cổ của bạn.

Các xét nghiệm sau đây có thể được thực hiện để chuẩn đoán ung thư vú. Bạn có thể thực hiện 1 hoặc 2 hoặc tất cả các xét nghiệm. Sẽ tốt hơn nếu như một người bạn hoặc một người họ hàng cùng đi với bạn làm các xét nghiệm hoặc nhận kết quả xét nghiệm.

Chụp Nhũ ảnh

Nhũ ảnh là việc chụp các mô vú bằng tia X quang với lượng chiếu xạ thấp. Bạn sẽ cần phải cởi áo ngoài và cả áo lót. Nhân viên chụp X quang sẽ chỉnh tư thế của bạn sao cho vú của bạn được đặt trên một máy tia X, sau đó được ép một cách nhẹ nhàng và dứt khoát bằng một tấm nhựa trong và phẳng.

Các mô vú cần phải được nén (ép) để giữ vú nằm nguyên tại vị trí và có thể chụp được một tấm ảnh rõ nét. Hầu hết phụ nữ thấy điều này gây sự khó chịu và đối với một số người thì gây đau một chút. Bạn sẽ cần đứng yên trong vòng 1 phút khi đang chụp phim.

Nhũ ảnh được áp dụng đối với phụ nữ trên 35 tuổi. Ở những phụ nữ trẻ hơn, mô vú khá dầy nên khó phát hiện ra bất cứ thay đổi nào trên nhũ ảnh.

Siêu âm

Siêu âm được áp dụng để kiểm tra xem một khối u là đặc hay chứa dịch lỏng (một nang). Phương pháp này được áp dụng đối với những phụ nữ dưới 35 tuổi.

Một loại gel đặc biệt được bôi lên vú và một thiết bị nhỏ, phát ra sóng âm, được lăn qua khu vực cần kiểm tra. Bước sóng dội lại được chuyển thành một hình ảnh mô vú thông qua một máy tính.

Phương pháp kiểm tra này không gây đau và chỉ thực hiện trong vài phút.

Siêu âm mầu Doppler

Một máy siêu âm mầu Doppler có thể giúp nhìn thấy sự cung cấp máu cho khối u. Máu được cung cấp khối u được biểu thị bằng những điểm mầu đỏ hoặc mầu xanh trên màn hình và các đường lưu lượng máu có thể giúp phát hiện sự khác nhau giữa một khối u ung thư và lành tính.

Sinh thiết bằng kim (nhân của khối u)

Sinh thiết bằng kim (nhân của khối u) nghĩa là việc sử dụng kim tiêm để lấy một mẫu mô từ khối u hoặc khu vực bất thường.  Trước hết, thuốc gây tê cục bộ được tiêm vào vùng cần kiểm tra. Bạn có thể cảm thấy hơi tức hoặc có cảm giác chịu áp lực một lúc. Một vài sinh thiết có thể được thực hiện cùng một lúc.

Sau đó, mẫu sinh thiết sẽ được gửi đến phòng xét nghiệm để một nhà nghiên cứu bệnh học (một bác sĩ chuyên về chuẩn đoán bệnh thông qua việc xét nghiệm thế bào) xét nghiệm. Phụ thuộc vào số lượng sinh thiết được lấy, vú có thể thâm tím và hơi đau sau đó, và có thể mất một vài tuần thì hiện tượng này mới hết hoàn toàn.

Chọc hút bằng kim nhỏ

Chọc hút bằng kim nhỏ là một phương pháp nhanh, đơn giản, có thể được thực hiện tại các phòng khám dành cho bệnh nhân ngoại trú. Bằng việc sử dụng một kim tiêm nhỏ và ống tiêm, bác sỹ lấy một vài tế bào mẫu từ khối  u vú và gửi đến phòng xét nghiệm để kiểm tra xem có tế bào ung thư không. Vì vú khá nhậy cảm, việc chọc hút bằng kim có thể gây khó chịu và có thể làm cho vú bị thâm tím trong vòng một tuần.

Đôi khi (đặc biệt là nếu khối u nhỏ), phương pháp chọc hút bằng kim nhỏ có thể được thực hiện trong Khoa X quang. Bác sĩ sử dụng hướng dẫn từ kết quả chụp tia X quang hoặc siêu âm để đảm bảo kim tiêm lấy các tế bào tại đúng khu vực bất thường của vú.

Xét nghiệm máu

Bạn sẽ được lấy mẫu máu để kiểm tra sức khoẻ tổng thể, số lượng tế bào trong máu của bạn (đếm huyết cầu) và kiểm tra chức năng gan và thận. Mẫu máu của bạn cũng có thể được kiểm tra xem có chứa các hoá chất có khả năng sản sinh ra các tế bào ung thư không.

Sinh thiết bằng phẫu thuật

Toàn bộ khối u sẽ được cắt bỏ bằng gây tê cục bộ hoặc toàn phần, sau đó sẽ được gửi đến phòng xét nghiệm để kiểm tra dưới kính hiển vi. Điều này có nghĩa là bạn được phẫu thuật vào ban ngày và nghỉ qua đêm tại bệnh viện ở một số bệnh viện.

Nếu như một khối u quá nhỏ để có thể cảm nhận bằng tay, nhưng lại được phát hiện ra trên nhũ đồ hoặc siêu âm, bác sĩ X quang cần phải đánh dấu khu vực này cho bác sĩ phẫu thuật. Việc này được thực hiện bằng việc luồn một dây kim loại cực nhỏ (dây định hướng) bên dưới khu vực đã được gây tê cục bộ, có sử dụng hướng dẫn từ kết quả chụp X quang hoặc siêu âm. Phương pháp này được gọi là định vị bằng dây kim loại.

Nhiều bệnh viện có phòng khám ung thư vú “một cửa”. Điều này có nghĩa là bạn có thể thực hiện tất cả các xét nghiệm cần thiết và nhận được một vài kết quả xét nghiệm trong cùng một ngày. Việc đợi lấy kết quả có thể mất nhiều thời gian hơn ở các bệnh viện khác. Bạn có thể cảm thấy lo lắng trong giai đoạn chờ đợi này nên hãy tâm sự với người bạn đời, bạn thân, họ hàng, y tá chuyên về các bệnh về vú, nhà tư vấn hoặc một tổ chức.

CÁC GIAI ĐOẠN VÀ CẤP ĐỘ CỦA UNG THƯ VÚ

Giai đoạn

Giai đoạn ung thư biểu hiện kích cỡ khối u và sự di căn của ung thư. Hiểu biết về phạm vi và cấp độ ung thư (xem bên dưới) giúp bác sĩ quyết định phương pháp điều trị phù hợp nhất.

Hệ thống phân giai đoạn phổ biến được dùng cho ung thư vú được mô tả như sau:

Giai đoạn 0 (ung thư  tại chỗ)

Carcinoma ống dẫn sữa tại chỗ (Ductal carcinoma in situ -DCIS). DCIS được hiểu là giai đoạn mà các tế bào ung thư vú hoàn toàn nằm trong ống dẫn sữa (các ống nằm trong vú, có nhiệm vụ mang sữa đến đầu vú), và chưa xâm lấn sang các mô vú xung quanh. Hiện tượng này còn được gọi là ung thư  không xâm lấn hoặc tại chỗ,  vì tế bào ung thư vẫn chưa xâm lấn sang các mô vú xung quanh và do đó không xâm lấn sang bất cứ phần cơ thể nào. DCIS có thể chữa khỏi hoàn toàn.

Carcinoma tiểu thuỳ tại chỗ  (LCIS) có nghĩa là các tế bào ung thư được tìm thấy trong lớp lót của tiểu thuỳ vú. Hiện tượng này có thể xuất hiện ở cả hai vú và cũng được gọi là ung thư không xâm lấn vì chưa xâm lấn sang các mô vú xung quanh.

Các giai đoạn ung thư vú sau đây được hiểu là ung thư vú thể xâm lấn.

Giai đoạn 1 Khối u nhỏ hơn 2cm. Các tuyến bạch huyết ở nách chưa bị ảnh hưởng và không có dấu hiệu ung thư đã di căn sang bất cứ nơi nào trên cơ thể.

Giai đoạn 2 Khối u có kích cỡ trong khoảng từ 2 đến 5cm, hoặc tuyến bạch huyết ở một hoặc cả hai nách đã bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, không có các dấu hiệu cho thấy ung thư đã di căn xa hơn.

Giai đoạn 3 Khối u lớn hơn 5cm và có thể bám vào các cấu trúc xung quanh như cơ hoặc da. Tuyến bạch huyết thường bị ảnh hưởng, nhưng không có dấu hiệu cho thấy ung thư đã di căn ra ngoài phạm vi của vú hoặc tuyến bạch huyết ở nách.

Giai đoạn 4 Khối u với bất kỳ kích cỡ nào, nhưng tuyến bạch huyết thường bị ảnh hưởng và ung thư đã di căn sang các bộ phận khác của cơ thể. Đây là ung thư vú di căn hoặc thứ phát.

Ung thư vú tái xuất hiện sau lần chữa trị đầu tiên được gọi là ung thư vú tái phát.

Cấp độ

Cấp độ ung thư được hiểu là sự xuất hiện của các tế bào ung thư dưới kính hiển vi. Cấp độ ung thư cho ta biết ung thư có thể phát triển nhanh như thế nào. Có 3 cấp độ: cấp độ 1 (Cấp thấp), cấp độ 2 (cấp vừa phải hoặc cấp trung) và cấp độ 3 (cấp cao). Cấp thấp có nghĩa là các tế bào ung thư nhìn rất giống với các tế bào thường. Chúng thường phát triển chậm và ít khi xâm lấn. Đối với các khối u cấp cao, các tế bào nhìn rất bất thường. Chúng có thể phát triển nhanh hơn và xâm lấn nhiều hơn.

Nguồn: CancerBACUP